Tôi sắp kể ra đây một câu chuyện thật mà một số người và chính tôi đã chứng kiến bằng mắt mình. Nguyện sự vinh hiển thuộc về Chúa. Vào một trưa hè tại Hội thánh Hồng Ngự, cách đây rất nhiều năm, ngày ấy tôi độ khoảng 8 hay 9 tuổi gì đó thôi nhưng tôi nhớ như in vì câu chuyện quá lạ lùng đã khắc sâu vào tâm trí tôi. Hồng Ngự là Hội thánh thứ ba mà cha tôi, một mục sư trẻ, đến hầu việc Chúa. Lúc ấy nhà thờ Hồng Ngự còn là nhà sàn bằng cây ván bên cạnh sân banh. Tư thất mục sư tiếp nối ở phía sau tòa giảng, được ngăn ra cũng bằng vách ván. Trưa ấy, một bà cụ đến tìm xin nước thánh để về chữa bệnh cho con gái của bà.Con bà điên loạn vì bị quỷ ám, nhiều ngày chẳng ăn uống được gì. Cha tôi đã cắt nghĩa cho bà cụ biết hội thánh Tin Lành không có nước thánh và nước thánh cũng không thể chữa lành cho con bà được, chỉ có quyền năng Chúa mà thôi. Cha tôi bảo nếu bà tin thì hãy đem con gái đến. Bà cụ tin và hứa sẽ trở về đem con gái mình đến nhà thờ liền.
Trong khi chờ đợi, cha tôi đọc Kinh Thánh rồi vào phòng riêng buông màn xuống cầu nguyện với Chúa. Một lúc sau từ xa có một đoàn người rất đông đi tới. Quỷ dữ đã hành hại người đàn bà trạc 30 tuổi một cách khổ sở. Đầu bà đội chiếc quần đen, hai ống cột lại với nhau ở dưới cầm, la hét khan cả cổ, có lúc đi, có lúc thì lăn tròn xuống con đường đất trải đá, rồi có lúc đứng lên vừa đi vừa múa may quay cuồng. Thật lạ, vừa bước chân lên chiếc cầu ván để vào sân nhà thờ, bà Mướp (tên người đàn bà) bỗng đi đứng lại đàng hoàng và có vẻ khép nép, hiền dịu nữa. Họ đi vào bên hông nhà thờ, nơi một bên là tòa giảng, một bên là cửa tư thất (nhà của gia đình mục sư ở). Lúc đó mẹ tôi đã đóng cửa tư thất, giữ ba con nhỏ bên trong. Tuy vậy chúng tôi đều háo hức cố tìm kẻ vách ván để ghé mắt nhìn xem chuyện gì xảy ra bên ngoài và đã chứng kiến cảnh tượng thật lạ lùng.
Vào đến nơi bà Mướp sợ sệt cất giọng run rẩy:
- Cha ơi con sợ cha lắm cha ơi….
Cha của tôi nghiêm giọng ra lệnh (cho quỷ ở trong bà):
- Quỳ gối xuống,bỏ cái gì trên đầu ra, khoanh tay, nhắm mắt lại.
Bà Mướp làm theo. Cha tôi cầm quyển Kinh Thánh để ở trên đầu bà và nói:
- Nhân danh Chúa Giê Xu tôi đuổi quỷ ra khỏi người nầy!
Bà Mướp đã nhảy vọt lên một cái thật cao rồi té rầm xuống sàn ván. Nghe đến danh Chúa Giê Xu quỷ đã phóng ra khỏi, vật người đàn bà ngã nằm dài thảm thương. Dân chúng sợ hãi bỏ chạy tán loạn ra đường. Cha tôi đỡ bà dậy, cho bà ngồi lên ghế nghỉ mệt rồi khởi sự cắt nghĩa đạo. Bà Mướp chăm chú nghe và cuối cùng bằng lòng tiếp nhận Chúa Giê Xu làm Cứu Chúa của đời sống mình. Một lần nữa bà quỳ xuống để cha tôi cầu nguyện cho. Lần nầy chính bà quỳ gối trước Chúa chứ không phải quỷ trong bà run rẩy quỳ. Theo lời dặn dò trước thật chu đáo của cha tôi, mẹ tôi đã nấu sẵn cháo vì biết bà mấy ngày nay không ăn uống gì. Bà Mướp dùng cháo rồi ra về với người mẹ già trong sự sững sờ của mọi người.
Từ đó chúng tôi thấy bà Mướp rất trung tín đến Hội thánh để thờ phương Chúa đều đặn mỗi Chúa nhật. Từ đó niềm tin vào quyền năng Chúa trong tôi đã lớn lên thật vững chắc.Tôi biết rằng thế gian có một quyền lực tối tăm rất mạnh mẽ, đáng sợ, nhưng tôi cũng tin rằng Chúa mà mình đang thờ phượng có năng lực trỗi hơn gấp vạn lần. Quyền lực của sự tối tăm phải bị khuất phục trước danh quyền năng cao cả của Chúa Giê Xu.
Cảm tạ Chúa vì con có Ngài. Thật phước hạnh cho đời con vì được sống, trông cậy vào Quyền Năng Tuyệt Đối ấy trong thân xác hay hư nát nầy. Amen.
Người Thầm Lặng
http://www.songdaoonline.com/?com=vuonedenmoi&mod=news&news=9
Đọc thêm!
Kính lạy Đức Chúa Trời! Con nhận biết con là người có tội cần được sự tha thứ. Con tin chắc rằng Đức Chúa Giê-su đã giáng thế, sống một cuộc đời hoàn hảo, và chịu chết đền tội cho con trên thập tự giá, Ngài cũng đã sống lại để con được sự sống vĩnh cửu. Con xin ăn năn mọi tội lỗi và đặt lòng tin nơi Chúa ngay giờ này. Con xin Chúa ngự vào lòng con để hướng dẫn con trên bước đường theo Chúa. Con tạ ơn Chúa và cầu nguyện nhân danh Đức Chúa Cứu Thế Giê-su. Amen.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lời chứng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lời chứng. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Bảy, 11 tháng 2, 2012
Thứ Sáu, 10 tháng 2, 2012
Quyền Năng Chúa Đuổi Tà Linh
Người làm chứng: Nguyễn Thị Quyên
Anh chị Nguyễn Hoàng Minh hiện là thuộc viên của Hội Thánh Tin lành Báp Tit Thiên Ân tại Seattle-Washington, là một gia đình Cơ đốc tốt, hiện anh đang làm việc cho hội World Vision, chị làm việc trong bệnh viện. Anh chị có hai con gái, 8 tuổi và 5 tuổi. Sau đây là lời chứng của Chị Nguyễn Thị Quyên vợ anh Minh.Khi tôi còn thơ ấu, tôi chưa hiểu cuộc đời mình như thế nào, và khi đến mười tuổi, tôi mới được biết là mình không có cha mẹ. Nghe hàng xóm kể lại, cha tôi là một quân nhân Mỹ, đã từng phục vụ tại Việt nam, mẹ tôi là người Việt. Khi sanh tôi ra, bà quá túng quẫn, nghèo khổ, không có tiền để nuôi tôi, bà đành gửi tôi cho một người cùng quê, và khi nào có tiền, bà sẽ chuộc tôi lại. Người đàn bà nhận tôi lại đem tôi cho con trai của bà, người đàn ông này có tên gọi là Ông Sáu. Ông Sáu có một vợ và bốn đứa con, khi ông nhận tôi nên tôi trở thành đứa con thứ năm. Tuy là một người giàu có, có nhiều đất đai, thu nhiều hoa lợi, nhưng tôi sống trong gia đình Ông thật rất khổ sở. Ăn uống không no, không được tự do, và bị ganh ghét bởi các anh chị trong gia đình, bởi tôi là một đứa con nuôi.
Tôi nhớ một ngày kia, bà Sáu và tôi đi giặt áo quần cho gia đình. Sau khi giặt xong, bà không cho tôi phơi quần áo của tôi chung với áo quần của con bà, với lí do tôi không phải là con ruột của bà. Tôi đành phơi quần áo của tôi trên hàng rào dây kẽm gai. Một lúc sau,trời bỗng đổ mưa, tôi chạy ra rút vội áo quần của tôi vì sợ ướt thì chiều đó sẽ không có đồ thay, bởi tôi chỉ có hai bộ đồ mà thôi. Vì rút vột, áo quần tôi bị dây kẽm gai móc rách, nên chiều đó tôi đã bị một trận đòn chí tử.
Ông sáu là một người tàn ác, ông coi tôi như một vật trò chơi giải trí. Tự nhiên ông bảo tôi cười, thì tôi phải cười, bảo tôi khóc thì tôi phải khóc. Nếu không làm theo, tôi sẽ bị đánh đòn tàn nhẫn. Khi tôi 12 tuổi, ông Sáu đã quăng tôi xuống sông. Sau khi tôi uống nước, ông kéo tôi lên rồi lại quăng tôi xuống nước. Rồi liên tục làm mấy lần như thế. Lần chót, ông quăng tôi xuống một chỗ có nước rất sâu. Tôi không biết bơi, nghĩ rằng mình sẽ chết, nhưng sau đó một bà hàng xóm đã với tôi lên. Bà này ngày nay là mẹ chồng của tôi.
Khi ở nhà ông Sáu, tôi không được đi học, nên tôi không biết một chữ nào. Gia đình ông Sáu viện lí do là sợ biết chữ thì tôi sẽ viết thư tình, liên lạc với trai...Sống trong gia đình này, dù nhỏ tuổi, tôi cũng phải làm nhiều việc rất nặng nhọc như làm cỏ, nhổ mạ, cấy lúa, cuốc đất..Tôi không lo sợ cực nhọc vì công việc, nhưng điều tôi sợ là bị người ta đánh đập. Một thời gian sau,gia đình ông Sáu dọn ra ở riêng, và tôi được đưa về chăm sóc và làm việc với mẹ của ông Sáu và tôi gọi bà là bà nội. Nơi đây tôi vẫn phải làm lụng một cách cực nhọc và khổ sở như thường. Nhất là khi các người con cháu của bà về thăm, tôi nhận thấy sự kì thị rõ rệt. Họ nói với tôi rằng: "vì mày không phải là con của ba tao, không phải là cháu của bà tao", làm tôi tủi thân và buồn khổ nhiều.
Đến khi 17 tuổi, tôi được người ta chuẩn bị giấy tờ, và đổi tên tôi lại để đi Mỹ với người con trai thứ bảy của bà nội theo diện con lai. Tên tôi là Nguyễn Thị Quyên, bị đổi thành tên là Phan Kim Phượng, là tên người con gái của gia đình sẽ cùng đi Mỹ với tôi. Phượng đã chết từ lúc nhỏ, gia đình muốn hợp lệ việc giấy tờ, nên đã đổi toàn bộ tên tuổi, ngày tháng năm sinh của tôi sang giống như của cô Phượng đã qua đời.
Đến Phi-líp-pin, trong thời gian học tiếng Anh để chuẩn bị nhập nội Hoa Kì,tôi ở với gia đình ông Bảy, nhiều đêm đắng cay, đau khổ vì bị mắng nhiếc, chửi rủa, nào là “..mày là đồ ngu dốt, không biết chữ thì đi Hoa Kì biết gì mà làm ăn..”.
Lúc này Chúa đã đưa tôi càng gần Ngài hơn nhưng tôi không biết. Chúa cho tôi gặp được một một người bạn gái sống chung cùng chung cư cao tầng, và cô mời tôi đi nhà thờ. Khi đến nhà thờ, tôi thấy người ta nhìn vào thánh ca hát một cách rất vui vẻ và nhìn vào Kinh Thánh đọc lời Chúa một cách hớn hở , lòng tôi thầm ao ước. Cô bạn đưa cho tôi quyển Thánh ca, tôi hổ thẹn và mặc cảm vì mình không biết đọc chữ. Tôi cố gắng tiếp tục đi nhà thờ và sau đó có lớp học giáo lý để làm lễ báp têm. Theo thường lệ,các học viên phải học thuộc một số câu Kinh Thánh trước khi được làm lễ báp têm, và sau đó sẽ nhận được một quyển Kinh Thánh.
Tôi đem các câu Kinh Thánh về phòng, nhưng không biết làm thế nào để đọc được, nên phải nhờ người bạn khác đọc giùm. Tôi phải nhớ lời đọc đó và học thuôc lòng để trả bài cho Mục sư. Sau đó tôi nhận được một cuốn Kinh Thánh và tập về sự cầu nguyện. Niềm ao ước lớn nhất của tôi lúc bấy giờ là Chúa cho tôi biết đọc được Việt ngữ để hiểu được Kinh Thánh. Chúa đã nhậm lời. Ba tuần sau tôi đi nhà thờ và đọc được chữ “Hội Thánh Tin Lành”. Tôi e ngại mình đọc sai nên viết lại và đem về nhà hỏi các bạn. Họ nói rằng tôi đọc đúng và sẽ giúp tôi học thêm, nhưng rồi họ cũng phải đi định cư ở Mỹ,nên tôi phải tự học và tôi đã đọc được một cách trôi chảy. Ngày nay bốn chữ: "Hội Thánh Tin Lành” là kỉ niệm đẹp và đáng nhớ trong cuộc đời của tôi.
Khi đến Mỹ,gia đình ghép tên với tôi không cho tôi ở với gia đình họ nữa. Họ đuổi tôi ra khỏi nhà, và tôi đã phải đi vào viện mồ côi, ở chung với những đứa trẻ bụi đời, phá phách, hư hỏng. Ở đây thật kinh hoàng. Tôi cầu nguyện xin Chúa đem tôi ra khỏi nơi này, và Chúa đã nhậm lời. Có một Ông Mục sư đến thăm, tôi liên lạc với Ông xin ra khỏi cô nhi viện, và người ta đã gửi tôi vào một gia đình thuộc Hội Cha Mẹ Nuôi. Gia đình không tin Chúa nên thường không vui khi tôi đi nhà thờ. Tuy nhiên tại đây tôi được tiếp tục đến trường học.
Từ một người chưa từng đi học tại Việt nam, mà nay tôi phải vào học lớp 9, vì các trường của Hoa Kì căn cứ vào tuổi để xếp lớp. Với sự khác biệt về ngôn ngữ và không có căn bản của những năm học trước, nên tôi rất vất vất vả trong việc học. Tôi cầu nguyện rất nhiều xin Chúa giúp đỡ. Các môn học cần thiết, căn bản lúc đầu hơi quờ quạng, nhưng sau đó Chúa cho đạt kết quả tốt, điểm cao,không bị ở lại lớp và tốt nghiệp được trung học theo dự định của nhà trường. Tôi thật vui mừng cảm ơn Chúa. Xong trung học, tôi ra khỏi sự giứp đỡ của Hội Cha Mẹ Nuôi, và lập gia đình với anh Nguyễn Hoàng Minh, một thanh niên yêu mến Chúa tại Hội Thánh Tin Lành Báp Tít Thiên Ân. Chúa cho gia đình tôi sống hạnh phúc, vui vẻ và mỗi tuần được đi nhà thờ thờ phượng Chúa.
Ngày 31-10-1993,khi đang dự lễ Halloween tôi cảm thấy khó chịu, đau đầu và không biết gì nữa. Nghe chồng tôi kể lại, thì lúc đó tôi nằm và nói một mình với giọng nói và điệu bộ khác thường. Anh Minh chồng tôi đã gọi điện thoại cho Ông Mục sư Nguyễn Hữu Trang vào lúc 3h:30 sáng,mời Ông đến cầu nguyện cho tôi. Vì không biết nhà Ông đã nhờ chị Mỹ Dung, một người bạn, dẫn đường đến nhà của tôi. Chồng tôi cho Mục sư biết thứ bảy vừa qua, khi chúng tôi đi dự lễ bồi linh do Liên bang Cơ đốc tổ chức tại Tacoma,WA. Khi về nhà, tôi đâm ra nói lãng, mắt bất thần, những lời do miệng tôi nói nhưng không phải là của tôi, mà của một người nào khác. Mục sư, chồng tôi và chị Dung cùng cầu nguyện, mắt tôi vẫn mở trừng trừng ra vẻ giận dữ và lắc đầu. Khi Mục sư nhân danh Chúa Jesus đuổi quỷ ra khỏi tôi, một giọng nói ra từ miệng tôi phát ra:“Tôi không đi đâu”. Mục sư lấy Kinh Thánh ra đọc trong sách Luca 8:26-39, nói về người Giê-ra-sê bị quỷ quân đội ám. Tôi trợn mắt, bịt tai không muốn nghe. Đọc xong khúc Kinh Thánh Mục sư hỏi: “ngươi tên gì?, một giọng nói ra từ miệng tôi phát ra: “Không có tên!”. Mục sư tiếp tục cầu nguyện cho tôi, Ông nhân danh Chúa Jesus ở Na-xa-rét ra lệnh cho tà linh phải ra khỏi tôi. Quỷ trong tôi tỏ vẻ phản đối, không chịu ra và tiếp tục nói nhảm. Chị Dung đề nghị mời thêm Ông bà Skip-Bell người Mỹ, là trưởng lão và chấp sự của Hội Thánh, đến tiếp tay cầu nguyện. Khi ông bà Skip đến, cả năm người (MS, ông bà Skip, chị Dung và chồng tôi) thay phiên nhau cầu nguyện cho tôi. Mục sư hướng dẫn tôi cầu nguyện. Khi tôi nói đến câu: “Nhơn danh Chúa Jesus ra lệnh cho tà linh hãy ra khỏi ta”, thì quỷ khiến tôi nghiến răng và lấy tay bịt miệng, không cho tôi nói. Mục sư tiếp tục cầu nguyện, quỷ vẫn chưa ra. Sau hai giờ cầu nguyện, ông bà Skip đã mệt. Mục sư đề nghị ông bà Skip về trước.
Tôi không nhớ tà linh đã nói gì với tôi, nhưng theo chồng tôi kể lại là tôi đã nói một mình rằng: “Chị cho em thấy mẹ em”. Sau đó tôi kêu lên: “mẹ ơi! mẹ ơi!”rồi tôi ôm chồng tôi và khóc. Khi đó Mục sư giải thích với tôi rằng đó không phải là mẹ thật của tôi đâu, ma quỷ lừa dối, vì nếu mẹ tôi còn sống thì bây giờ có lẽ ở Việt nam. Còn nếu đã chết thì đã về một nơi mà Chúa đã định sẵn và không về lại được. Đừng tin lời lừa bịp của ma quỷ.
Một lần nữa Mục sư giúp tôi cầu nguyện bằng cách lặp lại theo lời của ông. Lần này tôi đã cầu nguyện được một cách thông suốt và đã nói: “Nhơn danh Chúa Jesus đuổi tà linh quỷ dữ ra khỏi thân xác, tâm trí và linh hồn con..xin Chúa Thánh Linh chiếm hữu hoàn toàn đời sống của con”. Tôi nói: “Thôi chị ra đi, đừng tới đây nữa, đừng phá phách em nữa. Tôi tỉnh lại, trí óc mệt nhoài và còn đau đầu. Lúc ấy là 7h:30 phút sáng ngày chúa nhật. Chồng tôi muốn tôi đi nhà thờ cùng với Mục sư. Tôi vào phòng tắm thay đồ, sau đó tôi mở cửa ra để tà linh đi ra khỏi và tôi đóng cửa lại. Anh Minh chồng tôi đi làm ca đêm, không tiện để tôi ở nhà một mình, nên xin ông bà Skip cho tôi tạm trú nhờ một thời gian. Tại nhà ông bà Skip, tà linh lại nhập vào tôi. Nó dùng miệng tôi nói ra một điều bí mật, mà trước đây tôi ít muốn cho người khác biết. Tên tôi không phải là Phan Kim Phượng, mà là Nguyễn Thị Quyên. Phan Kim Phượng là tên của cô gái đã qua đời tại Việt nam khi còn bé. Cô Phượng đòi lại tên của cô ta, và nếu tôi trả lại tên cho cô ta, trong hai tuần sau tôi sẽ lành bịnh. Biết đây là sự thật, tôi và chồng tôi đồng ý trả tên lại. Chúng tôi mời Mục sư đến và ông cũng cho biết điều này và cũng cho người khác biết rằng tên tôi không phải là Phan Kim Phượng nữa, mà là Nguyễn Thị Quyên. Lúc này tôi vẫn còn nhức đầu và mất hẳn trí nhớ. Tôi như trẻ con một hai tuổi, chỉ nói được những câu ngắn, không hiểu được nhnữg câu nói dài, không nhận ra được ai cả. Các anh em, bạn hữu quen thân đến thăm, tôi không biết được tên của một người nào. Thấy thân thể tôi bình thường,nhưng lại đâu đầu và mất hết trí nhớ. Chồng tôi đem tôi đến bệnh viện Harborview, Seattle, WA. Tại đây bác sĩ không tìm ra được tôi có bệnh gì, nên cho tôi về.
Có một biến cố đối với tôi là thật, rõ ràng và quan trọng. Khi kể ra có lẽ bạn cho là khó tin. Nhưng dù bạn có tin hay không tin, tôi xin trình bày vì Chúa muốn tôi kể ra. Khi tôi bị bịnh, lúc còn tạm trú tại nhà ông bà Skip. Một đêm khuya, khoảng 12 đêm, tôi thấy Chúa hiện ra, Ngài đi vào các phòng, ông bà Skip đã ngủ. Chúa đã nói chuyện với tôi, và cho tôi biết tôi sẽ lành bịnh. Ngài bảo tôi đừng lo sợ và hãy an tâm. Hãy nói với Mục sư rằng con sẽ lành bịnh, để ông khỏi lo lắng. Chúa cõng tôi đi trên một vùng trời đầy mưa. Tôi nói với Chúa rằng mưa quá Chúa ơi. Chúa bảo đừng sợ, rồi Ngài đưa tay ra, mưa bèn dứt. Tôi muốn lưu Chúa ở lại, nhưng Ngài từ chối và bảo rằng Ngài bận đi chưa bịnh cho nhiều người khác. Khi Chúa đi rồi, anh Minh chồng tôi lúc đó còn thức, đã nghe được những câu nói của tôi, đã xác nhận tôi đã nói chuyện với một người xưng là Chúa. Chồng tôi chỉ nghe lời tôi nói mà thôi, giống như một người nghe người khác nói chuyện qua điện thoại. Với sự hiện ra của Chúa này, đã giúp tôi giải đáp một câu hỏi lớn, là tại sao cuộc đời tôi từ nhỏ đến lớn không làm điều ác đức nào lại gặp quá nhiều khổ nạn, đau buồn. Tà linh xâm nhập vào tôi, nhưng Chúa thương tôi, Ngài chăm sóc tôi và quyền năng của Chúa mạnh hơn nó, đã đuổi nó ra khỏi tôi. Tôi cảm ơn Ngài.
Ông bà Skip phải đi xa, chồng tôi đi làm đêm, tôi không thể ở nhà một mình. Ông bà Mục sư Nguyễn Hữu Trang đã cho tôi về tạm trú tại nhà ông bà. Tại đây mỗi ngày, Mục sư cầu nguyện cho tôi và khuyến khích tôi đọc Kinh Thánh và cầu nguyện. Trí nhớ tôi vẫn chưa bình phục, giống như em bé. Ai hỏi tôi mấy tuổi, tôi liền trả lời bốn tuổi. Chỉ biết tên những người trong nhà, ngoài ra không nhớ, không biết ai nữa. Không biết sợ lửa, không biết sử dụng dao, kéo và các vật dụng bén nhọn khác. Cái gì tôi cũng có thể bỏ vào miệng và nuốt cả. Không phân biệt được cái gì là nguy hiểm, độc địa. Vài tuần sau tôi khỏi dần, nhưng ma quỷ vẫn chưa buông tha tôi và muốn làm hại tôi.
Một buổi trưa nọ, tại nhà Ông Mục sư, chồng tôi làm ca đem nên vẫn còn ngủ. Cả nhà đi vắng, tôi thấy có ba, bốn người đến rũ tôi đi chơi. Họ nói trong trí và tôi đã nghe theo. Đang mặc đồ ngủ trong nhà. Mở cửa sau, tôi bước xuống đường cùng đi với họ. Họ dẫn tôi đi ngất nga ngất ngưỡng ngoài đường, họ xúi tôi đến thùng thư bên đường và lấy thư quăng bỏ đi, tôi không làm theo. Họ dẫn tôi vào một cửa tiệm Seven Eleven, xúi tôi bốc kẹo trong quầy hàng, bóc ra ăn, người bán hàng không cho. Tôi vừa đi vừa lẩm nhẫm như nói chuyện với người nào. Họ dẫn tôi đến xa lộ 509, đây là một xa lộ rất đông đúc xe cộ vào buổi chiều thứ sáu. Tôi bước vào xa lộ không chút do dự, không sợ hãi, đi nghênh ngang giữa đường. Tất cả xe cộ đang chạy dập dìu đều thắng lại, có nhiều chiếc phải lách bên trái, bên phải làm tình trạng trở nên hổn loạn,còi xe kêu inh ỏi. Tại đây những tà linh biến mất, tôi thấy mình trơ trọi giữa xa lộ kinh hoàng. Cảnh sát đến hướng dẫn xe và đưa tôi vào lề đường. Bây giờ trí óc tôi đã trở lại bình thường, và tà linh đã đi khỏi. Tôi tìm đường đi bộ về nhà chị của chồng tôi cách đó chừng bốn dặm. Nhà không có ai, tôi ngồi trước cửa. Nhìn xuống chân mình thấy chảy máu, vì tôi không mang giày. Tôi lạnh run lên, vì không mặc áo ấm giữa mùa đông giá buốt ở vùng Tây bắc Hoa kỳ
Chồng tôi khi thức dậy,không thấy tôi nên đi tìm,nhưng không thấy tôi ở đâu, bèn nhờ cảnh sát tìm giúp. Sau đó chồng tôi đến nhà người chị và gặp tôi, anh đem tôi trở về nhà ông bà Mục sư. Ông Mục sư cầu nguyện xin Chúa bảo vệ tôi, và dặn tôi khi có ai đến rũ tôi đi, thì hãy cầu nguyện nhơn danh Chúa Jesus đuổi nó lui khỏi. Tôi đã làm theo, quỷ không rũ tôi đi nữa.
Vào ngày thứ tư, 10/11/1993,sau khi đi thăm một người bạn, về nhà tôi cảm thấy hơi đau đầu. Tôi vào phòng riêng thay đồ và lấy Kinh Thánh ra đọc. Đang lúc đọc Kinh Thánh, tôi thấy tối đen,giống như một chiếc áo từ đâu bay đến phủ cả đầu tôi. Tôi đau đầu kinh khủng, tôi ôm đầu và la lên. Từ đó tôi không biết gì nữa. Sau này một anh thanh niên tên Hòa sống trong nhà và Mục sư kể lại rằng: Khi Mục sư đang chuẩn bị đi thăm một gia đình ở Federal Way, WA, Mục sư phải hoãn lại và dìu tôi vào phòng khách. Tại đây Ông và anh Hòa cầu nguyện, nhân danh Chúa Jesus ra lệnh tà linh ra khỏi tôi. Quỷ nói với tôi, nếu không cho nó nhập vào, nó sẽ giết chết chồng tôi đang ở xưỡng làm, và giết chết bà Mục sư đang trên xa lộ về. Tôi không muốn cho nó nhập vào, cũng không nó làm hại chồng tôi và bà Mục sư, là người tôi yêu mến. Tôi la lên: “Đừng hại anh Minh, đừng giết bà Mục sư”. Mục sư nghe thế liền trấn an: “Không ai có quyền hại một tín hữu, một con cái của Chúa. Vì chính Chúa sẽ sai thiên sứ của Ngài bảo vệ, gìn giữ họ. Không ai có quyền hại Minh và nhà tôi, vì họ thuộc về Chúa Jesus. Thánh Linh Chúa và Thiên sứ của Ngài sẽ bảo che và dẫn dắt họ bình an,con đừng sợ”. Mục sư cùng các anh em tín hữu khác như anh Thảo, anh Hòa cầu nguyện, hát thánh ca số 309, ca ngợi quyền năng huyết báu Chúa Jesus, hát ha-lê-lu-gia và nhân danh Chúa Jesus đuổi quỷ ra lần nữa. Lần này quỷ ra khỏi. Tôi tỉnh lại, cùng với Mục sư cùng các anh em hát mạnh hơn và vui mừng vì Chúa đã cứu mình thoát khỏi sự xâm nhập của tà linh.
Một thời gian ngắn ở tạm nhà Ông Mục sư, trí nhớ tôi lần lần phục hồi. Ông bà Mục sư mỗi ngày nói chuyện với tôi, gợi cho tôi nhớ lại, khích lệ tôi, kể những việc đã xảy ra từ khi tôi còn bé cho đến khi lớn khôn. Tôi nghe nhạc Thánh ca, được khuyến khích đọc Kinh Thánh, cầu nguyện thường xuyên, tâm trí tôi trở lại bình thường.
Vợ chồng tôi dọn ra ở một căn hộ khác. Ngày nay, Chúa cho chúng tôi khỏe mạnh, bình an, vui vẻ, và tôi đã đi làm trở lại. Mỗi tuần đi nhà thờ thờ phượng Chúa, tham gia vào ban hát lễ ca ngợi Ngài.
Thưa các bạn, Chúa Jesus thật kì diệu quá cho tôi. Tôi không đủ ngôn từ để ca ngợi và cảm ơn Ngài. Tôi xin viết lời làm chứng này để bày tỏ tấm lòng biết ơn Chúa và giới thiệu Chúa cho các bạn. Chúa đã làm một việc lớn cho đời sống tôi, Ngài có thể làm cho bạn. Mong bạn đến với Ngài.
http://www.mytnpa.org/index.php?option=com_content&task=view&id=600&Itemid=41 Đọc thêm!
Anh chị Nguyễn Hoàng Minh hiện là thuộc viên của Hội Thánh Tin lành Báp Tit Thiên Ân tại Seattle-Washington, là một gia đình Cơ đốc tốt, hiện anh đang làm việc cho hội World Vision, chị làm việc trong bệnh viện. Anh chị có hai con gái, 8 tuổi và 5 tuổi. Sau đây là lời chứng của Chị Nguyễn Thị Quyên vợ anh Minh.Khi tôi còn thơ ấu, tôi chưa hiểu cuộc đời mình như thế nào, và khi đến mười tuổi, tôi mới được biết là mình không có cha mẹ. Nghe hàng xóm kể lại, cha tôi là một quân nhân Mỹ, đã từng phục vụ tại Việt nam, mẹ tôi là người Việt. Khi sanh tôi ra, bà quá túng quẫn, nghèo khổ, không có tiền để nuôi tôi, bà đành gửi tôi cho một người cùng quê, và khi nào có tiền, bà sẽ chuộc tôi lại. Người đàn bà nhận tôi lại đem tôi cho con trai của bà, người đàn ông này có tên gọi là Ông Sáu. Ông Sáu có một vợ và bốn đứa con, khi ông nhận tôi nên tôi trở thành đứa con thứ năm. Tuy là một người giàu có, có nhiều đất đai, thu nhiều hoa lợi, nhưng tôi sống trong gia đình Ông thật rất khổ sở. Ăn uống không no, không được tự do, và bị ganh ghét bởi các anh chị trong gia đình, bởi tôi là một đứa con nuôi.
Tôi nhớ một ngày kia, bà Sáu và tôi đi giặt áo quần cho gia đình. Sau khi giặt xong, bà không cho tôi phơi quần áo của tôi chung với áo quần của con bà, với lí do tôi không phải là con ruột của bà. Tôi đành phơi quần áo của tôi trên hàng rào dây kẽm gai. Một lúc sau,trời bỗng đổ mưa, tôi chạy ra rút vội áo quần của tôi vì sợ ướt thì chiều đó sẽ không có đồ thay, bởi tôi chỉ có hai bộ đồ mà thôi. Vì rút vột, áo quần tôi bị dây kẽm gai móc rách, nên chiều đó tôi đã bị một trận đòn chí tử.
Ông sáu là một người tàn ác, ông coi tôi như một vật trò chơi giải trí. Tự nhiên ông bảo tôi cười, thì tôi phải cười, bảo tôi khóc thì tôi phải khóc. Nếu không làm theo, tôi sẽ bị đánh đòn tàn nhẫn. Khi tôi 12 tuổi, ông Sáu đã quăng tôi xuống sông. Sau khi tôi uống nước, ông kéo tôi lên rồi lại quăng tôi xuống nước. Rồi liên tục làm mấy lần như thế. Lần chót, ông quăng tôi xuống một chỗ có nước rất sâu. Tôi không biết bơi, nghĩ rằng mình sẽ chết, nhưng sau đó một bà hàng xóm đã với tôi lên. Bà này ngày nay là mẹ chồng của tôi.
Khi ở nhà ông Sáu, tôi không được đi học, nên tôi không biết một chữ nào. Gia đình ông Sáu viện lí do là sợ biết chữ thì tôi sẽ viết thư tình, liên lạc với trai...Sống trong gia đình này, dù nhỏ tuổi, tôi cũng phải làm nhiều việc rất nặng nhọc như làm cỏ, nhổ mạ, cấy lúa, cuốc đất..Tôi không lo sợ cực nhọc vì công việc, nhưng điều tôi sợ là bị người ta đánh đập. Một thời gian sau,gia đình ông Sáu dọn ra ở riêng, và tôi được đưa về chăm sóc và làm việc với mẹ của ông Sáu và tôi gọi bà là bà nội. Nơi đây tôi vẫn phải làm lụng một cách cực nhọc và khổ sở như thường. Nhất là khi các người con cháu của bà về thăm, tôi nhận thấy sự kì thị rõ rệt. Họ nói với tôi rằng: "vì mày không phải là con của ba tao, không phải là cháu của bà tao", làm tôi tủi thân và buồn khổ nhiều.
Đến khi 17 tuổi, tôi được người ta chuẩn bị giấy tờ, và đổi tên tôi lại để đi Mỹ với người con trai thứ bảy của bà nội theo diện con lai. Tên tôi là Nguyễn Thị Quyên, bị đổi thành tên là Phan Kim Phượng, là tên người con gái của gia đình sẽ cùng đi Mỹ với tôi. Phượng đã chết từ lúc nhỏ, gia đình muốn hợp lệ việc giấy tờ, nên đã đổi toàn bộ tên tuổi, ngày tháng năm sinh của tôi sang giống như của cô Phượng đã qua đời.
Đến Phi-líp-pin, trong thời gian học tiếng Anh để chuẩn bị nhập nội Hoa Kì,tôi ở với gia đình ông Bảy, nhiều đêm đắng cay, đau khổ vì bị mắng nhiếc, chửi rủa, nào là “..mày là đồ ngu dốt, không biết chữ thì đi Hoa Kì biết gì mà làm ăn..”.
Lúc này Chúa đã đưa tôi càng gần Ngài hơn nhưng tôi không biết. Chúa cho tôi gặp được một một người bạn gái sống chung cùng chung cư cao tầng, và cô mời tôi đi nhà thờ. Khi đến nhà thờ, tôi thấy người ta nhìn vào thánh ca hát một cách rất vui vẻ và nhìn vào Kinh Thánh đọc lời Chúa một cách hớn hở , lòng tôi thầm ao ước. Cô bạn đưa cho tôi quyển Thánh ca, tôi hổ thẹn và mặc cảm vì mình không biết đọc chữ. Tôi cố gắng tiếp tục đi nhà thờ và sau đó có lớp học giáo lý để làm lễ báp têm. Theo thường lệ,các học viên phải học thuộc một số câu Kinh Thánh trước khi được làm lễ báp têm, và sau đó sẽ nhận được một quyển Kinh Thánh.
Tôi đem các câu Kinh Thánh về phòng, nhưng không biết làm thế nào để đọc được, nên phải nhờ người bạn khác đọc giùm. Tôi phải nhớ lời đọc đó và học thuôc lòng để trả bài cho Mục sư. Sau đó tôi nhận được một cuốn Kinh Thánh và tập về sự cầu nguyện. Niềm ao ước lớn nhất của tôi lúc bấy giờ là Chúa cho tôi biết đọc được Việt ngữ để hiểu được Kinh Thánh. Chúa đã nhậm lời. Ba tuần sau tôi đi nhà thờ và đọc được chữ “Hội Thánh Tin Lành”. Tôi e ngại mình đọc sai nên viết lại và đem về nhà hỏi các bạn. Họ nói rằng tôi đọc đúng và sẽ giúp tôi học thêm, nhưng rồi họ cũng phải đi định cư ở Mỹ,nên tôi phải tự học và tôi đã đọc được một cách trôi chảy. Ngày nay bốn chữ: "Hội Thánh Tin Lành” là kỉ niệm đẹp và đáng nhớ trong cuộc đời của tôi.
Khi đến Mỹ,gia đình ghép tên với tôi không cho tôi ở với gia đình họ nữa. Họ đuổi tôi ra khỏi nhà, và tôi đã phải đi vào viện mồ côi, ở chung với những đứa trẻ bụi đời, phá phách, hư hỏng. Ở đây thật kinh hoàng. Tôi cầu nguyện xin Chúa đem tôi ra khỏi nơi này, và Chúa đã nhậm lời. Có một Ông Mục sư đến thăm, tôi liên lạc với Ông xin ra khỏi cô nhi viện, và người ta đã gửi tôi vào một gia đình thuộc Hội Cha Mẹ Nuôi. Gia đình không tin Chúa nên thường không vui khi tôi đi nhà thờ. Tuy nhiên tại đây tôi được tiếp tục đến trường học.
Từ một người chưa từng đi học tại Việt nam, mà nay tôi phải vào học lớp 9, vì các trường của Hoa Kì căn cứ vào tuổi để xếp lớp. Với sự khác biệt về ngôn ngữ và không có căn bản của những năm học trước, nên tôi rất vất vất vả trong việc học. Tôi cầu nguyện rất nhiều xin Chúa giúp đỡ. Các môn học cần thiết, căn bản lúc đầu hơi quờ quạng, nhưng sau đó Chúa cho đạt kết quả tốt, điểm cao,không bị ở lại lớp và tốt nghiệp được trung học theo dự định của nhà trường. Tôi thật vui mừng cảm ơn Chúa. Xong trung học, tôi ra khỏi sự giứp đỡ của Hội Cha Mẹ Nuôi, và lập gia đình với anh Nguyễn Hoàng Minh, một thanh niên yêu mến Chúa tại Hội Thánh Tin Lành Báp Tít Thiên Ân. Chúa cho gia đình tôi sống hạnh phúc, vui vẻ và mỗi tuần được đi nhà thờ thờ phượng Chúa.
Ngày 31-10-1993,khi đang dự lễ Halloween tôi cảm thấy khó chịu, đau đầu và không biết gì nữa. Nghe chồng tôi kể lại, thì lúc đó tôi nằm và nói một mình với giọng nói và điệu bộ khác thường. Anh Minh chồng tôi đã gọi điện thoại cho Ông Mục sư Nguyễn Hữu Trang vào lúc 3h:30 sáng,mời Ông đến cầu nguyện cho tôi. Vì không biết nhà Ông đã nhờ chị Mỹ Dung, một người bạn, dẫn đường đến nhà của tôi. Chồng tôi cho Mục sư biết thứ bảy vừa qua, khi chúng tôi đi dự lễ bồi linh do Liên bang Cơ đốc tổ chức tại Tacoma,WA. Khi về nhà, tôi đâm ra nói lãng, mắt bất thần, những lời do miệng tôi nói nhưng không phải là của tôi, mà của một người nào khác. Mục sư, chồng tôi và chị Dung cùng cầu nguyện, mắt tôi vẫn mở trừng trừng ra vẻ giận dữ và lắc đầu. Khi Mục sư nhân danh Chúa Jesus đuổi quỷ ra khỏi tôi, một giọng nói ra từ miệng tôi phát ra:“Tôi không đi đâu”. Mục sư lấy Kinh Thánh ra đọc trong sách Luca 8:26-39, nói về người Giê-ra-sê bị quỷ quân đội ám. Tôi trợn mắt, bịt tai không muốn nghe. Đọc xong khúc Kinh Thánh Mục sư hỏi: “ngươi tên gì?, một giọng nói ra từ miệng tôi phát ra: “Không có tên!”. Mục sư tiếp tục cầu nguyện cho tôi, Ông nhân danh Chúa Jesus ở Na-xa-rét ra lệnh cho tà linh phải ra khỏi tôi. Quỷ trong tôi tỏ vẻ phản đối, không chịu ra và tiếp tục nói nhảm. Chị Dung đề nghị mời thêm Ông bà Skip-Bell người Mỹ, là trưởng lão và chấp sự của Hội Thánh, đến tiếp tay cầu nguyện. Khi ông bà Skip đến, cả năm người (MS, ông bà Skip, chị Dung và chồng tôi) thay phiên nhau cầu nguyện cho tôi. Mục sư hướng dẫn tôi cầu nguyện. Khi tôi nói đến câu: “Nhơn danh Chúa Jesus ra lệnh cho tà linh hãy ra khỏi ta”, thì quỷ khiến tôi nghiến răng và lấy tay bịt miệng, không cho tôi nói. Mục sư tiếp tục cầu nguyện, quỷ vẫn chưa ra. Sau hai giờ cầu nguyện, ông bà Skip đã mệt. Mục sư đề nghị ông bà Skip về trước.
Tôi không nhớ tà linh đã nói gì với tôi, nhưng theo chồng tôi kể lại là tôi đã nói một mình rằng: “Chị cho em thấy mẹ em”. Sau đó tôi kêu lên: “mẹ ơi! mẹ ơi!”rồi tôi ôm chồng tôi và khóc. Khi đó Mục sư giải thích với tôi rằng đó không phải là mẹ thật của tôi đâu, ma quỷ lừa dối, vì nếu mẹ tôi còn sống thì bây giờ có lẽ ở Việt nam. Còn nếu đã chết thì đã về một nơi mà Chúa đã định sẵn và không về lại được. Đừng tin lời lừa bịp của ma quỷ.
Một lần nữa Mục sư giúp tôi cầu nguyện bằng cách lặp lại theo lời của ông. Lần này tôi đã cầu nguyện được một cách thông suốt và đã nói: “Nhơn danh Chúa Jesus đuổi tà linh quỷ dữ ra khỏi thân xác, tâm trí và linh hồn con..xin Chúa Thánh Linh chiếm hữu hoàn toàn đời sống của con”. Tôi nói: “Thôi chị ra đi, đừng tới đây nữa, đừng phá phách em nữa. Tôi tỉnh lại, trí óc mệt nhoài và còn đau đầu. Lúc ấy là 7h:30 phút sáng ngày chúa nhật. Chồng tôi muốn tôi đi nhà thờ cùng với Mục sư. Tôi vào phòng tắm thay đồ, sau đó tôi mở cửa ra để tà linh đi ra khỏi và tôi đóng cửa lại. Anh Minh chồng tôi đi làm ca đêm, không tiện để tôi ở nhà một mình, nên xin ông bà Skip cho tôi tạm trú nhờ một thời gian. Tại nhà ông bà Skip, tà linh lại nhập vào tôi. Nó dùng miệng tôi nói ra một điều bí mật, mà trước đây tôi ít muốn cho người khác biết. Tên tôi không phải là Phan Kim Phượng, mà là Nguyễn Thị Quyên. Phan Kim Phượng là tên của cô gái đã qua đời tại Việt nam khi còn bé. Cô Phượng đòi lại tên của cô ta, và nếu tôi trả lại tên cho cô ta, trong hai tuần sau tôi sẽ lành bịnh. Biết đây là sự thật, tôi và chồng tôi đồng ý trả tên lại. Chúng tôi mời Mục sư đến và ông cũng cho biết điều này và cũng cho người khác biết rằng tên tôi không phải là Phan Kim Phượng nữa, mà là Nguyễn Thị Quyên. Lúc này tôi vẫn còn nhức đầu và mất hẳn trí nhớ. Tôi như trẻ con một hai tuổi, chỉ nói được những câu ngắn, không hiểu được nhnữg câu nói dài, không nhận ra được ai cả. Các anh em, bạn hữu quen thân đến thăm, tôi không biết được tên của một người nào. Thấy thân thể tôi bình thường,nhưng lại đâu đầu và mất hết trí nhớ. Chồng tôi đem tôi đến bệnh viện Harborview, Seattle, WA. Tại đây bác sĩ không tìm ra được tôi có bệnh gì, nên cho tôi về.
Có một biến cố đối với tôi là thật, rõ ràng và quan trọng. Khi kể ra có lẽ bạn cho là khó tin. Nhưng dù bạn có tin hay không tin, tôi xin trình bày vì Chúa muốn tôi kể ra. Khi tôi bị bịnh, lúc còn tạm trú tại nhà ông bà Skip. Một đêm khuya, khoảng 12 đêm, tôi thấy Chúa hiện ra, Ngài đi vào các phòng, ông bà Skip đã ngủ. Chúa đã nói chuyện với tôi, và cho tôi biết tôi sẽ lành bịnh. Ngài bảo tôi đừng lo sợ và hãy an tâm. Hãy nói với Mục sư rằng con sẽ lành bịnh, để ông khỏi lo lắng. Chúa cõng tôi đi trên một vùng trời đầy mưa. Tôi nói với Chúa rằng mưa quá Chúa ơi. Chúa bảo đừng sợ, rồi Ngài đưa tay ra, mưa bèn dứt. Tôi muốn lưu Chúa ở lại, nhưng Ngài từ chối và bảo rằng Ngài bận đi chưa bịnh cho nhiều người khác. Khi Chúa đi rồi, anh Minh chồng tôi lúc đó còn thức, đã nghe được những câu nói của tôi, đã xác nhận tôi đã nói chuyện với một người xưng là Chúa. Chồng tôi chỉ nghe lời tôi nói mà thôi, giống như một người nghe người khác nói chuyện qua điện thoại. Với sự hiện ra của Chúa này, đã giúp tôi giải đáp một câu hỏi lớn, là tại sao cuộc đời tôi từ nhỏ đến lớn không làm điều ác đức nào lại gặp quá nhiều khổ nạn, đau buồn. Tà linh xâm nhập vào tôi, nhưng Chúa thương tôi, Ngài chăm sóc tôi và quyền năng của Chúa mạnh hơn nó, đã đuổi nó ra khỏi tôi. Tôi cảm ơn Ngài.
Ông bà Skip phải đi xa, chồng tôi đi làm đêm, tôi không thể ở nhà một mình. Ông bà Mục sư Nguyễn Hữu Trang đã cho tôi về tạm trú tại nhà ông bà. Tại đây mỗi ngày, Mục sư cầu nguyện cho tôi và khuyến khích tôi đọc Kinh Thánh và cầu nguyện. Trí nhớ tôi vẫn chưa bình phục, giống như em bé. Ai hỏi tôi mấy tuổi, tôi liền trả lời bốn tuổi. Chỉ biết tên những người trong nhà, ngoài ra không nhớ, không biết ai nữa. Không biết sợ lửa, không biết sử dụng dao, kéo và các vật dụng bén nhọn khác. Cái gì tôi cũng có thể bỏ vào miệng và nuốt cả. Không phân biệt được cái gì là nguy hiểm, độc địa. Vài tuần sau tôi khỏi dần, nhưng ma quỷ vẫn chưa buông tha tôi và muốn làm hại tôi.
Một buổi trưa nọ, tại nhà Ông Mục sư, chồng tôi làm ca đem nên vẫn còn ngủ. Cả nhà đi vắng, tôi thấy có ba, bốn người đến rũ tôi đi chơi. Họ nói trong trí và tôi đã nghe theo. Đang mặc đồ ngủ trong nhà. Mở cửa sau, tôi bước xuống đường cùng đi với họ. Họ dẫn tôi đi ngất nga ngất ngưỡng ngoài đường, họ xúi tôi đến thùng thư bên đường và lấy thư quăng bỏ đi, tôi không làm theo. Họ dẫn tôi vào một cửa tiệm Seven Eleven, xúi tôi bốc kẹo trong quầy hàng, bóc ra ăn, người bán hàng không cho. Tôi vừa đi vừa lẩm nhẫm như nói chuyện với người nào. Họ dẫn tôi đến xa lộ 509, đây là một xa lộ rất đông đúc xe cộ vào buổi chiều thứ sáu. Tôi bước vào xa lộ không chút do dự, không sợ hãi, đi nghênh ngang giữa đường. Tất cả xe cộ đang chạy dập dìu đều thắng lại, có nhiều chiếc phải lách bên trái, bên phải làm tình trạng trở nên hổn loạn,còi xe kêu inh ỏi. Tại đây những tà linh biến mất, tôi thấy mình trơ trọi giữa xa lộ kinh hoàng. Cảnh sát đến hướng dẫn xe và đưa tôi vào lề đường. Bây giờ trí óc tôi đã trở lại bình thường, và tà linh đã đi khỏi. Tôi tìm đường đi bộ về nhà chị của chồng tôi cách đó chừng bốn dặm. Nhà không có ai, tôi ngồi trước cửa. Nhìn xuống chân mình thấy chảy máu, vì tôi không mang giày. Tôi lạnh run lên, vì không mặc áo ấm giữa mùa đông giá buốt ở vùng Tây bắc Hoa kỳ
Chồng tôi khi thức dậy,không thấy tôi nên đi tìm,nhưng không thấy tôi ở đâu, bèn nhờ cảnh sát tìm giúp. Sau đó chồng tôi đến nhà người chị và gặp tôi, anh đem tôi trở về nhà ông bà Mục sư. Ông Mục sư cầu nguyện xin Chúa bảo vệ tôi, và dặn tôi khi có ai đến rũ tôi đi, thì hãy cầu nguyện nhơn danh Chúa Jesus đuổi nó lui khỏi. Tôi đã làm theo, quỷ không rũ tôi đi nữa.
Vào ngày thứ tư, 10/11/1993,sau khi đi thăm một người bạn, về nhà tôi cảm thấy hơi đau đầu. Tôi vào phòng riêng thay đồ và lấy Kinh Thánh ra đọc. Đang lúc đọc Kinh Thánh, tôi thấy tối đen,giống như một chiếc áo từ đâu bay đến phủ cả đầu tôi. Tôi đau đầu kinh khủng, tôi ôm đầu và la lên. Từ đó tôi không biết gì nữa. Sau này một anh thanh niên tên Hòa sống trong nhà và Mục sư kể lại rằng: Khi Mục sư đang chuẩn bị đi thăm một gia đình ở Federal Way, WA, Mục sư phải hoãn lại và dìu tôi vào phòng khách. Tại đây Ông và anh Hòa cầu nguyện, nhân danh Chúa Jesus ra lệnh tà linh ra khỏi tôi. Quỷ nói với tôi, nếu không cho nó nhập vào, nó sẽ giết chết chồng tôi đang ở xưỡng làm, và giết chết bà Mục sư đang trên xa lộ về. Tôi không muốn cho nó nhập vào, cũng không nó làm hại chồng tôi và bà Mục sư, là người tôi yêu mến. Tôi la lên: “Đừng hại anh Minh, đừng giết bà Mục sư”. Mục sư nghe thế liền trấn an: “Không ai có quyền hại một tín hữu, một con cái của Chúa. Vì chính Chúa sẽ sai thiên sứ của Ngài bảo vệ, gìn giữ họ. Không ai có quyền hại Minh và nhà tôi, vì họ thuộc về Chúa Jesus. Thánh Linh Chúa và Thiên sứ của Ngài sẽ bảo che và dẫn dắt họ bình an,con đừng sợ”. Mục sư cùng các anh em tín hữu khác như anh Thảo, anh Hòa cầu nguyện, hát thánh ca số 309, ca ngợi quyền năng huyết báu Chúa Jesus, hát ha-lê-lu-gia và nhân danh Chúa Jesus đuổi quỷ ra lần nữa. Lần này quỷ ra khỏi. Tôi tỉnh lại, cùng với Mục sư cùng các anh em hát mạnh hơn và vui mừng vì Chúa đã cứu mình thoát khỏi sự xâm nhập của tà linh.
Một thời gian ngắn ở tạm nhà Ông Mục sư, trí nhớ tôi lần lần phục hồi. Ông bà Mục sư mỗi ngày nói chuyện với tôi, gợi cho tôi nhớ lại, khích lệ tôi, kể những việc đã xảy ra từ khi tôi còn bé cho đến khi lớn khôn. Tôi nghe nhạc Thánh ca, được khuyến khích đọc Kinh Thánh, cầu nguyện thường xuyên, tâm trí tôi trở lại bình thường.
Vợ chồng tôi dọn ra ở một căn hộ khác. Ngày nay, Chúa cho chúng tôi khỏe mạnh, bình an, vui vẻ, và tôi đã đi làm trở lại. Mỗi tuần đi nhà thờ thờ phượng Chúa, tham gia vào ban hát lễ ca ngợi Ngài.
Thưa các bạn, Chúa Jesus thật kì diệu quá cho tôi. Tôi không đủ ngôn từ để ca ngợi và cảm ơn Ngài. Tôi xin viết lời làm chứng này để bày tỏ tấm lòng biết ơn Chúa và giới thiệu Chúa cho các bạn. Chúa đã làm một việc lớn cho đời sống tôi, Ngài có thể làm cho bạn. Mong bạn đến với Ngài.
http://www.mytnpa.org/index.php?option=com_content&task=view&id=600&Itemid=41 Đọc thêm!
Thứ Bảy, 18 tháng 9, 2010
Quyền Lực Của Kinh Thánh
Một cảnh sát Pháp có biệt tài bắt cướp với hai khẩu súng và hai con chó. Ông phá được một băng cướp nhưng kẻ cầm đầu lợi hại đã trốn thoát. Vợ ông là một tín đồ trung thành, nhưng ông thì vô tín. Mỗi khi thấy vợ cầu nguyện cho mình, ông nói: "Tôi đã bảo là hai khẩu súng và hai con chó là thần hộ mạng của tôi, bà không cần phải cầu xin ai cả, tự tôi bảo vệ được tôi kia mà!". Đêm nọ, bà đọc Thi Thiên 91 rồi cầu nguyện. 12 giờ khuya ông về, bắt gặp Kinh Thánh còn để trên bàn, ông lại chế giễu. Sáng hôm sau, họ kinh ngạc thấy cửa sổ mở toang, Kinh Thánh biến mất và trên bàn để lại một thanh gươm... Chưa biết chuyện thế nào, ông bị gọi nhập ngũ vì Pháp tuyên chiến với nước Anh.
Sau trận đánh đầu tiên, ông bị thương. Một ngư dân mang ông về săn sóc đến khi bình phục. Khi ông cảm ơn, ngư dân ấy trả lời: "Hãy dùng những lời ấy để cảm ơn vợ ông". Người lính ngạc nhiên: "Tôi không hiểu ông muốn nói gì!". Ngư dân nói: "Tôi chính là tên cướp suýt bị ông bắt. Lúc ấy tôi tìm giết ông. Tôi đã vào được phòng khách lúc vợ ông nhốt gà sau nhà. Khi đang núp để chờ ông về, tôi nghe vợ ông đọc Kinh Thánh. Những lời ấy tôi chưa nghe bao giờ, nhưng đã làm tôi phải suy nghĩ. Rồi bà cầu nguyện, không phải để Chúa cho ông bắt được tôi, nhưng xin Ngài làm cho tôi hoán cải. Lời bà tỏ ra thương mến tôi vô hạn, dầu bà chưa biết tôi thế nào. Tôi còn nghe ông rất tự hào về hai khẩu súng và hai con chó. Tôi có cơ hội giết ông, nhưng Lời Chúa đã thay đổi lòng tôi, Ngài nhậm lời cầu nguyện của vợ ông. Hôm sau ông đã thấy thanh gươm trên bàn chứ?... Hãy dành lời cám ơn cho bà".
Quá cảm động, người cảnh sát vô tín trước đây đã ôm chầm lấy người dân chài, tức tên cướp, cả hai cảm động, nước mắt họ hòa với lời tạ ơn Đức Chúa Trời.
"Vì lời của Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm, sắc hơm gươm hai lưỡi, thấu vào đến nỗi chia hồn, linh, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng" (Hê-bơ-rơ 4:12)
Trích _Chắp cánh cho tâm hồn bay cao_ Phần còn lại Đọc thêm!
Sau trận đánh đầu tiên, ông bị thương. Một ngư dân mang ông về săn sóc đến khi bình phục. Khi ông cảm ơn, ngư dân ấy trả lời: "Hãy dùng những lời ấy để cảm ơn vợ ông". Người lính ngạc nhiên: "Tôi không hiểu ông muốn nói gì!". Ngư dân nói: "Tôi chính là tên cướp suýt bị ông bắt. Lúc ấy tôi tìm giết ông. Tôi đã vào được phòng khách lúc vợ ông nhốt gà sau nhà. Khi đang núp để chờ ông về, tôi nghe vợ ông đọc Kinh Thánh. Những lời ấy tôi chưa nghe bao giờ, nhưng đã làm tôi phải suy nghĩ. Rồi bà cầu nguyện, không phải để Chúa cho ông bắt được tôi, nhưng xin Ngài làm cho tôi hoán cải. Lời bà tỏ ra thương mến tôi vô hạn, dầu bà chưa biết tôi thế nào. Tôi còn nghe ông rất tự hào về hai khẩu súng và hai con chó. Tôi có cơ hội giết ông, nhưng Lời Chúa đã thay đổi lòng tôi, Ngài nhậm lời cầu nguyện của vợ ông. Hôm sau ông đã thấy thanh gươm trên bàn chứ?... Hãy dành lời cám ơn cho bà".
Quá cảm động, người cảnh sát vô tín trước đây đã ôm chầm lấy người dân chài, tức tên cướp, cả hai cảm động, nước mắt họ hòa với lời tạ ơn Đức Chúa Trời.
"Vì lời của Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm, sắc hơm gươm hai lưỡi, thấu vào đến nỗi chia hồn, linh, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng" (Hê-bơ-rơ 4:12)
Trích _Chắp cánh cho tâm hồn bay cao_ Phần còn lại Đọc thêm!
Thứ Năm, 26 tháng 8, 2010
TẠI SAO PHẠM TUẤN HÙNG ĐI THEO CHÚA JESUS CHRIST?
Tel: 612.644.5110 Email: tuanhungmuaxuan@yahoo.com
link blog nhạc sĩ Phạm Tuấn Hùng: http://vn.myblog.yahoo.com/tuanhungmuaxuan
Tuấn Hùng sinh ra trong một gia đình có truyền thống âm nhạc lâu đời từ ông, bà, cha, mẹ, cô, chú; tất cả mọi thành viên trong gia đình đều là giảng viên âm nhạc chuyên nghiệp nên năm lên 4 tuổi Tuấn Hùng đã bắt đầu học những nốt nhạc đầu tiên.
Cám ơn Đức Chúa Trời đã cho Tuấn Hùng gặt hái nhiều thành công rất sớm trong cuộc đời, bắt đầu từ năm 20 tuổi, khi ban nhạc Mùa Xuân của Tuấn Hùng đã giải nhất toàn quốc. Và một lần nữa, may mắn lại mỉm cười với Tuấn Hùng khi trong cuộc thi các ban nhạc toàn quốc, ban nhạc Mùa Xuân đã đứng đầu 10 ban nhạc hàng đầu Việt Nam, và Tuấn Hùng cá nhân nhận được giải là người chơi đàn có kỹ thuật điêu luyện nhất trong cuộc thi. Ngoài ra Tuấn Hùng cũng có cơ hội được đại diện cho Việt Nam biểu diễn đón mừng sự thăm viếng của tổng thống Bill Clinton và Putin. Tuấn Hùng cũng được đi du học rất nhiều nơi trên thế giới và đi biểu diễn trên ở rất nhiều quốc gia. Hiện tại Tuấn Hùng đang làm giảng viên của Nhạc Viện Âm Nhạc Quốc Gia Việt Nam , trước đây còn được gọi là Nhạc Viện Hà Nội. Và Hùng còn công tác với Đài Truyền Hình Việt Nam trong chương trình Trò Chơi Âm Nhạc.
Lần đầu tiên Tuấn Hùng được biết đến Chúa là do một người bạn của Tuấn Hùng trong một chuyến về Việt Nam sau 10 năm xa quê hương, anh ta đã đến gặp Tuấn Hùng, và nhờ làm một đĩa nhạc thánh ca. Mười năm trước anh ta có thể nói là một người “xấu” hay “giang hồ”, nhưng sau 10 năm gặp lại, Tuấn Hùng rất ngạc nhiên khi anh bạn mình trở thành một người hoàn toàn khác hẳn, tràn đầy tình yêu thương. Anh ta nói anh ta có Chúa. Sau khi hoàn tất đĩa nhạc thánh ca, chính âm nhạc đó, từng lời ca đã thấm vào tâm hồn của Tuấn Hùng và Hùng bắt đầu tìm hiểu về Chúa.
Tuấn Hùng thắc mắc là không hiểu vì sao các thiên tài âm nhạc, họ đều được đào tạo căn bản, và đều xuất phát từ nhà thờ. Phải chăng nếu như không có nhà thờ thì không có nền âm nhạc chuyên nghiệp như ngày nay. Để lý giải điều này, Tuấn Hùng đã tìm hiểu rât nhiều và âm nhạc thánh ca đã tác động tới Hùng.
Hơn nữa, Tuấn Hùng nhận thấy rằng trong cộng đồng con cái Chúa, mọi người rất yêu thương nhau, giúp đỡ lẫn nhau. Đôi khi trong cuộc sống, có những lúc chúng ta cảm thấy tuyện vọng, cô đơn, chúng ta thay vì đi tìm sự đoàn kết, tình yêu thương và sự soi sáng hướng dẫn từ bề trên, từ Đức Chúa Trời hay Thượng Đế, chúng ta lại sử dụng những kiến thức nhỏ bé của mình, đi tìm tòi nghiên cứu khoa học hay làm nhiều điều theo sức riêng, nhưng không biết rằng, những gì thuộc về chân lý sẽ không bao giờ thay đổi.
Tuấn Hùng tiếp tục tìm hiểu và được giới thiệu với cuốn Kinh Thánh. Kinh Thánh có thể nói là cuốn sách lâu đời nhất, nhiều người đọc nhất, nhiều người đốt nhất, hay tìm cách phá hoại nhưng nó cũng được nhiều người bảo tồn nhất. Có thể gọi Kinh Thánh như quyển sách hướng dẫn sử dụng cho loài người chúng ta. Ví dụ, nếu một ai đó mua xe ô tô, chắc chắn sẽ phải cần đến cuốn hướng dẫn sử dụng của ô tô. Chúng ta cũng vậy. Kinh Thánh như một cuốn sách hướng dẫn sử dụng, một cuốn Bách Khoa Toàn Thư, mà trong đó những nguyên tắc, những lời hứa của Chúa, nếu như chúng ta làm theo thì phép mầu sẽ xảy đến trong cuộc đời chúng ta.
Khi thật sự hiểu được giá trị thật của âm nhạc là để phục vụ nhà thờ, để ca ngợi Đức Chúa Trời, Chúa đã ban cho Tuấn Hùng rất nhiều phép mầu và khải tượng. Khởi đầu là một đĩa nhạc thánh ca gồm 10 bài hát, từ sáng tác, hòa âm, phối khí, thu âm đến phát hành tại Mỹ chỉ vỏn vẹn trong vòng 1 tháng. Đó chính là phép mầu của Chúa đã ban tặng cho Tuấn Hùng vì từ trước đến nay chưa ai thực hiện được điều này. Ngoài ra, Chúa cũng cho Tuấn Hùng có cơ hội được tiếp xúc và làm chứng cho nhiều ca sĩ, nhạc sĩ nổi tiếng đến với Chúa. Họ là những người con lạc mất của Chúa, nay đã tìm thấy con đường để quay về nhà Cha.
Điều mà Tuấn Hùng khao khát là muốn có cơ hội để giúp đỡ những người bạn ca sĩ, nhạc sĩ nổi tiếng tăng trưởng thuộc linh và đức tin, vì họ là những người được Chúa ban tặng cho khả năng âm nhạc mà họ lại sử dụng sai mục địch của Ngài; nên Tuấn Hùng muốn giúp họ có cơ hội tham gia hầu việc Chúa. Bởi cớ họ là những người nổi tiếng nên rất khó khăn cho việc dẫn họ đến nhà thờ hay tham gia vào những tổ chức tôn giáo. Họ phải có những việc làm cụ thể. Xuất phát từ môi trường đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp, Tuấn Hùng rất cần sự hộ trợ một cách chuyên nghiệp. Ví thường Tuấn Hùng đi biểu diễn có thể kiếm được tiền, nhưng khi đi hầu việc Chúa ở các hội thánh hoàn toàn là thiện nguyện, đôi khi có món quà tình yêu thương từ con cái Chúa. Nhưng những người ca sĩ, nhạc sĩ nổi tiếng khác, họ không thể giống Tuấn Hùng được vì họ vẫn phải sống bằng nghề “âm nhạc” của họ.
Chúng ta hãy nhớ lại Kinh Thánh Cực Ước, khi 12 chi tộc của Chúa có một chi tộc Lê-vi. Họ là những người hầu việc Chúa bằng âm nhạc thờ phượng, bằng sự ca ngợi tôn vinh Chúa, và 11 chi tộc con lại đóng thuế để nuôi chi tộc Lê-vi. Hinh ảnh đó có thể dùng cho những ca sĩ, nhạc sĩ nổi tiếng thời nay. Vì họ là những người nổi tiếng nên họ có một sức ảnh hưởng nhất định đối với cộng đồng, nhưng fan của họ sẽ có thể bị cảm hóa để nhiều người có cơ hội quay trở về với Chúa. Nhưng điều cần nói ở đây là nhưng ca sĩ, nhạc sĩ nổi tiếng này cũng cần được trả công xứng đáng, như chi tộc Lê-vi ngày trước. Ngoài việc giúp ích cho họ khi đi hâu việc Chúa, hát ca ngợi Chúa, họ còn có thể có một mức lương phù hợp. Điều quan trọng hơn cả là nhưng người con cái Chúa có thể sát cánh bên nhau để tổ chức nhưng chương trình truyền giảng mang tính chất quy mô, có sự tham gia của những người được đào tạo chuyên nghiệp trong lĩnh vực âm nhạc để chúng ta cùng ca ngợi, tôn vinh Chúa.
Dĩ nhiên, một chương trình mang tính chất chuyên nghiệp như vậy cần phải có một chủ đề thống nhất. Từ xưa đến nay, những chương trình truyền giảng của nhà thờ được tổ chức do một vài người con cái Chúa biên tập. Họ chọn ra những bài hát mà họ yêu thích hay cố ý chiều lòng khán giả, nhưng họ quên đi mất mục tiêu chính của chúng ta là tôn vinh Chúa, để cao vấn đề thuộc linh. Những người biên tập thường sử dụng những bài thánh ca lâu đời, những bài thánh ca làm thay đổi nhiều cuộc đời. Có thể những bài thánh ca đó là của lễ tinh sạch mà chúng ta muốn dâng lên Chúa, nhưng điều làm đẹp lòng Ngài hơn cả là một của lễ tinh sạch nhưng phải có mùi hương. Đó chính là những bài thánh ca thuần Việt, do chính những con cái Chúa người Việt Nam làm ra, những sản phẩm âm nhạc mà chính những ca sĩ hát, hay những người nhạc sĩ Việt sáng tác. Vì chúng ta là những người Việt yêu mến Chúa hết lòng, chúng ta cũng phải có những sản phẩm do chính người Việt chúng ta làm ra để dâng lên Chúa.
Tuấn Hùng khao khát có những buổi truyền giảng mang tính chất thuần Việt để đề cao tính tự hào dân tộc của người Việt Nam . Chúng ta cần phải có nhưng chương trình âm nhạc như vậy. Khải tượng của Tuấn Hùng là sẽ có những ca sĩ, nhạc sĩ sáng tác những bài hát để người Việt Nam tôn vinh Chúa trong những buổi truyền giảng lớn trong tương lai, và nhưng người nước ngoài sẽ cùng hát những bài thánh ca của người Việt Nam như chúng ta vẫn thường sử dụng và hát bài của họ. Cầu mong quý con cái Chúa hãy ủng hộ hết lòng cho một nền âm nhạc thờ phượng chuyên nghiệp Việt Nam bằng cách gúp đỡ những người được đào tạo và làm âm nhạc chuyên nghiệp như chúng tôi một cách cụ thể nhất để có cơ hội tham gia hầu việc Chúa. Mọi vinh hiển chúng con xin quy về cho Chúa. Amen.
Đọc thêm!
link blog nhạc sĩ Phạm Tuấn Hùng: http://vn.myblog.yahoo.com/tuanhungmuaxuan
Tuấn Hùng sinh ra trong một gia đình có truyền thống âm nhạc lâu đời từ ông, bà, cha, mẹ, cô, chú; tất cả mọi thành viên trong gia đình đều là giảng viên âm nhạc chuyên nghiệp nên năm lên 4 tuổi Tuấn Hùng đã bắt đầu học những nốt nhạc đầu tiên.
Cám ơn Đức Chúa Trời đã cho Tuấn Hùng gặt hái nhiều thành công rất sớm trong cuộc đời, bắt đầu từ năm 20 tuổi, khi ban nhạc Mùa Xuân của Tuấn Hùng đã giải nhất toàn quốc. Và một lần nữa, may mắn lại mỉm cười với Tuấn Hùng khi trong cuộc thi các ban nhạc toàn quốc, ban nhạc Mùa Xuân đã đứng đầu 10 ban nhạc hàng đầu Việt Nam, và Tuấn Hùng cá nhân nhận được giải là người chơi đàn có kỹ thuật điêu luyện nhất trong cuộc thi. Ngoài ra Tuấn Hùng cũng có cơ hội được đại diện cho Việt Nam biểu diễn đón mừng sự thăm viếng của tổng thống Bill Clinton và Putin. Tuấn Hùng cũng được đi du học rất nhiều nơi trên thế giới và đi biểu diễn trên ở rất nhiều quốc gia. Hiện tại Tuấn Hùng đang làm giảng viên của Nhạc Viện Âm Nhạc Quốc Gia Việt Nam , trước đây còn được gọi là Nhạc Viện Hà Nội. Và Hùng còn công tác với Đài Truyền Hình Việt Nam trong chương trình Trò Chơi Âm Nhạc.
Lần đầu tiên Tuấn Hùng được biết đến Chúa là do một người bạn của Tuấn Hùng trong một chuyến về Việt Nam sau 10 năm xa quê hương, anh ta đã đến gặp Tuấn Hùng, và nhờ làm một đĩa nhạc thánh ca. Mười năm trước anh ta có thể nói là một người “xấu” hay “giang hồ”, nhưng sau 10 năm gặp lại, Tuấn Hùng rất ngạc nhiên khi anh bạn mình trở thành một người hoàn toàn khác hẳn, tràn đầy tình yêu thương. Anh ta nói anh ta có Chúa. Sau khi hoàn tất đĩa nhạc thánh ca, chính âm nhạc đó, từng lời ca đã thấm vào tâm hồn của Tuấn Hùng và Hùng bắt đầu tìm hiểu về Chúa.
Tuấn Hùng thắc mắc là không hiểu vì sao các thiên tài âm nhạc, họ đều được đào tạo căn bản, và đều xuất phát từ nhà thờ. Phải chăng nếu như không có nhà thờ thì không có nền âm nhạc chuyên nghiệp như ngày nay. Để lý giải điều này, Tuấn Hùng đã tìm hiểu rât nhiều và âm nhạc thánh ca đã tác động tới Hùng.
Hơn nữa, Tuấn Hùng nhận thấy rằng trong cộng đồng con cái Chúa, mọi người rất yêu thương nhau, giúp đỡ lẫn nhau. Đôi khi trong cuộc sống, có những lúc chúng ta cảm thấy tuyện vọng, cô đơn, chúng ta thay vì đi tìm sự đoàn kết, tình yêu thương và sự soi sáng hướng dẫn từ bề trên, từ Đức Chúa Trời hay Thượng Đế, chúng ta lại sử dụng những kiến thức nhỏ bé của mình, đi tìm tòi nghiên cứu khoa học hay làm nhiều điều theo sức riêng, nhưng không biết rằng, những gì thuộc về chân lý sẽ không bao giờ thay đổi.
Tuấn Hùng tiếp tục tìm hiểu và được giới thiệu với cuốn Kinh Thánh. Kinh Thánh có thể nói là cuốn sách lâu đời nhất, nhiều người đọc nhất, nhiều người đốt nhất, hay tìm cách phá hoại nhưng nó cũng được nhiều người bảo tồn nhất. Có thể gọi Kinh Thánh như quyển sách hướng dẫn sử dụng cho loài người chúng ta. Ví dụ, nếu một ai đó mua xe ô tô, chắc chắn sẽ phải cần đến cuốn hướng dẫn sử dụng của ô tô. Chúng ta cũng vậy. Kinh Thánh như một cuốn sách hướng dẫn sử dụng, một cuốn Bách Khoa Toàn Thư, mà trong đó những nguyên tắc, những lời hứa của Chúa, nếu như chúng ta làm theo thì phép mầu sẽ xảy đến trong cuộc đời chúng ta.
Khi thật sự hiểu được giá trị thật của âm nhạc là để phục vụ nhà thờ, để ca ngợi Đức Chúa Trời, Chúa đã ban cho Tuấn Hùng rất nhiều phép mầu và khải tượng. Khởi đầu là một đĩa nhạc thánh ca gồm 10 bài hát, từ sáng tác, hòa âm, phối khí, thu âm đến phát hành tại Mỹ chỉ vỏn vẹn trong vòng 1 tháng. Đó chính là phép mầu của Chúa đã ban tặng cho Tuấn Hùng vì từ trước đến nay chưa ai thực hiện được điều này. Ngoài ra, Chúa cũng cho Tuấn Hùng có cơ hội được tiếp xúc và làm chứng cho nhiều ca sĩ, nhạc sĩ nổi tiếng đến với Chúa. Họ là những người con lạc mất của Chúa, nay đã tìm thấy con đường để quay về nhà Cha.
Điều mà Tuấn Hùng khao khát là muốn có cơ hội để giúp đỡ những người bạn ca sĩ, nhạc sĩ nổi tiếng tăng trưởng thuộc linh và đức tin, vì họ là những người được Chúa ban tặng cho khả năng âm nhạc mà họ lại sử dụng sai mục địch của Ngài; nên Tuấn Hùng muốn giúp họ có cơ hội tham gia hầu việc Chúa. Bởi cớ họ là những người nổi tiếng nên rất khó khăn cho việc dẫn họ đến nhà thờ hay tham gia vào những tổ chức tôn giáo. Họ phải có những việc làm cụ thể. Xuất phát từ môi trường đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp, Tuấn Hùng rất cần sự hộ trợ một cách chuyên nghiệp. Ví thường Tuấn Hùng đi biểu diễn có thể kiếm được tiền, nhưng khi đi hầu việc Chúa ở các hội thánh hoàn toàn là thiện nguyện, đôi khi có món quà tình yêu thương từ con cái Chúa. Nhưng những người ca sĩ, nhạc sĩ nổi tiếng khác, họ không thể giống Tuấn Hùng được vì họ vẫn phải sống bằng nghề “âm nhạc” của họ.
Chúng ta hãy nhớ lại Kinh Thánh Cực Ước, khi 12 chi tộc của Chúa có một chi tộc Lê-vi. Họ là những người hầu việc Chúa bằng âm nhạc thờ phượng, bằng sự ca ngợi tôn vinh Chúa, và 11 chi tộc con lại đóng thuế để nuôi chi tộc Lê-vi. Hinh ảnh đó có thể dùng cho những ca sĩ, nhạc sĩ nổi tiếng thời nay. Vì họ là những người nổi tiếng nên họ có một sức ảnh hưởng nhất định đối với cộng đồng, nhưng fan của họ sẽ có thể bị cảm hóa để nhiều người có cơ hội quay trở về với Chúa. Nhưng điều cần nói ở đây là nhưng ca sĩ, nhạc sĩ nổi tiếng này cũng cần được trả công xứng đáng, như chi tộc Lê-vi ngày trước. Ngoài việc giúp ích cho họ khi đi hâu việc Chúa, hát ca ngợi Chúa, họ còn có thể có một mức lương phù hợp. Điều quan trọng hơn cả là nhưng người con cái Chúa có thể sát cánh bên nhau để tổ chức nhưng chương trình truyền giảng mang tính chất quy mô, có sự tham gia của những người được đào tạo chuyên nghiệp trong lĩnh vực âm nhạc để chúng ta cùng ca ngợi, tôn vinh Chúa.
Dĩ nhiên, một chương trình mang tính chất chuyên nghiệp như vậy cần phải có một chủ đề thống nhất. Từ xưa đến nay, những chương trình truyền giảng của nhà thờ được tổ chức do một vài người con cái Chúa biên tập. Họ chọn ra những bài hát mà họ yêu thích hay cố ý chiều lòng khán giả, nhưng họ quên đi mất mục tiêu chính của chúng ta là tôn vinh Chúa, để cao vấn đề thuộc linh. Những người biên tập thường sử dụng những bài thánh ca lâu đời, những bài thánh ca làm thay đổi nhiều cuộc đời. Có thể những bài thánh ca đó là của lễ tinh sạch mà chúng ta muốn dâng lên Chúa, nhưng điều làm đẹp lòng Ngài hơn cả là một của lễ tinh sạch nhưng phải có mùi hương. Đó chính là những bài thánh ca thuần Việt, do chính những con cái Chúa người Việt Nam làm ra, những sản phẩm âm nhạc mà chính những ca sĩ hát, hay những người nhạc sĩ Việt sáng tác. Vì chúng ta là những người Việt yêu mến Chúa hết lòng, chúng ta cũng phải có những sản phẩm do chính người Việt chúng ta làm ra để dâng lên Chúa.
Tuấn Hùng khao khát có những buổi truyền giảng mang tính chất thuần Việt để đề cao tính tự hào dân tộc của người Việt Nam . Chúng ta cần phải có nhưng chương trình âm nhạc như vậy. Khải tượng của Tuấn Hùng là sẽ có những ca sĩ, nhạc sĩ sáng tác những bài hát để người Việt Nam tôn vinh Chúa trong những buổi truyền giảng lớn trong tương lai, và nhưng người nước ngoài sẽ cùng hát những bài thánh ca của người Việt Nam như chúng ta vẫn thường sử dụng và hát bài của họ. Cầu mong quý con cái Chúa hãy ủng hộ hết lòng cho một nền âm nhạc thờ phượng chuyên nghiệp Việt Nam bằng cách gúp đỡ những người được đào tạo và làm âm nhạc chuyên nghiệp như chúng tôi một cách cụ thể nhất để có cơ hội tham gia hầu việc Chúa. Mọi vinh hiển chúng con xin quy về cho Chúa. Amen.
Đọc thêm!
Thứ Tư, 2 tháng 12, 2009
Lại nói chuyện những người con vua Thành Thái
Tiền phong tháng 2/2006 có bài về ông Nguyễn Phước Vĩnh Giu, Hoàng tử cuối cùng của vua Thành Thái, đang sống ở số 166, Phan Đình Phùng (Ninh Kiều, Cần Thơ) viết rằng một số anh em của ông theo đạo Thiên Chúa. Tại sao vua Thành Thái “ghét Tây” mà các hoàng tử lại theo đạo Thiên Chúa?
Vua Thành Thái “ghét Tây xâm lược” và thương dân mà bị truất ngôi, lưu đày đến đảo Rê-uy-ni-ông ở châu Phi. Ở chốn lưu đày ông vẫn can trường giữ gìn văn hóa dân tộc, giữ phong tục thờ cúng tổ tiên, giữ cả việc ăn trầu, 9 người con sinh ra trên đảo đều được dạy tiếng Việt và trong nhà chỉ nói tiếng Việt.
Vua Thành Thái giữ nề nếp gia phong đến mức nghiêm khắc. Con cái trên 20 tuổi mới được tự do đi ra ngoài và thư từ hẹn hò yêu đương. Con của vua Thành Thái là vua Duy Tân cùng bị lưu đày nhưng sau đó tham gia quân đội Pháp đã bị vua Thành Thái không nhìn mặt.
Theo hồi ký “Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc” của ông Phạm Khắc Hòe, ông được Mệ Cưởi, em ruột vua Duy Tân có mặt trong đoàn lưu đày đến đảo Rê-uy-ni-ông, kể rằng: “Cha tôi (vua Thành Thái) không thèm gặp mặt anh tôi (vua Duy Tân) nữa”.
Ông Nguyễn Phước Vĩnh Giu kể, vua Thành Thái ở biệt thự Pháp cấp được 2 năm, không chịu sự bó buộc đã mướn một trang trại có căn nhà gỗ rộng lớn, đưa gia đình ra ở.
Cuộc sống khá vất vả và gia đình nhà vua đã phải làm nhiều nghề để sinh sống: Mộc, nề, sơn, điện… Vua, hoàng hậu, các hoàng tử, công chúa đều làm việc. Công chúa Lương Mỹ trở thành một thợ điện gia dụng có tiếng trên đảo, rồi bà mở tiệm chụp hình “Sài Gòn Photo”, mở tiệm bán rượu và đồ hộp đều đắt khách.
Cũng nhờ thế, sau này ông Vĩnh Giu vượt qua được nhiều thời kỳ khó khăn, như hồi mới giải phóng ngồi vá xe đạp ở lề đường và hiện nay hầu hết tủ, giường, bàn, ghế trong nhà do ông tự đóng lấy.
Ở đảo lưu đày, anh em ông Vĩnh Giu từng mua một chiếc ô tô cũ, bỏ hết phần trên, giữ cái gầm xe chế ra một chiếc xe nhẹ, đẹp và chạy nhanh khiến dân trên đảo thán phục. Trong nhiều nghề sinh sống, gia đình vua Thành Thái nổi tiếng nhất với nghề làm yên ngựa và điều này đã được viết trong một số sử sách.
Tôi hỏi ông Vĩnh Giu, ông còn nhớ bí quyết làm yên ngựa không? Ông trả lời, làm yên ngựa phải tùy thuộc vào từng con ngựa, thợ Tây làm đồng loạt nên không vừa với một số con, ngựa bị cấn xương sống không thể chạy nhanh.
Gặp những con ngựa như thế thợ Tây chịu và phải cậy đến anh em cựu hoàng tử. Yên ngựa do anh em ông làm lắp vào con ngựa nào cũng thít chặt, êm, ngựa chạy trở nên hay. Anh em ông còn đóng móng ngựa, may hia cưỡi ngựa.
Từ làm yên ngựa đi tới mua những con ngựa khỏe nhưng bị Tây chê vì không biết đóng yên vừa với nó, những con ngựa đó bán rẻ về tay anh em ông Vĩnh Giu đã thành ngựa đắt tiền và gia đình vua Thành Thái có chuồng nuôi ngựa đua. Ông Vĩnh Giu kể, anh của ông là hoàng tử Vĩnh Chương đã sống bằng nghề đua ngựa.
“Trong một gia đình nghiêm khắc và tự chủ như vậy, nguyên nhân nào để anh em ông theo đạo Thiên Chúa?”- Tôi hỏi. Ông Vĩnh Giu trả lời, mười mấy anh chị em chỉ có ông Vĩnh Quỳnh và ông theo đạo Thiên Chúa mà thôi.
Ông Vĩnh Quỳnh làm linh mục và ông Vĩnh Giu theo anh trai học chữ ở trường dòng thuở nhỏ. Tuy nhiên, để ông Vĩnh Giu tin vào Chúa phải kể đến một tai nạn hút chết.
Lúc 15 tuổi, ông Vĩnh Giu theo bạn bè tập bơi ở một con sông nước chảy xiết, lòng sông có nhiều đá. Bơi ra giữa sông thì ông đuối sức, chìm dần, đám bạn thấy thế chạy đi gọi người lớn. Bất giác ông kêu “Chúa ơi” thì trước mặt xuất hiện một cái nón làm bằng bần, ông ôm lấy và nước đẩy đi.
Tỉnh dậy, ông thấy mình nằm bên bờ sông đang ôm một cục đá. Ông nghĩ Chúa đã nghe lời ông kêu mà cứu ông. Tôi chỉ hỏi, từ đó ông theo đạo Thiên Chúa? Chưa, ông trả lời, về nước năm 1947, năm 1954 vua cha Thành Thái mất thì năm 1955 ông mới làm lễ rửa tội.
Ông Vĩnh Giu lại nói, tôi theo mọi đạo răn dạy làm người, trong nhà cũng có thờ cúng tổ tiên lạy ông lạy bà chứ không cũ quá theo một tôn giáo. Rồi ông cười thật vui vẻ, thanh thản ở tuổi 84.
Tôi nhận ra một cách sống linh hoạt của người Việt Nam, gia đình nhà vua nhưng trong hoàn cảnh ngặt nghèo cũng tìm được cách thoát ra để tồn tại và phát triển.
Theo Vietbao.vn
Đọc thêm!
Vua Thành Thái “ghét Tây xâm lược” và thương dân mà bị truất ngôi, lưu đày đến đảo Rê-uy-ni-ông ở châu Phi. Ở chốn lưu đày ông vẫn can trường giữ gìn văn hóa dân tộc, giữ phong tục thờ cúng tổ tiên, giữ cả việc ăn trầu, 9 người con sinh ra trên đảo đều được dạy tiếng Việt và trong nhà chỉ nói tiếng Việt.
Vua Thành Thái giữ nề nếp gia phong đến mức nghiêm khắc. Con cái trên 20 tuổi mới được tự do đi ra ngoài và thư từ hẹn hò yêu đương. Con của vua Thành Thái là vua Duy Tân cùng bị lưu đày nhưng sau đó tham gia quân đội Pháp đã bị vua Thành Thái không nhìn mặt.
Theo hồi ký “Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc” của ông Phạm Khắc Hòe, ông được Mệ Cưởi, em ruột vua Duy Tân có mặt trong đoàn lưu đày đến đảo Rê-uy-ni-ông, kể rằng: “Cha tôi (vua Thành Thái) không thèm gặp mặt anh tôi (vua Duy Tân) nữa”.
Ông Nguyễn Phước Vĩnh Giu kể, vua Thành Thái ở biệt thự Pháp cấp được 2 năm, không chịu sự bó buộc đã mướn một trang trại có căn nhà gỗ rộng lớn, đưa gia đình ra ở.
Cuộc sống khá vất vả và gia đình nhà vua đã phải làm nhiều nghề để sinh sống: Mộc, nề, sơn, điện… Vua, hoàng hậu, các hoàng tử, công chúa đều làm việc. Công chúa Lương Mỹ trở thành một thợ điện gia dụng có tiếng trên đảo, rồi bà mở tiệm chụp hình “Sài Gòn Photo”, mở tiệm bán rượu và đồ hộp đều đắt khách.
Cũng nhờ thế, sau này ông Vĩnh Giu vượt qua được nhiều thời kỳ khó khăn, như hồi mới giải phóng ngồi vá xe đạp ở lề đường và hiện nay hầu hết tủ, giường, bàn, ghế trong nhà do ông tự đóng lấy.
Ở đảo lưu đày, anh em ông Vĩnh Giu từng mua một chiếc ô tô cũ, bỏ hết phần trên, giữ cái gầm xe chế ra một chiếc xe nhẹ, đẹp và chạy nhanh khiến dân trên đảo thán phục. Trong nhiều nghề sinh sống, gia đình vua Thành Thái nổi tiếng nhất với nghề làm yên ngựa và điều này đã được viết trong một số sử sách.
Tôi hỏi ông Vĩnh Giu, ông còn nhớ bí quyết làm yên ngựa không? Ông trả lời, làm yên ngựa phải tùy thuộc vào từng con ngựa, thợ Tây làm đồng loạt nên không vừa với một số con, ngựa bị cấn xương sống không thể chạy nhanh.
Gặp những con ngựa như thế thợ Tây chịu và phải cậy đến anh em cựu hoàng tử. Yên ngựa do anh em ông làm lắp vào con ngựa nào cũng thít chặt, êm, ngựa chạy trở nên hay. Anh em ông còn đóng móng ngựa, may hia cưỡi ngựa.
Từ làm yên ngựa đi tới mua những con ngựa khỏe nhưng bị Tây chê vì không biết đóng yên vừa với nó, những con ngựa đó bán rẻ về tay anh em ông Vĩnh Giu đã thành ngựa đắt tiền và gia đình vua Thành Thái có chuồng nuôi ngựa đua. Ông Vĩnh Giu kể, anh của ông là hoàng tử Vĩnh Chương đã sống bằng nghề đua ngựa.
“Trong một gia đình nghiêm khắc và tự chủ như vậy, nguyên nhân nào để anh em ông theo đạo Thiên Chúa?”- Tôi hỏi. Ông Vĩnh Giu trả lời, mười mấy anh chị em chỉ có ông Vĩnh Quỳnh và ông theo đạo Thiên Chúa mà thôi.
Ông Vĩnh Quỳnh làm linh mục và ông Vĩnh Giu theo anh trai học chữ ở trường dòng thuở nhỏ. Tuy nhiên, để ông Vĩnh Giu tin vào Chúa phải kể đến một tai nạn hút chết.
Lúc 15 tuổi, ông Vĩnh Giu theo bạn bè tập bơi ở một con sông nước chảy xiết, lòng sông có nhiều đá. Bơi ra giữa sông thì ông đuối sức, chìm dần, đám bạn thấy thế chạy đi gọi người lớn. Bất giác ông kêu “Chúa ơi” thì trước mặt xuất hiện một cái nón làm bằng bần, ông ôm lấy và nước đẩy đi.
Tỉnh dậy, ông thấy mình nằm bên bờ sông đang ôm một cục đá. Ông nghĩ Chúa đã nghe lời ông kêu mà cứu ông. Tôi chỉ hỏi, từ đó ông theo đạo Thiên Chúa? Chưa, ông trả lời, về nước năm 1947, năm 1954 vua cha Thành Thái mất thì năm 1955 ông mới làm lễ rửa tội.
Ông Vĩnh Giu lại nói, tôi theo mọi đạo răn dạy làm người, trong nhà cũng có thờ cúng tổ tiên lạy ông lạy bà chứ không cũ quá theo một tôn giáo. Rồi ông cười thật vui vẻ, thanh thản ở tuổi 84.
Tôi nhận ra một cách sống linh hoạt của người Việt Nam, gia đình nhà vua nhưng trong hoàn cảnh ngặt nghèo cũng tìm được cách thoát ra để tồn tại và phát triển.
Theo Vietbao.vn
Đọc thêm!
Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2009
Khi Vững Tin, Hạnh Phúc Sẽ Tuôn Tràn
Thu Hương
“Khi Vững Tin, Hạnh Phúc Sẽ Tuôn Tràn”. Đấy là bài học mà tôi rút ra được khi đến tham dự buổi cầu nguyện Lòng Thương Xót Chúa và Đức Mẹ tại nhà thờ Chí Hòa vào chiều thứ năm vừa qua.
Câu chuyện về cuộc sống của tôi thì các phương tiện truyền thông cũng đã đăng tải nhiều rồi. Ngay tự bản thân mình, tôi cũng rất lấy làm ngỡ ngàng.
Khi có thể viết được cuốn sách “Hành Trình Xương Thuỷ Tinh” mà độc giả cho là rất hay, vì chỉ sau không đầy mười ngày, khi tác phẩm có mặt trên thị trường, nhà xuất bản đã phải nghĩ đến phương án tái bản. Sẽ không thể giải thích theo cách lý giải thông thường, vì tự bản thân mình, tôi biết rõ tôi yếu ớt, tầm thường, chưa làm được gì cho cuộc đời này. Vậy chỉ còn một cách lý giải thôi: Ấy là Lòng Thương Xót của Thiên Chúa.
Tôi thấm thía điều ấy khi tham dự thánh lễ tại nhà thờ Chí Hòa, nơi tôi và các con sinh ra từ trong bãi rác của mình, nhận được sự yêu thương, trìu mến của cộng đoàn cầu nguyện hàng mấy ngàn người. Nơi ấy, nhờ ơn Chúa, tác phẩm đầu tay, đứa con tinh thần của tôi mang tên “Hành Trình Xương Thủy Tinh” đã được cộng đoàn đón đọc một cách hào sảng, rộng lượng.
Tôi nghiệm ra rằng, nếu người ta cố gắng chỉ bằng sức riêng mình mà không có đức tin, thì sự cố gắng ấy làm cho tinh thần cảm thấy nặng nề, và sự khổ nhọc xác thân là rất lớn. Nhưng nếu ta cố gắng trong tin tưởng và phó thác, thì mọi sự sẽ lướt đi nhẹ nhàng, và thú vị lắm. Những vấn đề ta vẫn thường gặp như tai họa, khó khăn, thiếu thốn chỉ còn là sự nêm nếm vào, như gia vị cho cuộc đời thêm nhiều cung bậc. Chúa chỉ cần sự tin tưởng, như lời nguyện ở dưới mỗi tấm hình Lòng Thương Xót Chúa: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa”. Vâng! chỉ cần thế thôi, chúng ta sẽ cảm nhận được ân sủng tuôn xuống cuộc đời mình một cách rất đặc biệt và lạ lùng lắm các bạn ạ.
Đã có nhiều người hỏi tôi: “Động lực nào giúp chị vượt qua từng ấy khó khăn trong một đời người? Bệnh tật của đứa con mang chứng xương thủy tinh, sự thiếu thốn vật chất, phải lo lắng mỗi ngày, nỗi đau buồn khi bị cuộc đời vùi dập chà xát…”. Xin thưa với các bạn rằng, tôi không có gì để bám víu nơi cõi thế tục này. Những khi ấy, tôi bám víu vào hai tiếng “xin vâng” giản dị mà nhiệm mầu của Đức Mẹ, Đấng cao trọng trên tất cả mọi bà mẹ trên thế gian này. Mẹ đã đoạt vinh quang chỉ bằng sự vâng phục và tín thác, chứ không phải bằng nỗ lực riêng của Mẹ.
Hãy kêu xin Mẹ thì sẽ được bạn ạ! Cuộc đời tôi là một minh chứng rất rõ ràng. Cứ tin tưởng cầu xin trong niềm tín thác và yêu mến thì một người bán dạo rau muống lầm than, hay một người đi dọn rác ở tòa cao ốc cho những người giàu sang, cũng có thể viết nên những dòng chữ từ những câu chuyện rất đời thường, như những chứng nhân sống động làm cho người nghe, người đọc thấy thú vị và suy gẫm.
Cứ tin tưởng, và kiên trì cầu nguyện, Mẹ sẽ xin với Chúa ban cho bạn một sức mạnh và ý chí phi thường. Bằng chứng là cậu bé con tôi dù mắc chứng bệnh nan y “xương thủy tinh” đã có thể vượt qua mọi đau đớn, bệnh tật, đứng trên đôi chân của mình, để hôm nay có thể bước những bước chân vững vàng tới thánh đường Chí Hoà mà làm chứng và tôn vinh chúc tụng Chúa.
Và thưa bạn, nếu tin tưởng, Chúa sẽ gởi đến cho bạn những người có tấm lòng và trí tuệ để cùng bạn đi tiếp cuộc hành trình. Chúng ta sẽ không còn lẻ loi đơn độc nữa. Bởi vậy thay vì kêu khóc, thở than và oán trách cuộc đời mỗi khi gặp chuyện không may, tốt nhất là hãy cùng nhau phó dâng hết cho Mẹ, cho Thiên Chúa. Nếu tĩnh trí, ta sẽ nhận ra qua biến cố ấy, Thiên Chúa muốn trao ban cho ta một điều gì đó. Không chừng chúng ta sẽ gặt hái cả một kho tàng vô giá trong cái sự tưởng chừng như khốn nạn đen tối nhất.
Lạy Chúa Giêsu, con xin tạ ơn Chúa đã yêu thương con, đã ban cho con được anh chị em trong Cộng Đoàn Cầu Nguyện Chí Hòa hết lòng đùm bọc yêu thương. Con cũng tạ ơn Chúa cho con được có dịp lên làm chứng cho Lòng Thương Xót Chúa và Đức Mẹ với anh chị em mình. Xin Chúa ban cho con đức tin vững mạnh, không bị lung lay, vì hành trình trước mặt con còn rất dài và cam go không ít.
Cảm nghiệm sau buổi lên làm chứng tại Chí Hoà
tháng 8-2008
Thu Hương
URL: http://danchuausa.net/nho-me-den-voi-chua/khi-vung-tin-hanh-phuc-se-tuon-tran/
Đọc thêm!
“Khi Vững Tin, Hạnh Phúc Sẽ Tuôn Tràn”. Đấy là bài học mà tôi rút ra được khi đến tham dự buổi cầu nguyện Lòng Thương Xót Chúa và Đức Mẹ tại nhà thờ Chí Hòa vào chiều thứ năm vừa qua.
Câu chuyện về cuộc sống của tôi thì các phương tiện truyền thông cũng đã đăng tải nhiều rồi. Ngay tự bản thân mình, tôi cũng rất lấy làm ngỡ ngàng.
Khi có thể viết được cuốn sách “Hành Trình Xương Thuỷ Tinh” mà độc giả cho là rất hay, vì chỉ sau không đầy mười ngày, khi tác phẩm có mặt trên thị trường, nhà xuất bản đã phải nghĩ đến phương án tái bản. Sẽ không thể giải thích theo cách lý giải thông thường, vì tự bản thân mình, tôi biết rõ tôi yếu ớt, tầm thường, chưa làm được gì cho cuộc đời này. Vậy chỉ còn một cách lý giải thôi: Ấy là Lòng Thương Xót của Thiên Chúa.
Tôi thấm thía điều ấy khi tham dự thánh lễ tại nhà thờ Chí Hòa, nơi tôi và các con sinh ra từ trong bãi rác của mình, nhận được sự yêu thương, trìu mến của cộng đoàn cầu nguyện hàng mấy ngàn người. Nơi ấy, nhờ ơn Chúa, tác phẩm đầu tay, đứa con tinh thần của tôi mang tên “Hành Trình Xương Thủy Tinh” đã được cộng đoàn đón đọc một cách hào sảng, rộng lượng.
Tôi nghiệm ra rằng, nếu người ta cố gắng chỉ bằng sức riêng mình mà không có đức tin, thì sự cố gắng ấy làm cho tinh thần cảm thấy nặng nề, và sự khổ nhọc xác thân là rất lớn. Nhưng nếu ta cố gắng trong tin tưởng và phó thác, thì mọi sự sẽ lướt đi nhẹ nhàng, và thú vị lắm. Những vấn đề ta vẫn thường gặp như tai họa, khó khăn, thiếu thốn chỉ còn là sự nêm nếm vào, như gia vị cho cuộc đời thêm nhiều cung bậc. Chúa chỉ cần sự tin tưởng, như lời nguyện ở dưới mỗi tấm hình Lòng Thương Xót Chúa: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa”. Vâng! chỉ cần thế thôi, chúng ta sẽ cảm nhận được ân sủng tuôn xuống cuộc đời mình một cách rất đặc biệt và lạ lùng lắm các bạn ạ.
Đã có nhiều người hỏi tôi: “Động lực nào giúp chị vượt qua từng ấy khó khăn trong một đời người? Bệnh tật của đứa con mang chứng xương thủy tinh, sự thiếu thốn vật chất, phải lo lắng mỗi ngày, nỗi đau buồn khi bị cuộc đời vùi dập chà xát…”. Xin thưa với các bạn rằng, tôi không có gì để bám víu nơi cõi thế tục này. Những khi ấy, tôi bám víu vào hai tiếng “xin vâng” giản dị mà nhiệm mầu của Đức Mẹ, Đấng cao trọng trên tất cả mọi bà mẹ trên thế gian này. Mẹ đã đoạt vinh quang chỉ bằng sự vâng phục và tín thác, chứ không phải bằng nỗ lực riêng của Mẹ.
Hãy kêu xin Mẹ thì sẽ được bạn ạ! Cuộc đời tôi là một minh chứng rất rõ ràng. Cứ tin tưởng cầu xin trong niềm tín thác và yêu mến thì một người bán dạo rau muống lầm than, hay một người đi dọn rác ở tòa cao ốc cho những người giàu sang, cũng có thể viết nên những dòng chữ từ những câu chuyện rất đời thường, như những chứng nhân sống động làm cho người nghe, người đọc thấy thú vị và suy gẫm.
Cứ tin tưởng, và kiên trì cầu nguyện, Mẹ sẽ xin với Chúa ban cho bạn một sức mạnh và ý chí phi thường. Bằng chứng là cậu bé con tôi dù mắc chứng bệnh nan y “xương thủy tinh” đã có thể vượt qua mọi đau đớn, bệnh tật, đứng trên đôi chân của mình, để hôm nay có thể bước những bước chân vững vàng tới thánh đường Chí Hoà mà làm chứng và tôn vinh chúc tụng Chúa.
Và thưa bạn, nếu tin tưởng, Chúa sẽ gởi đến cho bạn những người có tấm lòng và trí tuệ để cùng bạn đi tiếp cuộc hành trình. Chúng ta sẽ không còn lẻ loi đơn độc nữa. Bởi vậy thay vì kêu khóc, thở than và oán trách cuộc đời mỗi khi gặp chuyện không may, tốt nhất là hãy cùng nhau phó dâng hết cho Mẹ, cho Thiên Chúa. Nếu tĩnh trí, ta sẽ nhận ra qua biến cố ấy, Thiên Chúa muốn trao ban cho ta một điều gì đó. Không chừng chúng ta sẽ gặt hái cả một kho tàng vô giá trong cái sự tưởng chừng như khốn nạn đen tối nhất.
Lạy Chúa Giêsu, con xin tạ ơn Chúa đã yêu thương con, đã ban cho con được anh chị em trong Cộng Đoàn Cầu Nguyện Chí Hòa hết lòng đùm bọc yêu thương. Con cũng tạ ơn Chúa cho con được có dịp lên làm chứng cho Lòng Thương Xót Chúa và Đức Mẹ với anh chị em mình. Xin Chúa ban cho con đức tin vững mạnh, không bị lung lay, vì hành trình trước mặt con còn rất dài và cam go không ít.
Cảm nghiệm sau buổi lên làm chứng tại Chí Hoà
tháng 8-2008
Thu Hương
URL: http://danchuausa.net/nho-me-den-voi-chua/khi-vung-tin-hanh-phuc-se-tuon-tran/
Đọc thêm!
Thứ Năm, 27 tháng 8, 2009
Những vụ hồi sinh hy hữu
http://images4.dantri.com.vn/Uploaded/vandt/thang6/chet-0607.jpg
Sau 30 phút giành giật trong vô vọng, các bác sĩ ở bệnh viện Mater (Ai-len) sầu thảm tuyên bố không thể cứu sống Freddie Maguire. Vợ con ông được dịp khóc hết nước mắt khi nhà xác buông vải niệm và đưa kẻ xấu số vào hòm. Bất ngờ thay đúng vào lúc nắp quan tài chuẩn bị sập xuống, bàn tay trắng bệch của người chết lật bật vươn ra, ngăn lại.
May mắn, điều kỳ diệu không phải là giấc mơ: sau khi bước ra khỏi nhà xác, ông Maguire 47 tuổi sống trong nội thành phía bắc Dublin hồi phục chóng vánh khác thường. Trước sự việc quá đỗi kỳ lạ, các phương tiện truyền thông Ai-len bèn đặt cho ông cái tên “Jesus Christ”.
Ông Maguire lên cơn đau tim dữ dội giữalúc đang tiến hành điều trị một căn bệnh khác tại hàng ca mổ tại bệnh viện M i giữ lúc đang ca phẫu thuậtd đặt cho ông cái tênu trị bệnh viện Mater. Sau hơn nửa tiếng vật lộn với tử thần, các bác sĩ tuyên bố đã đến lúc người nhà lo chuyện hậu sự.
Tin dữ nhanh chóng được thông báo tới tất cả người thân. Các thủ tục tang lễ rục rịch tiến hành. Bản thân bà Maguire chưa qua nổi cơn sốc vẫn đi lại thẫn thờ trong hành lang bệnh viện.
“Đúng lúc đó thì cháu gái tôi chạy đến thông báo: “Ông vẫn còn sống”. Tôi không thể tin điều đó là thực cho đến khi tận mắt chứng kiến nhịp thở đã phập phồng trở lại trong lồng ngực ông nhà” - bà góa “hụt” nhớ lại.
“Chỉ cần một tích tắc không kịp trở tay là chúng tôi có thể mất ông ấy vĩnh viễn”.
Về trách nhiệm tuyên bố sai cái chết của ông Maguire, đại diện bệnh viện Mater cho biết, hiện quá trình điều tra nội bộ vẫn đang được tiến hành và đến cuối tháng này họ sẽ đưa ra kết luận chính thức.
Tuy là hiện tượng hy hữu nhưng việc hồi sinh như của ông Freddie Maguire không phải lần đầu tiên xảy ra trong lịch sử y học.
- Năm 1976, một bác sĩ người Xô-viết cũ tên George Rodonaia gặp tai nạn xe hơi, bị tuyên bố từ trần và đưa vào nhà xác của bệnh viện. Mãi 3 ngày sau khi người ta tiến hành khám nghiệm tử thi, rạch vào dạ dày mới phát hiện vẫn còn dấu hiệu của sự sống.
Lúc tỉnh lại, George Rodonaia còn nhớ rất rõ về khoảng thời gian “chết hụt” kinh hoàng: “Bao phủ quanh tôi là bóng tối đen kịt. Sau đó tôi nhớ tới một câu nói nổi tiếng của triết gia Descartes: “Tôi tư duy nghĩa là tôi còn tồn tại”. Đó là lúc tôi hiểu rằng mình vẫn còn sống”.
- Cách đây 50 năm, cô Allison Burchell 21 tuổi người Úc mắc chứng bệnh narcolepsy-cataplexy (tê liệt trong giấc ngủ) bị tuyên bố chết lần đầu tiên và đăng ký "hộ khẩu" trong nhà xác. Tỉnh dậy trong trạng thái mơ màng, cô này đã khiến 1 nhân viên kỹ thuật suýt... rụng tim khi thều thào nhờ anh ta đưa mình đến bệnh viện.
Sau này, cô Burchell còn “chết nhầm” thêm 2 lần nữa, cả hai lần đều may mắn hồi sinh.
- Một thiếu niên ở bang Victoria có tên George Hayward bị cây sào xới cỏ khô bổ vào người trong lúc làm việc trong nông trại. Vết thương bị nhiễm trùng, Hayward bị khai tử trước khi tiến hành an táng.
Đám ma cử hành xong xuôi, hai bác sĩ mới quyết định khám nghiệm lại tử thi - xem anh chàng này có phải chết vì nhiễm trùng hay không. Dao mổ chưa kịp chạm vào người, Hayward đã mở mắt trừng trừng khiến tất thảy người chung quanh được phen khiếp đảm. Sau này, cụ ông George Hayward thọ tới tuổi 84.
Thùy Vân
Theo Times Online
Đọc thêm!
Sau 30 phút giành giật trong vô vọng, các bác sĩ ở bệnh viện Mater (Ai-len) sầu thảm tuyên bố không thể cứu sống Freddie Maguire. Vợ con ông được dịp khóc hết nước mắt khi nhà xác buông vải niệm và đưa kẻ xấu số vào hòm. Bất ngờ thay đúng vào lúc nắp quan tài chuẩn bị sập xuống, bàn tay trắng bệch của người chết lật bật vươn ra, ngăn lại.
May mắn, điều kỳ diệu không phải là giấc mơ: sau khi bước ra khỏi nhà xác, ông Maguire 47 tuổi sống trong nội thành phía bắc Dublin hồi phục chóng vánh khác thường. Trước sự việc quá đỗi kỳ lạ, các phương tiện truyền thông Ai-len bèn đặt cho ông cái tên “Jesus Christ”.
Ông Maguire lên cơn đau tim dữ dội giữalúc đang tiến hành điều trị một căn bệnh khác tại hàng ca mổ tại bệnh viện M i giữ lúc đang ca phẫu thuậtd đặt cho ông cái tênu trị bệnh viện Mater. Sau hơn nửa tiếng vật lộn với tử thần, các bác sĩ tuyên bố đã đến lúc người nhà lo chuyện hậu sự.
Tin dữ nhanh chóng được thông báo tới tất cả người thân. Các thủ tục tang lễ rục rịch tiến hành. Bản thân bà Maguire chưa qua nổi cơn sốc vẫn đi lại thẫn thờ trong hành lang bệnh viện.
“Đúng lúc đó thì cháu gái tôi chạy đến thông báo: “Ông vẫn còn sống”. Tôi không thể tin điều đó là thực cho đến khi tận mắt chứng kiến nhịp thở đã phập phồng trở lại trong lồng ngực ông nhà” - bà góa “hụt” nhớ lại.
“Chỉ cần một tích tắc không kịp trở tay là chúng tôi có thể mất ông ấy vĩnh viễn”.
Về trách nhiệm tuyên bố sai cái chết của ông Maguire, đại diện bệnh viện Mater cho biết, hiện quá trình điều tra nội bộ vẫn đang được tiến hành và đến cuối tháng này họ sẽ đưa ra kết luận chính thức.
Tuy là hiện tượng hy hữu nhưng việc hồi sinh như của ông Freddie Maguire không phải lần đầu tiên xảy ra trong lịch sử y học.
- Năm 1976, một bác sĩ người Xô-viết cũ tên George Rodonaia gặp tai nạn xe hơi, bị tuyên bố từ trần và đưa vào nhà xác của bệnh viện. Mãi 3 ngày sau khi người ta tiến hành khám nghiệm tử thi, rạch vào dạ dày mới phát hiện vẫn còn dấu hiệu của sự sống.
Lúc tỉnh lại, George Rodonaia còn nhớ rất rõ về khoảng thời gian “chết hụt” kinh hoàng: “Bao phủ quanh tôi là bóng tối đen kịt. Sau đó tôi nhớ tới một câu nói nổi tiếng của triết gia Descartes: “Tôi tư duy nghĩa là tôi còn tồn tại”. Đó là lúc tôi hiểu rằng mình vẫn còn sống”.
- Cách đây 50 năm, cô Allison Burchell 21 tuổi người Úc mắc chứng bệnh narcolepsy-cataplexy (tê liệt trong giấc ngủ) bị tuyên bố chết lần đầu tiên và đăng ký "hộ khẩu" trong nhà xác. Tỉnh dậy trong trạng thái mơ màng, cô này đã khiến 1 nhân viên kỹ thuật suýt... rụng tim khi thều thào nhờ anh ta đưa mình đến bệnh viện.
Sau này, cô Burchell còn “chết nhầm” thêm 2 lần nữa, cả hai lần đều may mắn hồi sinh.
- Một thiếu niên ở bang Victoria có tên George Hayward bị cây sào xới cỏ khô bổ vào người trong lúc làm việc trong nông trại. Vết thương bị nhiễm trùng, Hayward bị khai tử trước khi tiến hành an táng.
Đám ma cử hành xong xuôi, hai bác sĩ mới quyết định khám nghiệm lại tử thi - xem anh chàng này có phải chết vì nhiễm trùng hay không. Dao mổ chưa kịp chạm vào người, Hayward đã mở mắt trừng trừng khiến tất thảy người chung quanh được phen khiếp đảm. Sau này, cụ ông George Hayward thọ tới tuổi 84.
Thùy Vân
Theo Times Online
Đọc thêm!
Trường hợp Bác sĩ George Rodonaia
Bác sĩ George Rodonaia là 1 bác sĩ đồng thời là 1 tiến sĩ trong ngành thần kinh học & cũng là 1 tiến sĩ tâm lý học tôn giáo. Gần đây nhất, ông đã có 1 phát biểu quan trọng ở Mỹ trong cuốn sách “Tôn giáo mới của nhân loại”. Trước khi nhập cư vào Mỹ từ Liên Xô cũ vào năm 1989, ông là 1 chuyên gia nghiên cứu về thần kinh tại Đại học Moscow.
Bác sĩ Rodonaia đã trải qua 1 trong những “kinh nghiệm cận tử” đặc biệt nhất được ghi nhận từ trước đến giờ. Được phát hiện chết ngay lập tức sau 1 vụ tai nạn ô tô vào năm 1976, ông được đưa vào nhà xác và ở đó trong 3 ngày. Ông ta vẫn không hồi sinh cho tới khi bác sí tiến hành giải phẩu phần bụng như 1 phần của công tác khám nghiệm tử thi.
Một điểm đáng chú ý khác của trường hợp tiến sĩ Rodonaia là ông đã thay đổi hoàn toàn sau “kinh nghiệm cận tử”. Trước khi trải qua “kinh nghiệm cận tử”, ông là 1 nhà thần kinh học. Ông cũng được biết đến như là 1 người theo chủ nghĩa vô thần. Vậy mà sau sự trải nghiệm, ông đã buộc mình phải dồn sức cho việc học bộ môn tâm lý học tôn giáo. Và sau đó ông trở thành 1 tín đồ trong nhà thờ Eastern Orthodox. Hôm nay, ông là mục sư tại nhà thờ the First united Methodist ở Nederland, bang Texas, Hoa Kỳ.
Điều đầu tiên tôi nhớ nhất trong “kinh nghiệm cận tử” của mình là tôi thấy mình đang ở trong 1 không gian hoàn toàn tối tăm không ánh sáng. Tôi không thấy đau đớn gì về thể xác; Tôi vẫn cảm nhận được sự tồn tại của chính mình như là anh chàng George khi nào, và bóng tối vây quanh tôi, mọi thứ thật sự tối tăm hơn bao giờ hết, tối đen như mực. Những thứ đó làm tôi cảm thấy sợ. Tôi chưa chuẩn bị đối mặt với những điều như vầy bao giờ. Tôi cảm thấy sốc khi biết mình vẫn còn tồn tại nhưng không biết mình đang ở đâu. Một ý nghĩ chợt lóe lên là: “Làm sao tôi có thể tồn tại khi tôi không tồn tại?” Điều đó thật sự làm tôi kinh hãi.
Một cách chậm chạp, tôi lấy lại bình tĩnh và bắt đầu nhớ lại những gì đã diễn ra. Nhưng vẫn không có bất cứ điều gì làm tôi cảm thấy dễ chịu & thoải mái. “Tại sao tôi lại ở trong cái nơi tối tăm thế này?” “Tôi phải làm gì?” Và tôi nhớ lại 1 câu nói của Descartes: “Tôi tư duy vì vậy tôi tồn tại”. Và điều đó đã làm tôi cảm thấy nhẹ nhõm hơn rất nhiều và chắc chắn rằng mình vẫn còn sống mặc dù là ở 1 chiều không gian khác. Sau đó tôi lại có 1 ý nghĩ: “Nếu tôi tồn tại thì sao tôi lại không ở 1 nơi tốt đẹp?” Đó là những gì xung quanh tôi lúc đó. “Tôi là George và tôi đang ở trong 1 nơi tăm tối nhưng tôi biết tôi đang ở đâu. Tôi đang ở nơi tôi ở. Tôi không thể ở nơi tồi tệ thế này.
Sau đó tôi nghĩ:”Làm sao tìm thấy sự tốt đẹp trong bóng tối?” À, điều tốt đẹp là ánh sáng. Bỗng nhiên xung quanh tôi tràn ngập ánh sáng trắng, rất sáng đẹp, và mạnh mẽ như ánh sáng đèn flash của máy chụp ảnh nhưng không chói mắt. Xung quanh vẫn tràn ngập ánh sáng, tôi nhận ra một phần ánh sáng làm tôi đau đớn. Tôi không thể nhìn trực tiếp vào nó. Nhưng 1 cách từ từ, tôi bắt đầu cảm thấy an toàn, ấm áp và mọi thứ đột nhiên trở nên tốt đẹp.
Điều diễn ra sau đó là tôi thấy rất nhiều phân tử, nguyên tử, proton, nơtron bay khắp nơi & cả ngay xung quanh mình. Nói 1 cách khác, chúng hoàn toàn hỗn lọan, vậy mà nó đem lại cho tôi một sự phấn khích rằng sự hỗn lọan này có cái ổn định riêng của nó. Cái trật tự này rất đẹp và hợp thành 1 khối thống nhất, và làm tôi phấn khích kinh khủng. Tôi đã nhìn thấy 1 thực thể bao trùm nhiều dạng sự sống khác nhau và thế giới tự nhiên hiện ra trước mắt tôi. Mọi ý thức lo âu về thể xác của mình hầu như tan biến trong tôi vào thời điểm này vì rõ ràng tôi chẳng cần tới nó nữa, một sự cản trở & hạn chế thật sự.
Mọi thứ trong cả quá trình trải nghiệm đều hợp nhất lại với nhau. Do đó thật khó mà diễn tả trình tự trước sau của tất cả sự kiện diễn ra. Thời gian hoàn toàn lắng đọng & không có ý nghĩa; quá khứ, hiện tại & tương lai đều kết hợp với nhau và diễn ra trước mắt tôi trong 1 khối thống nhất không có khái niệm về thời gian.
Trong 1 lúc nào đó, tôi đã trải qua “1 sự ôn lại tòan bộ những gì đã diễn ra trong quãng đời sống trước khi chết” và tôi thấy tất cả từ đầu đến cuối trong cùng 1 lúc. Tôi cảm nhận là mình tham gia vào đó như lúc đang còn sống, giống 1 vở kịch với hình ảnh 3 chiều của đời sống trước khi chết – nhưng không có khái niệm về thời gian; không quá khứ, hiện tại hay tương lai, chỉ là bây giờ với đời sống thực. Nó không theo trình tự bắt đầu từ lúc sinh cho đến lúc làm việc ở Đại học Moscow. Nó hiện ra tất cả đồng thời cùng 1 lúc. Và tôi đã ở đó. Đó là cuộc sống đã qua của tôi. Tôi không cảm nhận bất cứ cảm giác tội lỗi hay hối tiếc về những gì mình đã làm. Tôi không có 1 cảm giác nào hay bất cứ thứ gì, dù chỉ là 1, về những sai lầm, tội lỗi hay những gì đã đạt được. Tất cả chỉ là cảm giác rằng đời sống đó là của tôi và nó là như vậy. Tôi cảm thấy hài lòng và chấp nhận điều đó.
Trong lúc đó, ánh sáng đó truyền cho tôi cảm giác của sự thanh bình và hoan lạc. Nó thật tốt đẹp. Tôi cảm thấy thật hạnh phúc khi ở trong ánh sáng đó. Và tôi hiểu ánh sáng đó là gì. Tôi hiểu được rằng tất cả những định luật vật lý thông thường đều vô nghĩa với khối thống nhất bao trùm này. Tôi cũng đã hiểu được rằng lỗ đen vũ trụ chỉ là 1 phần khác của vô cực, của tuyệt đối hay nói 1 cách khác là của ánh sáng tràn ngập quanh tôi. Tôi hiểu thực thể này ở khắp mọi nơi. Đó không phải đơn giản là đời sống trên mặt đất mà là chân như. Mọi thứ không chỉ kết nối với nhau mà còn hợp nhất thành một. Vì thế tôi cảm nhận mình là 1 phần của ánh sáng đó, cảm giác đó đúng với tôi và toàn vũ trụ.
Và tôi đã ở đó với tràn ngập những điều tốt đẹp và những trải nghiệm tuyệt vời trong khi 1 người nào đó đang mổ bụng cái xác tôi. Bạn có thể tưởng tượng nổi không? Tôi đã bị đem vào nhà xác. Tôi đã được cho là đã chết và bỏ trong nhà xác 3 ngày liền. Một cuộc khám nghiệm tử thi đã được tiến hành. Khi họ bắt đầu mổ bụng tôi, tôi cảm giác như có 1 lực rất mạnh nào đó lôi cổ tôi và nhấn tôi xuống. Cái lực đó rất mạnh và tôi mở mắt kèm theo cảm giác đau đớn kinh khủng. Cơ thể tôi rất lạnh và tôi bắt đầu run rẩy. Những người tham gia khám nghiệm ngay lập tức dừng lại và đưa tôi vào bệnh viện nơi mà tôi phải nằm điều trị trong 9 tháng liên tục với máy trợ thở.
Từ từ rồi tôi cũng đã hồi phục. Nhưng tôi chẳng bao giờ được trải qua những điều như vậy 1 lần nữa, bởi vì điều tôi muốn làm trong suốt quãng đời còn lại là trau dồi thêm kiến thức. Điều mong mỏi này đã khiến cho tôi tham gia học tập tai Đại học Georgia, nơi tôi đã lấy được bằng tiến sĩ thứ 2 trong lĩnh vực tâm lý học tôn giáo. Sau đó tôi trở thành tín đồ của nhà thờ Eastern Orthodox. Và vào năm 1989, chúng tôi đến Mỹ và tôi trở thành mục sư cho nhà thờ nhà thờ the First united Methodist ở Nederland bang Texas, Hoa Kỳ.
Bất cứ ai có những trải nghiệm như vậy với Thượng Đế hoặc cảm nhận được cảm giác kết nối với chân như, đều biết rằng chỉ có 1 việc phải làm cho tốt là yêu thương, yêu thương tự nhiên, yêu thương mọi người, yêu thương loài vật, yêu thương tạo hóa. Phục vụ Thượng Đế với tình yêu chân thành rộng mở và cảm thông. Đó là ý nghĩa của việc chúng ta tồn tại trên cõi đời này.
Rất nhiều người quay lưng với những người có được trải nghiệm đối với “kinh nghiệm cận tử” bởi vì họ cảm giác rằng chúng ta đã có câu trả lời. Nhưng tôi cho rằng đó không đúng, ít nhất là không hoàn toàn. Không ai trong chúng ta có thể tiếp cận hoặc hiểu rõ hoàn toàn cái sự thật vĩ đại cho tới khi nào chúng ta hòa nhập hoàn toàn với vô cùng, với chân như khi chúng ta chết thật sự. Nhưng trong 1 lúc nào đó, đó là 1 điều rất tự nhiên khi chúng ta tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi về “kinh nghiệm cận tử” và vĩnh hằng.
http://www.nderf.org/Vietnamese/george_rodonaia_nde.htm
Đọc thêm!
Bác sĩ Rodonaia đã trải qua 1 trong những “kinh nghiệm cận tử” đặc biệt nhất được ghi nhận từ trước đến giờ. Được phát hiện chết ngay lập tức sau 1 vụ tai nạn ô tô vào năm 1976, ông được đưa vào nhà xác và ở đó trong 3 ngày. Ông ta vẫn không hồi sinh cho tới khi bác sí tiến hành giải phẩu phần bụng như 1 phần của công tác khám nghiệm tử thi.
Một điểm đáng chú ý khác của trường hợp tiến sĩ Rodonaia là ông đã thay đổi hoàn toàn sau “kinh nghiệm cận tử”. Trước khi trải qua “kinh nghiệm cận tử”, ông là 1 nhà thần kinh học. Ông cũng được biết đến như là 1 người theo chủ nghĩa vô thần. Vậy mà sau sự trải nghiệm, ông đã buộc mình phải dồn sức cho việc học bộ môn tâm lý học tôn giáo. Và sau đó ông trở thành 1 tín đồ trong nhà thờ Eastern Orthodox. Hôm nay, ông là mục sư tại nhà thờ the First united Methodist ở Nederland, bang Texas, Hoa Kỳ.
Điều đầu tiên tôi nhớ nhất trong “kinh nghiệm cận tử” của mình là tôi thấy mình đang ở trong 1 không gian hoàn toàn tối tăm không ánh sáng. Tôi không thấy đau đớn gì về thể xác; Tôi vẫn cảm nhận được sự tồn tại của chính mình như là anh chàng George khi nào, và bóng tối vây quanh tôi, mọi thứ thật sự tối tăm hơn bao giờ hết, tối đen như mực. Những thứ đó làm tôi cảm thấy sợ. Tôi chưa chuẩn bị đối mặt với những điều như vầy bao giờ. Tôi cảm thấy sốc khi biết mình vẫn còn tồn tại nhưng không biết mình đang ở đâu. Một ý nghĩ chợt lóe lên là: “Làm sao tôi có thể tồn tại khi tôi không tồn tại?” Điều đó thật sự làm tôi kinh hãi.
Một cách chậm chạp, tôi lấy lại bình tĩnh và bắt đầu nhớ lại những gì đã diễn ra. Nhưng vẫn không có bất cứ điều gì làm tôi cảm thấy dễ chịu & thoải mái. “Tại sao tôi lại ở trong cái nơi tối tăm thế này?” “Tôi phải làm gì?” Và tôi nhớ lại 1 câu nói của Descartes: “Tôi tư duy vì vậy tôi tồn tại”. Và điều đó đã làm tôi cảm thấy nhẹ nhõm hơn rất nhiều và chắc chắn rằng mình vẫn còn sống mặc dù là ở 1 chiều không gian khác. Sau đó tôi lại có 1 ý nghĩ: “Nếu tôi tồn tại thì sao tôi lại không ở 1 nơi tốt đẹp?” Đó là những gì xung quanh tôi lúc đó. “Tôi là George và tôi đang ở trong 1 nơi tăm tối nhưng tôi biết tôi đang ở đâu. Tôi đang ở nơi tôi ở. Tôi không thể ở nơi tồi tệ thế này.
Sau đó tôi nghĩ:”Làm sao tìm thấy sự tốt đẹp trong bóng tối?” À, điều tốt đẹp là ánh sáng. Bỗng nhiên xung quanh tôi tràn ngập ánh sáng trắng, rất sáng đẹp, và mạnh mẽ như ánh sáng đèn flash của máy chụp ảnh nhưng không chói mắt. Xung quanh vẫn tràn ngập ánh sáng, tôi nhận ra một phần ánh sáng làm tôi đau đớn. Tôi không thể nhìn trực tiếp vào nó. Nhưng 1 cách từ từ, tôi bắt đầu cảm thấy an toàn, ấm áp và mọi thứ đột nhiên trở nên tốt đẹp.
Điều diễn ra sau đó là tôi thấy rất nhiều phân tử, nguyên tử, proton, nơtron bay khắp nơi & cả ngay xung quanh mình. Nói 1 cách khác, chúng hoàn toàn hỗn lọan, vậy mà nó đem lại cho tôi một sự phấn khích rằng sự hỗn lọan này có cái ổn định riêng của nó. Cái trật tự này rất đẹp và hợp thành 1 khối thống nhất, và làm tôi phấn khích kinh khủng. Tôi đã nhìn thấy 1 thực thể bao trùm nhiều dạng sự sống khác nhau và thế giới tự nhiên hiện ra trước mắt tôi. Mọi ý thức lo âu về thể xác của mình hầu như tan biến trong tôi vào thời điểm này vì rõ ràng tôi chẳng cần tới nó nữa, một sự cản trở & hạn chế thật sự.
Mọi thứ trong cả quá trình trải nghiệm đều hợp nhất lại với nhau. Do đó thật khó mà diễn tả trình tự trước sau của tất cả sự kiện diễn ra. Thời gian hoàn toàn lắng đọng & không có ý nghĩa; quá khứ, hiện tại & tương lai đều kết hợp với nhau và diễn ra trước mắt tôi trong 1 khối thống nhất không có khái niệm về thời gian.
Trong 1 lúc nào đó, tôi đã trải qua “1 sự ôn lại tòan bộ những gì đã diễn ra trong quãng đời sống trước khi chết” và tôi thấy tất cả từ đầu đến cuối trong cùng 1 lúc. Tôi cảm nhận là mình tham gia vào đó như lúc đang còn sống, giống 1 vở kịch với hình ảnh 3 chiều của đời sống trước khi chết – nhưng không có khái niệm về thời gian; không quá khứ, hiện tại hay tương lai, chỉ là bây giờ với đời sống thực. Nó không theo trình tự bắt đầu từ lúc sinh cho đến lúc làm việc ở Đại học Moscow. Nó hiện ra tất cả đồng thời cùng 1 lúc. Và tôi đã ở đó. Đó là cuộc sống đã qua của tôi. Tôi không cảm nhận bất cứ cảm giác tội lỗi hay hối tiếc về những gì mình đã làm. Tôi không có 1 cảm giác nào hay bất cứ thứ gì, dù chỉ là 1, về những sai lầm, tội lỗi hay những gì đã đạt được. Tất cả chỉ là cảm giác rằng đời sống đó là của tôi và nó là như vậy. Tôi cảm thấy hài lòng và chấp nhận điều đó.
Trong lúc đó, ánh sáng đó truyền cho tôi cảm giác của sự thanh bình và hoan lạc. Nó thật tốt đẹp. Tôi cảm thấy thật hạnh phúc khi ở trong ánh sáng đó. Và tôi hiểu ánh sáng đó là gì. Tôi hiểu được rằng tất cả những định luật vật lý thông thường đều vô nghĩa với khối thống nhất bao trùm này. Tôi cũng đã hiểu được rằng lỗ đen vũ trụ chỉ là 1 phần khác của vô cực, của tuyệt đối hay nói 1 cách khác là của ánh sáng tràn ngập quanh tôi. Tôi hiểu thực thể này ở khắp mọi nơi. Đó không phải đơn giản là đời sống trên mặt đất mà là chân như. Mọi thứ không chỉ kết nối với nhau mà còn hợp nhất thành một. Vì thế tôi cảm nhận mình là 1 phần của ánh sáng đó, cảm giác đó đúng với tôi và toàn vũ trụ.
Và tôi đã ở đó với tràn ngập những điều tốt đẹp và những trải nghiệm tuyệt vời trong khi 1 người nào đó đang mổ bụng cái xác tôi. Bạn có thể tưởng tượng nổi không? Tôi đã bị đem vào nhà xác. Tôi đã được cho là đã chết và bỏ trong nhà xác 3 ngày liền. Một cuộc khám nghiệm tử thi đã được tiến hành. Khi họ bắt đầu mổ bụng tôi, tôi cảm giác như có 1 lực rất mạnh nào đó lôi cổ tôi và nhấn tôi xuống. Cái lực đó rất mạnh và tôi mở mắt kèm theo cảm giác đau đớn kinh khủng. Cơ thể tôi rất lạnh và tôi bắt đầu run rẩy. Những người tham gia khám nghiệm ngay lập tức dừng lại và đưa tôi vào bệnh viện nơi mà tôi phải nằm điều trị trong 9 tháng liên tục với máy trợ thở.
Từ từ rồi tôi cũng đã hồi phục. Nhưng tôi chẳng bao giờ được trải qua những điều như vậy 1 lần nữa, bởi vì điều tôi muốn làm trong suốt quãng đời còn lại là trau dồi thêm kiến thức. Điều mong mỏi này đã khiến cho tôi tham gia học tập tai Đại học Georgia, nơi tôi đã lấy được bằng tiến sĩ thứ 2 trong lĩnh vực tâm lý học tôn giáo. Sau đó tôi trở thành tín đồ của nhà thờ Eastern Orthodox. Và vào năm 1989, chúng tôi đến Mỹ và tôi trở thành mục sư cho nhà thờ nhà thờ the First united Methodist ở Nederland bang Texas, Hoa Kỳ.
Bất cứ ai có những trải nghiệm như vậy với Thượng Đế hoặc cảm nhận được cảm giác kết nối với chân như, đều biết rằng chỉ có 1 việc phải làm cho tốt là yêu thương, yêu thương tự nhiên, yêu thương mọi người, yêu thương loài vật, yêu thương tạo hóa. Phục vụ Thượng Đế với tình yêu chân thành rộng mở và cảm thông. Đó là ý nghĩa của việc chúng ta tồn tại trên cõi đời này.
Rất nhiều người quay lưng với những người có được trải nghiệm đối với “kinh nghiệm cận tử” bởi vì họ cảm giác rằng chúng ta đã có câu trả lời. Nhưng tôi cho rằng đó không đúng, ít nhất là không hoàn toàn. Không ai trong chúng ta có thể tiếp cận hoặc hiểu rõ hoàn toàn cái sự thật vĩ đại cho tới khi nào chúng ta hòa nhập hoàn toàn với vô cùng, với chân như khi chúng ta chết thật sự. Nhưng trong 1 lúc nào đó, đó là 1 điều rất tự nhiên khi chúng ta tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi về “kinh nghiệm cận tử” và vĩnh hằng.
http://www.nderf.org/Vietnamese/george_rodonaia_nde.htm
Đọc thêm!
Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2009
Chúa Jesus, Đấng Cứu Thế Của Đời Tôi
Người làm chứng: Văn Thầy Bùa
Có lẽ quí vị chưa được biết tôi, tôi tự khai lý lịch, lý lịch trích ngang mà thôi. Tôi là Văn một thầy bùa, báo chí thường gọi là thầy phù thủy. Nói cho thanh cao vậy chứ thầy bùa, thầy pháp, thầy phù thủy đều là một. Những người hành nghề này không làm cho Đức Chúa Trời vui lòng, trước đây tôi không biết, tôi nghĩ tôi làm như vậy là cứu nhân độ thế, rất hết sức tốt. Giòng họ tôi thờ hình tượng làm thầy bùa, thầy bùa nòi. Người ta là đạo nòi còn chúng tôi là thầy bùa nòi. Hai điều nầy khác xa nhau lắm, tôi xin thưa với quí vị như vậy. Tôi làm chứng lại về quyền năng sự chữa bệnh lạ lùng của Chúa ban ơn cho gia đình tôi, và tôi đã quyết định tin Chúa
. Chúa Chữa Bệnh Cho Con Gái Tôi.
Nói về bệnh bướu cổ mà cầu nguyện tôi không thể tin được, nói về ma tà, quỉ quái Chúa đuổi được chứ bệnh bưởu cổ, Chúa chữa lành tôi không bao giờ tin. Qua bao năm tháng tôi đi theo y khoa, hết bệnh viện này đến bệnh viện khác. Thời gian giải phóng tháng 4 năm 1975, con tôi không còn được tiếp tục điều trị ở bệnh viện Nhi đồng nửa, phải trở về nhà. Một năm sau bệnh tình cháu hết sức là nặng, vợ chồng tôi chỉ chờ cho cháu chết. Thật lòng mà nói lúc ấy không có thuốc chứ không phải bác sĩ dở, bác sĩ giỏi mà không có thuốc cũng chẳng làm được gì cả.
Đem cháu vào bệnh viện Chợ Rẫy, lúc đó có khoa bướu cổ, con tôi đã suy tim mạch trầm trọng, nó bị bướu nội, bác sĩ cho biết bướu nầy thuộc loại độc. Sau khi điều trị ba tháng, con tôi lại càng ngày càng tiều tụy, bởi cớ uống thuốc cầm chừng, bệnh bé càng ngày càng nặng. Bác sĩ thật tình nói nếu anh muốn để cháu ở đây chỉ kéo dài thời gian thôi chứ không chắc gì. Bây giờ chỉ còn cách giải phẩu, giải phẩu cháu chịu không nổi, yếu lắm. Tôi quyết định đem con về, thà nó chết ở nhà, nếu để chết tại bệnh viện cực khổ lại tốn hao nhiều. Vợ chồng tôi thuận ý đem con về. Thú thật với quí vị, tôi không thể nào diễn tả tâm trạng tôi lúc đó, người làm cha làm mẹ nhìn con mình chết lần mòn không có thuốc trị, tiền hết con lại càng ngày càng yếu.
Vợ tôi mới nhớ khi con tôi sanh ra độ chừng ba bốn tháng, nó bú cứ ói, nó bú sữa mẹ không được cho bú sữa bò nó cũng ói. Sau đó người ta nói con tôi có căn số gì đó, không chịu các loại sữa này, hãy cho uống nước cơm. Lúc đó, chúng tôi tin tưởng nhiều việc thật là lạ lùng. Con nít cho uống nước cơm làm sao lớn nổi, nó suy dinh dưỡng, con bé chỉ còn một chút xíu thôi. Mỗi ngày bệnh bướu cổ lại càng năng. Lúc đó nó hai ba tuổi, chỉ ăn được hột vịt, tàu hủ thôi, không ăn được thịt cá gì cả.
Khi con bệnh, vợ tôi nói có có căn Phật độ rồi, mình cho vô chùa có Phật, ở nhà tôi chỉ làm thầy bùa thầy ngãi thôi, không thể trị bệnh cho con.
Tôi có một người bạn rất thân, ông quen ông Tiến sĩ ở Ấn Độ mời về, trụ trì một chùa đường Nguyễn Đình Chiểu, bấy giờ, trước đây là đường Phan Đình Phùng. Tôi nhờ người bạn dẫn vào, sau khi trao đổi với Thượng tọa, ông lắng nghe, sau khi trình bày tỉ mỉ trường hợp con tôi, có căn tu như vậy. Ông thú thật rằng tôi không tiếc gì cửa từ bi mở rộng, ai vào đây tu cũng được. Nhưng vào đây phải qui y thí pháp, cạo đầu ăn chay, tội nghiệp cho cháu quá. Thật ra, tôi là người đã tu hành nhiều năm, tôi không phải từ chối nhu cầu hợp lý của ông đâu, nhưng mà chắc Phật không cứu được. Cháu bệnh đem về uống thuốc, Phật làm sao trị bệnh bướu cổ được. Tôi nói riêng với ông vậy, ông thông cảm, khuyên tôi đem con đi về.
Tôi lại đi cậy dựa nữa, tôi có một người anh em cùng một ông cố, làm Đại Đức, tu lâu năm từ lúc năm bảy tuổi, cho đến chức vụ này. Tôi đã trình bày y như vậy. Ông nói thiệt anh, trong dòng máu của anh em, vấn đề tu hành của tôi bây giờ chưa có gì kết quả đâu. Giờ anh đem cháu vào đây, tôi khuyên anh đem cháu về, rồi đi trị bệnh cho nó chứ không có cách gì khác hơn. Tôi đem con về nhà để chờ chết.
Cám ơn Chúa! Trong lúc ấy con tôi có một người bạn học lớp sáu, lớp năm tôi không biết rõ, là tín đồ Tin Lành, gia đình em cũng là gia đình truyền thống, đời cha, đời ông cũng đạo Tin Lành. Nó yêu mến con tôi lắm, vì hai đứa là bạn thân, nó mới rủ con tôi đi nhà thờ để nghe giảng. Một ngày kia tôi nhận thấy con tôi có vẽ lành bệnh, còn đi lục cơm nguội ăn nửa. Trước đây ăn cháo uống nước chanh thôi, ăn cơm khó khăn lắm mới nuốt được còn nằm lên nằm xuống. Bây giờ thấy con tôi lục cơm nguội ăn, tôi mừng quá hỏi lý do, nó không nói. Vì nó biết tôi chống Chúa dữ lắm. Chúa với tôi là sáng với tối mà. Tôi tối, Chúa sáng, sáng và tối không gần nhau được.
Nó có thỏ thẻ với mẹ, mẹ nó nói với tôi nó đã đi Chùa đi miễu đi nhà thờ nhà nguyện gì đó em không biết. bà biết mà muốn nói ẩm ờ như vậy để xem phản ứng của tôi như thế nào? Tôi cứ tiếp tục theo dõi, càng ngày nó càng bớt, da dẻ hồng hào, ăn ngủ được và xin ba cho con đi học lại, con có khả năng đi học lại. Tôi thắc mắc hỏi con có uống thuốc gì không? Con đừng uống thuốc bậy bạ nghe. Con tôi trả lời: Không có, con không uống thuốc gì hết.
Bây giờ tôi mới cám ơn Chúa, chứ hồi đó tôi chẳng biết gì. Tôi thấy dưới gối nó có cuốn Kinh Thánh Tân ước, tôi lật xem, trước đó tôi có xem nhiều lần khi tôi đi lính, bà vợ ông đơn vị trưởng tôi là tín đồ Tin Lành, chấp sự trong Hội thánh tặng cho tôi, tôi đã đọc qua. Tôi nghĩ con tôi đã theo đạo Tin Lành rồi, nên nó mới có cuốn kinh nầy. Tôi hỏi, thật ra không dám hù dọa gì con, nó chịu thiệt con đi theo Tin Lành vì Chúa Jesus đã chịu chết thay cho mình, Chúa đã cứu con bớt bệnh rồi, ba cho con theo đạo nầy được không? Tôi ngẫm nghĩ theo đạo nào cũng được miễn con hết bệnh mà thôi, chớ ba không cách nào theo đạo này được. Vì Chúa Jesus ghét đạo ba lắm, Chúa Jesus đã cầu nguyện đuổi quỉ, cho nhập vô bầy heo nhảy xuống biển chết, vì tôi có đọc qua chuyện này. Con tôi bảo tùy ba, ba cho phép vậy, con cũng cám ơn Chúa. Tôi cho phép nó mà nó cảm ơn Chúa, không cám ơn tôi, tôi còn nhớ lời đó hoài vì lời đó gây ấn tượng cho tôi. Con cám ơn Chúa hả? Còn ba thì sao? Con cũng cảm ơn ba mà con cám ơn Chúa trước.
Sau đó tôi còn nhớ lời khuyên bác sĩ “ông đừng cho cháu lấy chồng nếu lấy chồng nó sanh con, đứa bé không bình thường, đứa bé sẽ bị tật nguyền. Tôi nói trước với ông để sau nầy ông đừng trách tại sao bác sĩ không nói trước”.
Rể tôi, nó thương con tôi quá, nó theo Công giáo và điều chỉnh đức tin tiếp nhận Chúa ở nhà thờ, rồi tiến đến hôn nhân. Tôi sợ quá, lời nói Bác sĩ cứ ám ảnh tôi. Tôi nói với vợ tôi không được, cứ để nó ở như vậy, tôi và bà nuôi hoặc em nó nuôi. Nếu đẻ ra một đứa cháu có bề gì mình sẽ ân hận. Thế rồi hai đứa nó thương quá, chúng tôi cầm lòng không đặng. Tôi khích lệ tiến đến hôn nhân. Vì chúng là con cái Chúa, Chúa làm phép lạ trong đời sống con tôi. Sau đó nó sanh ra một đứa con, thưa quí vị mừng giùm cho tôi, chẳng có tật nguyền gì cả, học rất giỏi mà lại đẹp gái nữa, đẹp là đẹp đối với tôi đối với người khác không biết có đẹp hay không? Đối với tôi cháu ngoại tôi thật là tuyệt vời. Đó là phần đứa con gái bướu cổ được chữa lành. Phần tôi chẳng tin theo Chúa và cũng chẳng kính mến Chúa gì cả, hơn nữa biết gì đâu mà kính mến. Tôi có cảm ơn Chúa, vì Chúa có chữa bệnh cho con tôi thật sự tôi không thương Chúa.
II. Chúa Giải Cứu Con Trai Tôi Khỏi Quỷ Ám
Tôi có một đứa con thứ năm, trước đó tôi có cho nó học đàn ở trường Nghệ Thuật sân khấu 2, biết đàn chút đỉnh. Một ngày kia nó đã té từ thang gát xuống, nó dấu không nói gì. Sau đó nó bất bình thường, mất ăn mất ngủ, coi như con người không còn tự chủ. Tôi đem về quê cho ông nội nuôi. Tôi đem con tôi vào chỗ nguy hiểm mà không biết. Ba tôi thờ hình tượng, một ông thầy cả, ông thầy nổi tiêng tại tỉnh Tây Ninh, nói đến tên ba tôi nhiều người biết đến, ông giỏi về bùa ngãi. Ba tôi kêu nó đi đờn cho những cô bóng, con tôi bị quỉ nhập, điên nhiều lên. Tôi và ba tôi cùng một số thầy bùa, thầy pháp, lựa thầy giỏi nhất tập trung lại để chữa cho nó, dù làm đủ cách, cách chữa trị bùa ngải ghê thật, làm nhiều việc bậy bạ, nguy hiểm lắm: Chơi bằng dao phay, cung kiếm, đi trên lửa, uống dầu, đủ các thứ rất phản khoa học. Lúc đó tôi thấy đúng lắm hay lắm. Trong lúc ba tôi thương cháu nội quá mới bắn bằng cây cung têm bùa vào cung và mũi tên bắn vào cổ, lủng cổ, cuối cùng cũng không hết.
Sau đó tôi đem xuống bệnh viện Nguyễn Trãi, lúc ấy có khoa trị tâm thần với hai phương pháp duy nhất ở Việt Nam tôi đã thấy, còn nước ngoài tôi không biết.
1/ Cho uống thuốc ngủ: uống thuốc an thần, aminazine thuốc màu xanh xanh đỏ đỏ, mỗi lần uống 5 đến 10 viên. Uống xong ngủ mê mệt, không biết gì, giống như người say rượu. Mỗi lần đi vệ sinh phải có người cặp rất thê thảm.
2/ Choáng điện: Quí vị có thấy choáng điện chưa, tôi được trực tiếp thấy thật thê thảm lắm. Họ cột điện ở tay ở chân, họ bật cầu giao, trước khi bật, điện đã yếu đi chút đỉnh, giống như điều tra chích điện vậy. Nhiều bệnh nhân ngất lên một cái, run thê thảm. Con tôi bị làm 4 đến 5 lần như vậy. Tôi thấy không được. Mỗi lần nó tỉnh dậy sức khỏe càng suy sụp hơn nữa. Tôi đem con về, bác sĩ khuyên về lãnh thuốc ở phường uống. Lãnh thuốc ở phường cũng chỉ là thuốc ngủ, mỗi ngày đỡ nó ngồi dậy đút cơm ăn, nếu có khỏe tự múc ăn, ăn xong ngủ. Chữa bệnh điện như vậy, chữa cho ngủ tới ngày chết.
Cảm ơn Chúa! Một ngày kia nó đang đàn ở lầu ba, bổng nhiên nó ném cây đàn guitar xuống, muốn nhảy xuống lầu. Tôi có thằng con thứ sáu tức kế nó. Khi anh nó chạy đến cửa sổ nhảy xuống lầu tự tử, nó chụp lại được, la lên rồi xúm nhau níu nó. Nó không nhảy xuống được. Con gái tôi tức con nhỏ được lành bướu cổ, nó quì gối xuống ngoài đường để cầu nguyện. Còn phần tôi tìm cách nhờ đến năm người khoẻ mạnh mới đem đưa con quỉ nhập về nhà được. Tới nhà nó ca hát, bắt ấn, trợn mắt dễ sợ lắm, nó mạnh lắm đến nổi hai ba người ôm không lại. Bấy giờ thằng rễ tôi tức chồng đứa con gái bị bệnh được chữa lành lén đến nhà thờ báo mục sư Chủ tọa và Ban Trị Sự biết. Các ông đến cầu nguyện cho con tôi.
Trong lúc cầu nguyện tôi thấy thật lạ lùng. Nó run, tay chân run bần bậc, mắt nhìn Mục sư trân trân như muốn ăn tươi nuốt sống ông. Ông kiên nhẫn cầu nguyện cùng với Ban Trị Sự, xúm nhau cầu nguyện. Cuối cùng nó đã lớn tiếng la lên : “Lạy Chúa Jesus con thua rồi, con thua rồi, con đi đây, con từ giả? Nó nhảy dựng lên, bậc ngửa ra. Tôi có kinh nghiệm trong vấn đề tà ma, khi đã nhập muốn xuất ra nó xô, không bao giờ tự nhiên nó xuất ra nhẹ nhàng mà xô bậc ngửa người đó, hoặc té xấp. Tôi đã cảnh báo nên chụp được khi nó ngã. Cảm ơn Chúa con tôi nó phục hồi, đến ngày hôm nay nó hầu việc Chúa trong ban âm nhạc để tôn vinh Chúa. Nó cũng có vợ con, xe cộ nhà ở. Đó là bằng chứng xác thực mà tôi thấy quyền năng Chúa thể hiện những công việc lạ lùng mà Chúa đã thực hiện trên đời sống con tôi. Nhưng tôi vẫn chưa tin Chúa.
III. Tôi Quyết Định Tin Chúa
Hai đứa con được Chúa cứu như vậy mà tôi chưa tin Chúa, bởi vì tôi sống trong quyền lực tối tăm, nó trì nó kéo tôi hết sức nguy hiểm. Con tôi bảo tôi cầu nguyện tin Chúa hoài mà tôi cứ nói không được. Mặc dầu lúc đó tôi rất thân với Ms Chủ tọa, con tôi tín đồ trong Hội thánh. Tôi cũng có nghề tài xế, thỉnh thoảng Ms. Chủ tọa đi đâu, hoặc cụ Hội trưởng, cụ Hội phó đi cũng nhờ tôi lái cho cụ đi. Cụ Hội phó kêu tôi, anh Văn ơi! Anh tiếp nhận Chúa đi để Chúa cứu đời sống anh. Chúa đã cứu hai đứa con anh rồi. Bây giờ anh không chịu tin Chúa làm sao? Tôi hứa, thưa cụ rồi đây con sẽ tin Chúa. Hẹn như vậy, kinh nghiệm những người hẹn khó tin Chúa lắm, tôi cứ hẹn hoài từ năm này qua năm khác, mấy năm như vậy ông Ms Chủ Tọa, Ban Trị Sự mãi rồi cũng nản
Đây là một biến cố trong đời sống tôi, hôm đó Hội thánh có tổ chức đi nghỉ mát ở Vũng Tàu có thuê chiếc xe của tôi. Tôi có thân tình với Ban Trị Sự, lấy giá hữu nghị mà cũng dễ hội nhập với Hội thánh, khi người ta cầu nguyện tôi nhắm mắt. Amen tôi cũng amen, tôi không chống lại nên Hội thánh cũng thích tôi.
Khi đến Vũng Tàu ra bãi Tùy Vân tức bãi sau, tôi có quen người bạn lâu năm trong cùng sư đoàn 5, mở một quán cơm bình dân. Hồi đó bãi sau đơn giản lắm chứ không có nhà cửa san sát như bây giờ. Mỗi lần đến Vũng Tau tôi hay đậu xe ở đó, vì tài xế đậu xe ở quán nào tài xế được ưu tiên, uống nước khỏi trả tiền, ăn cơm ngon rẻ lại miễn phí. Người ta lợi dụng mình, mình cũng lợi dụng người ta, đậu đó để ăn cơm. Đặc biệt, anh bạn nầy nói chuyện trí thức tôi rất thích, nói chuyện với anh thấy cởi mở sôi nổi hẳn, chúng tôi đã nói chuyện nhiều lần.
Lần nầy là một dấu ấn mạnh trong đời sống tôi. Gặp anh, anh đưa cho tôi chai bia, lúc ấy chưa có Chúa nên uống bia thoải mái. Anh Văn uống chai bia cho khỏe, đúng ra tôi không mời bia anh nhưng tôi biết mấy ông tài xế ngộ biến tùng quyền. Sau nầy tôi mới hiểu câu nói đó chớ tôi chưa hiểu ý gì. Tôi uống được nửa chai, anh bưng ra dĩa cơm ăn. Tôi lại thấy chữ thần tài của tượng ông địa, có điếu thuốc để trên ngón tay, ông địa và một ly cà phê sữa. Tôi nhớ lại lời Chúa và nói anh thờ cái nầy làm chi. Anh ăn của trời, hít thở không khí của trời, lâm nguy kêu trời, chết cầu trời, mọi sự trời quyết định. Ông địa này chẳng giúp đỡ được anh đâu? Trên Lái Thiêu, đường Nguyễn Chí Thanh thiếu gì. Kinh Thánh có nói có tai mà không nghe được, có mắt không thấy, có mũi không biết ngửi. Tôi nói thật với anh, anh đừng thờ cái nầy anh còn mất phước nữa. Hột cơm anh bán tôi ăn, anh ăn là của ai? Trời sanh, ông địa đâu có sanh. Anh lấy hoa quả của Trời mà cúng ông địa, anh đã chọc tức Đức Chúa Trời nữa. Anh không được phước, không mua may bán đắt đâu. Anh bạn tôi cười, cười. Thấy anh cười tôi hào hứng lắm, càng nói dữ hơn nữa.
Lúc đó tôi cứ trích đoạn, nhớ trong Kinh thánh Tân ước chút nào nói chút nấy, dẫu lời Chúa chưa vững vàng. Nhất là sự tích đuổi quỉ tôi hào hứng lắm, nói một hơi dài. Khi anh nghe tôi nói, anh cười, trông có vẽ tâm đắc lắm. Tôi càng hưng phấn nói dữ hơn. Thỉnh thoảng vợ anh đi ngang kéo ghế ngồi bên cũng nghe. Tôi càng sôi nổi hơn. Co lẽ lúc đó nói sai lời Chúa nữa. Tôi hăng hái trong việc làm chứng, tôi nói thôi chứ có biết gì đâu.
Sau một lúc, anh tôi hỏi: “Anh Vân ơi! Hỏi thiệt anh tin Chúa được bao lâu rồi?” Thưa quí ông bà, khi nói đến từ tin Chúa, tôi sựng người lại. Tôi thường nghe con tôi cũng như người Tin lành dùng từ tin Chúa. Nếu người ngoại đạo hỏi ông nhập môn hồi nào, ông theo đạo hồi nào? Nói đến từ tin Chúa, tự nhiên tôi ngại rồi, tôi tự nhủ tại sao ông này nói đến từ tin Chúa. Tôi trả lời tôi chưa tin Chúa. Ủa! Anh chưa tin Chúa, sao nẩy giờ anh làm chứng về Chúa không vậy? Tôi tiếc cho anh quá! Anh Vân ơi! Nếu anh tin Chúa tốt quá. Tôi thấy anh làm chứng được. Sao anh không tin Chúa? Anh biết tôi đạo gì không? Dạ không. Tôi là đạo Tin lành, còn vợ tôi đạo công giáo nhưng đã điều chỉnh đức tin qua Tin lành rồi.
Tôi cảm thấy xấu hổ vô cùng, chắc nẩy giờ mình là người giả lại đi làm chứng với người thiệt. Nhưng tôi không chịu thua tôi nhớ lại vụ ông địa. Anh nói anh đạo Tin lành tôi cũng tin, nhưng tại sao anh thờ hình tượng. Anh biết tọâi đó thuộc điều răn thứ mấy không? Biết chớ điều răn thứ nhất, nhưng tôi thú thật với anh cái nầy không phải của tôi. Tôi mới sang nhà nầy một thời gian ngắn thôi, tôi mới dọn nhà về. Còn hình tượng nầy chủ nhà cũ đặt điều kiện sau khi sang căn nhà tôi cứ vào ở, nhưng ông địa và thần tài chờ người chủ sắp xếp lấy đi chớ tôi không có quyền dẹp. Mỗi sáng chủ nhà cũ cũng đến đốt thuốc và dâng cà phê. Tôi phản đối cũng e ngại, tôi ráng chấp nhận. Anh thấy vậy có được không? Tôi trả lời được quá đi chứ, vì tôi không biết trả lời sao.
Giờ đây anh bắt đầu làm chứng ngược lại. Anh biết trường hợp của tôi tin Chúa cũng lạ lắm. Ông nội tôi Đại Đức, Cha tôi Thượng Tọa tức cha tôi chức lớn hơn ông nội tôi. Tôi là đạo Phật nòi. Chúng tôi thuộc kinh chứ không phải thờ cúng như ở nhà rồi cứ Nam mô A di đà phật lấy nhang xá chín phương trời mười phương Phật, không phải như vậy. Tôi đạo Phật thật sự. Trong lúc cải tạo bao nhiêu lần tôi cầu nguyện với Phật, thấy nhiều người cấp bậc Thiếu Tá, Trung Tá họ được về. Riêng không không được về, tôi vẫn cầu nguyện ngày đêm với Quan Thế Âm Bồ Tát, giúp đỡ cho tôi không được. Một đêm kia, có lẽ là thầy truyền đạo hay mục sư gì đó, ông làm chứng cho tôi về Chúa Jesus: Trong hoàn cảnh khổ sở như chúng ta thế này nếu có Chúa ở cùng, ta được bình an, đây là số phận mà Chúa đã sắp bày cho chúng ta cứ yên tâm chờ ngày đoàn tụ. Đại khái lời làm chứng tôi không nhớ mấy.
Trước đó mỗi lần 2 tháng 9, chúng tôi thường gói cái thăm, viết tên mình cuốn tròn lại rồi bỏ vào cái nón hay ca nhôm, lắc néâu thăm mà rớt ra hy vọng được về. Nhưng cũng có khi về khi không. Có khi rớt năm tên mà về chỉ có một tên đôi khi không có. Tôi chỉ biết cầu nguyện với Phật thôi. Sau khi nghe người Tin lành khuyên lơn an ủi, mọi sự Trời quyết định. Anh đã tiếp nhận Chúa làm cứu Chúa đời sống mình, sau đó anh tin quyết rằng Chúa bảo vệ anh, kỳ ân xá kế tiếp anh được về. Lý do đó mà anh tin Chúa.
Lúc đó, tôi không thể tả được cảm xúc của tôi, tôi không hình dung được, vừa thẹn, vừa ân hận, ray rứt, người nóng lên tôi chạy lên khách sạn, Hội thánh nghỉ mát. Tôi gõ cửa từng phòng thức dậy hết, lúc đó hơn 11 giờ trưa hơn. Tất cả đều ngạc nhiên không biết gì. Ba Vân đây, ba Vân Đây, tôi gõ cửa đùng đùng giống như người sản, người mặc quần đùi áo may dô. Có người hỏi có gì không? Tôi đáp: Làm ơn cho tôi tiếp nhận Chúa. Khi nào? Tôi nói bây giờ, tôi cầu nguyện ngay bây giờ. Khi đến với Chúa, con cái tôi tớ chúa sẵn sàng lắm. Không thẹn, tôi quì gối, Mục sư hướng dẫn tôi cầu nguyện. Tôi cầu nguyện mà tôi khóc, tôi cứng rắn. Tài xế, thầy bùa, thầy ngãi từng va chạm với đau khổ ở đời có gì phải khóc mà tôi khóc ngất luôn. Tôi tớ Chúa hướng dẫn nói trước, tôi nói sau mà nói không được chỉ cà lâm nói lạy Chúa, lạy Chúa thôi, không nó được chữ nào khác. Tôi biết Chúa đang ở cùng thương yêu, bằng lòng để tôi trở thành con cái yêu cầu của Chúa. Tôi kinh nghiệm được quyền năng và tình yêu thương của Ngài.
Để kết thúc tôi xin kể lại hai câu chuyện sau đây: Một ông quan kia có nuôi một anh hề, và trao cho anh một cây gậy rồi nói sau khi ta qua đời nếu có người nào điên rồ hơn ngươi, ngươi hãy trao cây gậy cho người đó. Một thời gian sau, quan thọ bịnh nguy kịch. Hề ta vào thăm và hỏi “quan bịnh nặng chẳng may quan qua đời, quan đi đâu?” Ta đi xa lắm. Hề hỏi một tháng, một năm không? Không. Hề hỏi tiếp quan đi chừng nào mới về? Chắc kỳ này ta đi không về được. Nếu quan đi mà về không được vậy trong cuộc đời đi xa đó quan có sắm sẵn hành trang gì chưa? Quan trả lời chưa. Tên hề nói tiếp cuộc hoang du, cuộc đi xa đó không biết chừng nào về mà quan không sắm sẵn cho mình hành trang như vậy quan điên rồi hơn tôi rồi. Tôi xin gởi lại cây gậy nầy cho quan.
Đây là một bài học thuộc linh thật tốt. Chúng ta đang sống ở đây, hít thở không khí của Trời, hưởng ơn phước Trời mà không tôn trọng Trời, không thờ Trời, tức chúng ta quên linh hồn mình, cứ nghĩ mình giàu có sau nầy có bịnh hoạn sẽ có bệnh viện tối tân, thầy thuốc giỏi trị bệnh cho mình, rồi cũng qua đời. Người tin có linh hồn, người tin không có linh hồn, chết là hết, ra tro, ra bụi ra đất, không có gì hết. Nếu người có linh thì sao? Sẽ hư mất đời đời trong hỏa ngục. Vì Chúa đã hứa “Ta đi sắm sẵn cho các ngươi một chỗ. Khi ta đã đi, và đã sắm sẳn cho các ngươi một chỗ rồi, ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với ta, hầu cho ta ở đâu thì các ngươi cũng ở đó“ (Gi 14 : 2 - 3). Chúa đã hứa với con cái Chúa như vậy. Nhưng người chưa có Chúa làm sao? Chưa nhận Chúa làm cứu Chúa mình thì sao? Biết đâu mà đi? Thưa quí thân hữu, đời sống chúng ta là tạm bợ. Chúng ta ở thế gian nầy chỉ ít lâu nữa thôi. Nếu có Chúa chúng ta ở cùng Chúa. Nếu không có Chúa chúng ta ở nơi tối tăm có nghiến răn, có khóc lóc.
Có một người vô tín kia thuê một ông tín đồ nghèo sống cuộc đời lam lũ khổ sở. Một ngày kia ông đi săn đem theo ông tín đồ già nầy. Ông hỏi người tín đồ già nầy “Chú à! Tôi thấy chú tin Chúa Jesus mà cuộc đời chú khổ quá. Chú cứ bị ma quỉ cám dỗ. Còn tôi, tôi không tin Chúa Jesus, sao nó không cám dỗ tôi? Người tín đồ nầy chưa kịp trả lời. Trong lúc đó có một bầy vịt trời bay ngang, ông chủ đưa súng lên bóp cò, bầy vịt trời chết nhiều con và một số con bị thương. Ông chủ ra lệnh, ông hãy nhanh bắt những con bị thương cho tôi còn con chết để đó. Sau khi làm xong nhiệm vụ mình, ông tín đồ đến trả lời cùng ông chủ. Ma quỉ cũng xử dụng bằng cách nầy thôi, tôi là người tín đồ của Chúa Jesus bị thử thách, bị khó khăn nên nó tìm cách bắt tôi, còn ông thì nó khỏi bắt, ông giống như những con vịt đã chết rồi, nó muốn lượm lúc nào cũng được bởi vì ông đã thuộc về nó rồi, không có vội vàng để làm gì?
Thưa quí thân hữu, Chúa vẫn còn tiếp tục yêu thương kêu gọi tôi cũng như quí vị thân hữu, Ngài tạo cơ hội, Ngài tạo điều kiện để có thể đến với Chúa. Nhưng chúng ta cứ vô tín, chống Chúa chắc chắn khi ra trước tòa án trắng của Đức Chúa Trời, chúng ta không thể bào chữa tội lỗi mình. Vậy ngay giờ phút nầy hãy đến với Chúa Jesus, tiếp nhận Ngài làm Chúa cuộc đời mình. Chắc chắn rằng chúng ta sẽ được ở trong nơi Ngài đi sắm sẳn cho chúng ta. A-men
http://www.tinlanh.or.kr/VN/Chung_Dao/Loi_Chung/079-cjsdctdst.htm
Đọc thêm!
Có lẽ quí vị chưa được biết tôi, tôi tự khai lý lịch, lý lịch trích ngang mà thôi. Tôi là Văn một thầy bùa, báo chí thường gọi là thầy phù thủy. Nói cho thanh cao vậy chứ thầy bùa, thầy pháp, thầy phù thủy đều là một. Những người hành nghề này không làm cho Đức Chúa Trời vui lòng, trước đây tôi không biết, tôi nghĩ tôi làm như vậy là cứu nhân độ thế, rất hết sức tốt. Giòng họ tôi thờ hình tượng làm thầy bùa, thầy bùa nòi. Người ta là đạo nòi còn chúng tôi là thầy bùa nòi. Hai điều nầy khác xa nhau lắm, tôi xin thưa với quí vị như vậy. Tôi làm chứng lại về quyền năng sự chữa bệnh lạ lùng của Chúa ban ơn cho gia đình tôi, và tôi đã quyết định tin Chúa
. Chúa Chữa Bệnh Cho Con Gái Tôi.
Nói về bệnh bướu cổ mà cầu nguyện tôi không thể tin được, nói về ma tà, quỉ quái Chúa đuổi được chứ bệnh bưởu cổ, Chúa chữa lành tôi không bao giờ tin. Qua bao năm tháng tôi đi theo y khoa, hết bệnh viện này đến bệnh viện khác. Thời gian giải phóng tháng 4 năm 1975, con tôi không còn được tiếp tục điều trị ở bệnh viện Nhi đồng nửa, phải trở về nhà. Một năm sau bệnh tình cháu hết sức là nặng, vợ chồng tôi chỉ chờ cho cháu chết. Thật lòng mà nói lúc ấy không có thuốc chứ không phải bác sĩ dở, bác sĩ giỏi mà không có thuốc cũng chẳng làm được gì cả.
Đem cháu vào bệnh viện Chợ Rẫy, lúc đó có khoa bướu cổ, con tôi đã suy tim mạch trầm trọng, nó bị bướu nội, bác sĩ cho biết bướu nầy thuộc loại độc. Sau khi điều trị ba tháng, con tôi lại càng ngày càng tiều tụy, bởi cớ uống thuốc cầm chừng, bệnh bé càng ngày càng nặng. Bác sĩ thật tình nói nếu anh muốn để cháu ở đây chỉ kéo dài thời gian thôi chứ không chắc gì. Bây giờ chỉ còn cách giải phẩu, giải phẩu cháu chịu không nổi, yếu lắm. Tôi quyết định đem con về, thà nó chết ở nhà, nếu để chết tại bệnh viện cực khổ lại tốn hao nhiều. Vợ chồng tôi thuận ý đem con về. Thú thật với quí vị, tôi không thể nào diễn tả tâm trạng tôi lúc đó, người làm cha làm mẹ nhìn con mình chết lần mòn không có thuốc trị, tiền hết con lại càng ngày càng yếu.
Vợ tôi mới nhớ khi con tôi sanh ra độ chừng ba bốn tháng, nó bú cứ ói, nó bú sữa mẹ không được cho bú sữa bò nó cũng ói. Sau đó người ta nói con tôi có căn số gì đó, không chịu các loại sữa này, hãy cho uống nước cơm. Lúc đó, chúng tôi tin tưởng nhiều việc thật là lạ lùng. Con nít cho uống nước cơm làm sao lớn nổi, nó suy dinh dưỡng, con bé chỉ còn một chút xíu thôi. Mỗi ngày bệnh bướu cổ lại càng năng. Lúc đó nó hai ba tuổi, chỉ ăn được hột vịt, tàu hủ thôi, không ăn được thịt cá gì cả.
Khi con bệnh, vợ tôi nói có có căn Phật độ rồi, mình cho vô chùa có Phật, ở nhà tôi chỉ làm thầy bùa thầy ngãi thôi, không thể trị bệnh cho con.
Tôi có một người bạn rất thân, ông quen ông Tiến sĩ ở Ấn Độ mời về, trụ trì một chùa đường Nguyễn Đình Chiểu, bấy giờ, trước đây là đường Phan Đình Phùng. Tôi nhờ người bạn dẫn vào, sau khi trao đổi với Thượng tọa, ông lắng nghe, sau khi trình bày tỉ mỉ trường hợp con tôi, có căn tu như vậy. Ông thú thật rằng tôi không tiếc gì cửa từ bi mở rộng, ai vào đây tu cũng được. Nhưng vào đây phải qui y thí pháp, cạo đầu ăn chay, tội nghiệp cho cháu quá. Thật ra, tôi là người đã tu hành nhiều năm, tôi không phải từ chối nhu cầu hợp lý của ông đâu, nhưng mà chắc Phật không cứu được. Cháu bệnh đem về uống thuốc, Phật làm sao trị bệnh bướu cổ được. Tôi nói riêng với ông vậy, ông thông cảm, khuyên tôi đem con đi về.
Tôi lại đi cậy dựa nữa, tôi có một người anh em cùng một ông cố, làm Đại Đức, tu lâu năm từ lúc năm bảy tuổi, cho đến chức vụ này. Tôi đã trình bày y như vậy. Ông nói thiệt anh, trong dòng máu của anh em, vấn đề tu hành của tôi bây giờ chưa có gì kết quả đâu. Giờ anh đem cháu vào đây, tôi khuyên anh đem cháu về, rồi đi trị bệnh cho nó chứ không có cách gì khác hơn. Tôi đem con về nhà để chờ chết.
Cám ơn Chúa! Trong lúc ấy con tôi có một người bạn học lớp sáu, lớp năm tôi không biết rõ, là tín đồ Tin Lành, gia đình em cũng là gia đình truyền thống, đời cha, đời ông cũng đạo Tin Lành. Nó yêu mến con tôi lắm, vì hai đứa là bạn thân, nó mới rủ con tôi đi nhà thờ để nghe giảng. Một ngày kia tôi nhận thấy con tôi có vẽ lành bệnh, còn đi lục cơm nguội ăn nửa. Trước đây ăn cháo uống nước chanh thôi, ăn cơm khó khăn lắm mới nuốt được còn nằm lên nằm xuống. Bây giờ thấy con tôi lục cơm nguội ăn, tôi mừng quá hỏi lý do, nó không nói. Vì nó biết tôi chống Chúa dữ lắm. Chúa với tôi là sáng với tối mà. Tôi tối, Chúa sáng, sáng và tối không gần nhau được.
Nó có thỏ thẻ với mẹ, mẹ nó nói với tôi nó đã đi Chùa đi miễu đi nhà thờ nhà nguyện gì đó em không biết. bà biết mà muốn nói ẩm ờ như vậy để xem phản ứng của tôi như thế nào? Tôi cứ tiếp tục theo dõi, càng ngày nó càng bớt, da dẻ hồng hào, ăn ngủ được và xin ba cho con đi học lại, con có khả năng đi học lại. Tôi thắc mắc hỏi con có uống thuốc gì không? Con đừng uống thuốc bậy bạ nghe. Con tôi trả lời: Không có, con không uống thuốc gì hết.
Bây giờ tôi mới cám ơn Chúa, chứ hồi đó tôi chẳng biết gì. Tôi thấy dưới gối nó có cuốn Kinh Thánh Tân ước, tôi lật xem, trước đó tôi có xem nhiều lần khi tôi đi lính, bà vợ ông đơn vị trưởng tôi là tín đồ Tin Lành, chấp sự trong Hội thánh tặng cho tôi, tôi đã đọc qua. Tôi nghĩ con tôi đã theo đạo Tin Lành rồi, nên nó mới có cuốn kinh nầy. Tôi hỏi, thật ra không dám hù dọa gì con, nó chịu thiệt con đi theo Tin Lành vì Chúa Jesus đã chịu chết thay cho mình, Chúa đã cứu con bớt bệnh rồi, ba cho con theo đạo nầy được không? Tôi ngẫm nghĩ theo đạo nào cũng được miễn con hết bệnh mà thôi, chớ ba không cách nào theo đạo này được. Vì Chúa Jesus ghét đạo ba lắm, Chúa Jesus đã cầu nguyện đuổi quỉ, cho nhập vô bầy heo nhảy xuống biển chết, vì tôi có đọc qua chuyện này. Con tôi bảo tùy ba, ba cho phép vậy, con cũng cám ơn Chúa. Tôi cho phép nó mà nó cảm ơn Chúa, không cám ơn tôi, tôi còn nhớ lời đó hoài vì lời đó gây ấn tượng cho tôi. Con cám ơn Chúa hả? Còn ba thì sao? Con cũng cảm ơn ba mà con cám ơn Chúa trước.
Sau đó tôi còn nhớ lời khuyên bác sĩ “ông đừng cho cháu lấy chồng nếu lấy chồng nó sanh con, đứa bé không bình thường, đứa bé sẽ bị tật nguyền. Tôi nói trước với ông để sau nầy ông đừng trách tại sao bác sĩ không nói trước”.
Rể tôi, nó thương con tôi quá, nó theo Công giáo và điều chỉnh đức tin tiếp nhận Chúa ở nhà thờ, rồi tiến đến hôn nhân. Tôi sợ quá, lời nói Bác sĩ cứ ám ảnh tôi. Tôi nói với vợ tôi không được, cứ để nó ở như vậy, tôi và bà nuôi hoặc em nó nuôi. Nếu đẻ ra một đứa cháu có bề gì mình sẽ ân hận. Thế rồi hai đứa nó thương quá, chúng tôi cầm lòng không đặng. Tôi khích lệ tiến đến hôn nhân. Vì chúng là con cái Chúa, Chúa làm phép lạ trong đời sống con tôi. Sau đó nó sanh ra một đứa con, thưa quí vị mừng giùm cho tôi, chẳng có tật nguyền gì cả, học rất giỏi mà lại đẹp gái nữa, đẹp là đẹp đối với tôi đối với người khác không biết có đẹp hay không? Đối với tôi cháu ngoại tôi thật là tuyệt vời. Đó là phần đứa con gái bướu cổ được chữa lành. Phần tôi chẳng tin theo Chúa và cũng chẳng kính mến Chúa gì cả, hơn nữa biết gì đâu mà kính mến. Tôi có cảm ơn Chúa, vì Chúa có chữa bệnh cho con tôi thật sự tôi không thương Chúa.
II. Chúa Giải Cứu Con Trai Tôi Khỏi Quỷ Ám
Tôi có một đứa con thứ năm, trước đó tôi có cho nó học đàn ở trường Nghệ Thuật sân khấu 2, biết đàn chút đỉnh. Một ngày kia nó đã té từ thang gát xuống, nó dấu không nói gì. Sau đó nó bất bình thường, mất ăn mất ngủ, coi như con người không còn tự chủ. Tôi đem về quê cho ông nội nuôi. Tôi đem con tôi vào chỗ nguy hiểm mà không biết. Ba tôi thờ hình tượng, một ông thầy cả, ông thầy nổi tiêng tại tỉnh Tây Ninh, nói đến tên ba tôi nhiều người biết đến, ông giỏi về bùa ngãi. Ba tôi kêu nó đi đờn cho những cô bóng, con tôi bị quỉ nhập, điên nhiều lên. Tôi và ba tôi cùng một số thầy bùa, thầy pháp, lựa thầy giỏi nhất tập trung lại để chữa cho nó, dù làm đủ cách, cách chữa trị bùa ngải ghê thật, làm nhiều việc bậy bạ, nguy hiểm lắm: Chơi bằng dao phay, cung kiếm, đi trên lửa, uống dầu, đủ các thứ rất phản khoa học. Lúc đó tôi thấy đúng lắm hay lắm. Trong lúc ba tôi thương cháu nội quá mới bắn bằng cây cung têm bùa vào cung và mũi tên bắn vào cổ, lủng cổ, cuối cùng cũng không hết.
Sau đó tôi đem xuống bệnh viện Nguyễn Trãi, lúc ấy có khoa trị tâm thần với hai phương pháp duy nhất ở Việt Nam tôi đã thấy, còn nước ngoài tôi không biết.
1/ Cho uống thuốc ngủ: uống thuốc an thần, aminazine thuốc màu xanh xanh đỏ đỏ, mỗi lần uống 5 đến 10 viên. Uống xong ngủ mê mệt, không biết gì, giống như người say rượu. Mỗi lần đi vệ sinh phải có người cặp rất thê thảm.
2/ Choáng điện: Quí vị có thấy choáng điện chưa, tôi được trực tiếp thấy thật thê thảm lắm. Họ cột điện ở tay ở chân, họ bật cầu giao, trước khi bật, điện đã yếu đi chút đỉnh, giống như điều tra chích điện vậy. Nhiều bệnh nhân ngất lên một cái, run thê thảm. Con tôi bị làm 4 đến 5 lần như vậy. Tôi thấy không được. Mỗi lần nó tỉnh dậy sức khỏe càng suy sụp hơn nữa. Tôi đem con về, bác sĩ khuyên về lãnh thuốc ở phường uống. Lãnh thuốc ở phường cũng chỉ là thuốc ngủ, mỗi ngày đỡ nó ngồi dậy đút cơm ăn, nếu có khỏe tự múc ăn, ăn xong ngủ. Chữa bệnh điện như vậy, chữa cho ngủ tới ngày chết.
Cảm ơn Chúa! Một ngày kia nó đang đàn ở lầu ba, bổng nhiên nó ném cây đàn guitar xuống, muốn nhảy xuống lầu. Tôi có thằng con thứ sáu tức kế nó. Khi anh nó chạy đến cửa sổ nhảy xuống lầu tự tử, nó chụp lại được, la lên rồi xúm nhau níu nó. Nó không nhảy xuống được. Con gái tôi tức con nhỏ được lành bướu cổ, nó quì gối xuống ngoài đường để cầu nguyện. Còn phần tôi tìm cách nhờ đến năm người khoẻ mạnh mới đem đưa con quỉ nhập về nhà được. Tới nhà nó ca hát, bắt ấn, trợn mắt dễ sợ lắm, nó mạnh lắm đến nổi hai ba người ôm không lại. Bấy giờ thằng rễ tôi tức chồng đứa con gái bị bệnh được chữa lành lén đến nhà thờ báo mục sư Chủ tọa và Ban Trị Sự biết. Các ông đến cầu nguyện cho con tôi.
Trong lúc cầu nguyện tôi thấy thật lạ lùng. Nó run, tay chân run bần bậc, mắt nhìn Mục sư trân trân như muốn ăn tươi nuốt sống ông. Ông kiên nhẫn cầu nguyện cùng với Ban Trị Sự, xúm nhau cầu nguyện. Cuối cùng nó đã lớn tiếng la lên : “Lạy Chúa Jesus con thua rồi, con thua rồi, con đi đây, con từ giả? Nó nhảy dựng lên, bậc ngửa ra. Tôi có kinh nghiệm trong vấn đề tà ma, khi đã nhập muốn xuất ra nó xô, không bao giờ tự nhiên nó xuất ra nhẹ nhàng mà xô bậc ngửa người đó, hoặc té xấp. Tôi đã cảnh báo nên chụp được khi nó ngã. Cảm ơn Chúa con tôi nó phục hồi, đến ngày hôm nay nó hầu việc Chúa trong ban âm nhạc để tôn vinh Chúa. Nó cũng có vợ con, xe cộ nhà ở. Đó là bằng chứng xác thực mà tôi thấy quyền năng Chúa thể hiện những công việc lạ lùng mà Chúa đã thực hiện trên đời sống con tôi. Nhưng tôi vẫn chưa tin Chúa.
III. Tôi Quyết Định Tin Chúa
Hai đứa con được Chúa cứu như vậy mà tôi chưa tin Chúa, bởi vì tôi sống trong quyền lực tối tăm, nó trì nó kéo tôi hết sức nguy hiểm. Con tôi bảo tôi cầu nguyện tin Chúa hoài mà tôi cứ nói không được. Mặc dầu lúc đó tôi rất thân với Ms Chủ tọa, con tôi tín đồ trong Hội thánh. Tôi cũng có nghề tài xế, thỉnh thoảng Ms. Chủ tọa đi đâu, hoặc cụ Hội trưởng, cụ Hội phó đi cũng nhờ tôi lái cho cụ đi. Cụ Hội phó kêu tôi, anh Văn ơi! Anh tiếp nhận Chúa đi để Chúa cứu đời sống anh. Chúa đã cứu hai đứa con anh rồi. Bây giờ anh không chịu tin Chúa làm sao? Tôi hứa, thưa cụ rồi đây con sẽ tin Chúa. Hẹn như vậy, kinh nghiệm những người hẹn khó tin Chúa lắm, tôi cứ hẹn hoài từ năm này qua năm khác, mấy năm như vậy ông Ms Chủ Tọa, Ban Trị Sự mãi rồi cũng nản
Đây là một biến cố trong đời sống tôi, hôm đó Hội thánh có tổ chức đi nghỉ mát ở Vũng Tàu có thuê chiếc xe của tôi. Tôi có thân tình với Ban Trị Sự, lấy giá hữu nghị mà cũng dễ hội nhập với Hội thánh, khi người ta cầu nguyện tôi nhắm mắt. Amen tôi cũng amen, tôi không chống lại nên Hội thánh cũng thích tôi.
Khi đến Vũng Tàu ra bãi Tùy Vân tức bãi sau, tôi có quen người bạn lâu năm trong cùng sư đoàn 5, mở một quán cơm bình dân. Hồi đó bãi sau đơn giản lắm chứ không có nhà cửa san sát như bây giờ. Mỗi lần đến Vũng Tau tôi hay đậu xe ở đó, vì tài xế đậu xe ở quán nào tài xế được ưu tiên, uống nước khỏi trả tiền, ăn cơm ngon rẻ lại miễn phí. Người ta lợi dụng mình, mình cũng lợi dụng người ta, đậu đó để ăn cơm. Đặc biệt, anh bạn nầy nói chuyện trí thức tôi rất thích, nói chuyện với anh thấy cởi mở sôi nổi hẳn, chúng tôi đã nói chuyện nhiều lần.
Lần nầy là một dấu ấn mạnh trong đời sống tôi. Gặp anh, anh đưa cho tôi chai bia, lúc ấy chưa có Chúa nên uống bia thoải mái. Anh Văn uống chai bia cho khỏe, đúng ra tôi không mời bia anh nhưng tôi biết mấy ông tài xế ngộ biến tùng quyền. Sau nầy tôi mới hiểu câu nói đó chớ tôi chưa hiểu ý gì. Tôi uống được nửa chai, anh bưng ra dĩa cơm ăn. Tôi lại thấy chữ thần tài của tượng ông địa, có điếu thuốc để trên ngón tay, ông địa và một ly cà phê sữa. Tôi nhớ lại lời Chúa và nói anh thờ cái nầy làm chi. Anh ăn của trời, hít thở không khí của trời, lâm nguy kêu trời, chết cầu trời, mọi sự trời quyết định. Ông địa này chẳng giúp đỡ được anh đâu? Trên Lái Thiêu, đường Nguyễn Chí Thanh thiếu gì. Kinh Thánh có nói có tai mà không nghe được, có mắt không thấy, có mũi không biết ngửi. Tôi nói thật với anh, anh đừng thờ cái nầy anh còn mất phước nữa. Hột cơm anh bán tôi ăn, anh ăn là của ai? Trời sanh, ông địa đâu có sanh. Anh lấy hoa quả của Trời mà cúng ông địa, anh đã chọc tức Đức Chúa Trời nữa. Anh không được phước, không mua may bán đắt đâu. Anh bạn tôi cười, cười. Thấy anh cười tôi hào hứng lắm, càng nói dữ hơn nữa.
Lúc đó tôi cứ trích đoạn, nhớ trong Kinh thánh Tân ước chút nào nói chút nấy, dẫu lời Chúa chưa vững vàng. Nhất là sự tích đuổi quỉ tôi hào hứng lắm, nói một hơi dài. Khi anh nghe tôi nói, anh cười, trông có vẽ tâm đắc lắm. Tôi càng hưng phấn nói dữ hơn. Thỉnh thoảng vợ anh đi ngang kéo ghế ngồi bên cũng nghe. Tôi càng sôi nổi hơn. Co lẽ lúc đó nói sai lời Chúa nữa. Tôi hăng hái trong việc làm chứng, tôi nói thôi chứ có biết gì đâu.
Sau một lúc, anh tôi hỏi: “Anh Vân ơi! Hỏi thiệt anh tin Chúa được bao lâu rồi?” Thưa quí ông bà, khi nói đến từ tin Chúa, tôi sựng người lại. Tôi thường nghe con tôi cũng như người Tin lành dùng từ tin Chúa. Nếu người ngoại đạo hỏi ông nhập môn hồi nào, ông theo đạo hồi nào? Nói đến từ tin Chúa, tự nhiên tôi ngại rồi, tôi tự nhủ tại sao ông này nói đến từ tin Chúa. Tôi trả lời tôi chưa tin Chúa. Ủa! Anh chưa tin Chúa, sao nẩy giờ anh làm chứng về Chúa không vậy? Tôi tiếc cho anh quá! Anh Vân ơi! Nếu anh tin Chúa tốt quá. Tôi thấy anh làm chứng được. Sao anh không tin Chúa? Anh biết tôi đạo gì không? Dạ không. Tôi là đạo Tin lành, còn vợ tôi đạo công giáo nhưng đã điều chỉnh đức tin qua Tin lành rồi.
Tôi cảm thấy xấu hổ vô cùng, chắc nẩy giờ mình là người giả lại đi làm chứng với người thiệt. Nhưng tôi không chịu thua tôi nhớ lại vụ ông địa. Anh nói anh đạo Tin lành tôi cũng tin, nhưng tại sao anh thờ hình tượng. Anh biết tọâi đó thuộc điều răn thứ mấy không? Biết chớ điều răn thứ nhất, nhưng tôi thú thật với anh cái nầy không phải của tôi. Tôi mới sang nhà nầy một thời gian ngắn thôi, tôi mới dọn nhà về. Còn hình tượng nầy chủ nhà cũ đặt điều kiện sau khi sang căn nhà tôi cứ vào ở, nhưng ông địa và thần tài chờ người chủ sắp xếp lấy đi chớ tôi không có quyền dẹp. Mỗi sáng chủ nhà cũ cũng đến đốt thuốc và dâng cà phê. Tôi phản đối cũng e ngại, tôi ráng chấp nhận. Anh thấy vậy có được không? Tôi trả lời được quá đi chứ, vì tôi không biết trả lời sao.
Giờ đây anh bắt đầu làm chứng ngược lại. Anh biết trường hợp của tôi tin Chúa cũng lạ lắm. Ông nội tôi Đại Đức, Cha tôi Thượng Tọa tức cha tôi chức lớn hơn ông nội tôi. Tôi là đạo Phật nòi. Chúng tôi thuộc kinh chứ không phải thờ cúng như ở nhà rồi cứ Nam mô A di đà phật lấy nhang xá chín phương trời mười phương Phật, không phải như vậy. Tôi đạo Phật thật sự. Trong lúc cải tạo bao nhiêu lần tôi cầu nguyện với Phật, thấy nhiều người cấp bậc Thiếu Tá, Trung Tá họ được về. Riêng không không được về, tôi vẫn cầu nguyện ngày đêm với Quan Thế Âm Bồ Tát, giúp đỡ cho tôi không được. Một đêm kia, có lẽ là thầy truyền đạo hay mục sư gì đó, ông làm chứng cho tôi về Chúa Jesus: Trong hoàn cảnh khổ sở như chúng ta thế này nếu có Chúa ở cùng, ta được bình an, đây là số phận mà Chúa đã sắp bày cho chúng ta cứ yên tâm chờ ngày đoàn tụ. Đại khái lời làm chứng tôi không nhớ mấy.
Trước đó mỗi lần 2 tháng 9, chúng tôi thường gói cái thăm, viết tên mình cuốn tròn lại rồi bỏ vào cái nón hay ca nhôm, lắc néâu thăm mà rớt ra hy vọng được về. Nhưng cũng có khi về khi không. Có khi rớt năm tên mà về chỉ có một tên đôi khi không có. Tôi chỉ biết cầu nguyện với Phật thôi. Sau khi nghe người Tin lành khuyên lơn an ủi, mọi sự Trời quyết định. Anh đã tiếp nhận Chúa làm cứu Chúa đời sống mình, sau đó anh tin quyết rằng Chúa bảo vệ anh, kỳ ân xá kế tiếp anh được về. Lý do đó mà anh tin Chúa.
Lúc đó, tôi không thể tả được cảm xúc của tôi, tôi không hình dung được, vừa thẹn, vừa ân hận, ray rứt, người nóng lên tôi chạy lên khách sạn, Hội thánh nghỉ mát. Tôi gõ cửa từng phòng thức dậy hết, lúc đó hơn 11 giờ trưa hơn. Tất cả đều ngạc nhiên không biết gì. Ba Vân đây, ba Vân Đây, tôi gõ cửa đùng đùng giống như người sản, người mặc quần đùi áo may dô. Có người hỏi có gì không? Tôi đáp: Làm ơn cho tôi tiếp nhận Chúa. Khi nào? Tôi nói bây giờ, tôi cầu nguyện ngay bây giờ. Khi đến với Chúa, con cái tôi tớ chúa sẵn sàng lắm. Không thẹn, tôi quì gối, Mục sư hướng dẫn tôi cầu nguyện. Tôi cầu nguyện mà tôi khóc, tôi cứng rắn. Tài xế, thầy bùa, thầy ngãi từng va chạm với đau khổ ở đời có gì phải khóc mà tôi khóc ngất luôn. Tôi tớ Chúa hướng dẫn nói trước, tôi nói sau mà nói không được chỉ cà lâm nói lạy Chúa, lạy Chúa thôi, không nó được chữ nào khác. Tôi biết Chúa đang ở cùng thương yêu, bằng lòng để tôi trở thành con cái yêu cầu của Chúa. Tôi kinh nghiệm được quyền năng và tình yêu thương của Ngài.
Để kết thúc tôi xin kể lại hai câu chuyện sau đây: Một ông quan kia có nuôi một anh hề, và trao cho anh một cây gậy rồi nói sau khi ta qua đời nếu có người nào điên rồ hơn ngươi, ngươi hãy trao cây gậy cho người đó. Một thời gian sau, quan thọ bịnh nguy kịch. Hề ta vào thăm và hỏi “quan bịnh nặng chẳng may quan qua đời, quan đi đâu?” Ta đi xa lắm. Hề hỏi một tháng, một năm không? Không. Hề hỏi tiếp quan đi chừng nào mới về? Chắc kỳ này ta đi không về được. Nếu quan đi mà về không được vậy trong cuộc đời đi xa đó quan có sắm sẵn hành trang gì chưa? Quan trả lời chưa. Tên hề nói tiếp cuộc hoang du, cuộc đi xa đó không biết chừng nào về mà quan không sắm sẵn cho mình hành trang như vậy quan điên rồi hơn tôi rồi. Tôi xin gởi lại cây gậy nầy cho quan.
Đây là một bài học thuộc linh thật tốt. Chúng ta đang sống ở đây, hít thở không khí của Trời, hưởng ơn phước Trời mà không tôn trọng Trời, không thờ Trời, tức chúng ta quên linh hồn mình, cứ nghĩ mình giàu có sau nầy có bịnh hoạn sẽ có bệnh viện tối tân, thầy thuốc giỏi trị bệnh cho mình, rồi cũng qua đời. Người tin có linh hồn, người tin không có linh hồn, chết là hết, ra tro, ra bụi ra đất, không có gì hết. Nếu người có linh thì sao? Sẽ hư mất đời đời trong hỏa ngục. Vì Chúa đã hứa “Ta đi sắm sẵn cho các ngươi một chỗ. Khi ta đã đi, và đã sắm sẳn cho các ngươi một chỗ rồi, ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với ta, hầu cho ta ở đâu thì các ngươi cũng ở đó“ (Gi 14 : 2 - 3). Chúa đã hứa với con cái Chúa như vậy. Nhưng người chưa có Chúa làm sao? Chưa nhận Chúa làm cứu Chúa mình thì sao? Biết đâu mà đi? Thưa quí thân hữu, đời sống chúng ta là tạm bợ. Chúng ta ở thế gian nầy chỉ ít lâu nữa thôi. Nếu có Chúa chúng ta ở cùng Chúa. Nếu không có Chúa chúng ta ở nơi tối tăm có nghiến răn, có khóc lóc.
Có một người vô tín kia thuê một ông tín đồ nghèo sống cuộc đời lam lũ khổ sở. Một ngày kia ông đi săn đem theo ông tín đồ già nầy. Ông hỏi người tín đồ già nầy “Chú à! Tôi thấy chú tin Chúa Jesus mà cuộc đời chú khổ quá. Chú cứ bị ma quỉ cám dỗ. Còn tôi, tôi không tin Chúa Jesus, sao nó không cám dỗ tôi? Người tín đồ nầy chưa kịp trả lời. Trong lúc đó có một bầy vịt trời bay ngang, ông chủ đưa súng lên bóp cò, bầy vịt trời chết nhiều con và một số con bị thương. Ông chủ ra lệnh, ông hãy nhanh bắt những con bị thương cho tôi còn con chết để đó. Sau khi làm xong nhiệm vụ mình, ông tín đồ đến trả lời cùng ông chủ. Ma quỉ cũng xử dụng bằng cách nầy thôi, tôi là người tín đồ của Chúa Jesus bị thử thách, bị khó khăn nên nó tìm cách bắt tôi, còn ông thì nó khỏi bắt, ông giống như những con vịt đã chết rồi, nó muốn lượm lúc nào cũng được bởi vì ông đã thuộc về nó rồi, không có vội vàng để làm gì?
Thưa quí thân hữu, Chúa vẫn còn tiếp tục yêu thương kêu gọi tôi cũng như quí vị thân hữu, Ngài tạo cơ hội, Ngài tạo điều kiện để có thể đến với Chúa. Nhưng chúng ta cứ vô tín, chống Chúa chắc chắn khi ra trước tòa án trắng của Đức Chúa Trời, chúng ta không thể bào chữa tội lỗi mình. Vậy ngay giờ phút nầy hãy đến với Chúa Jesus, tiếp nhận Ngài làm Chúa cuộc đời mình. Chắc chắn rằng chúng ta sẽ được ở trong nơi Ngài đi sắm sẳn cho chúng ta. A-men
http://www.tinlanh.or.kr/VN/Chung_Dao/Loi_Chung/079-cjsdctdst.htm
Đọc thêm!
Câu Chuyện 43 Năm Trước
Lời Giới Thiệu: Đây là lời chia xẻ của một trong những người lãnh đạo đầu tiên của phong trào Sinh Viên Tin Lành tại Sài-gòn vào thập niên 60, ông Đàm Quang Thuận. Sau khi tin Chúa khoảng một năm ông đã viết lời chia xẻ này, được đăng lần đầu tiên trên báo Hừng Đông, là cơ quan thông tin và truyền giảng của Hội thánh Tin Lành Việt Nam. Đặc điểm của lời chia xẻ này là cách diễn đạt cô đọng, chân thành, trong sáng về một kinh nghiệm quan trọng nhất trong đời ông. Tất cả mọi sự việc nêu lên trong bài chia xẻ xuất hiện như nằm trong một trình tự do bàn tay Đức Chúa Trời sắp đặt; mỗi diễn biến hiển nhiên đóng một vai trò quan trọng trong quyết định đến với Chúa của tác giả.
Chúng tôi mong rằng quí độc giả, nếu đã tin Chúa có cơ hội ôn lại một vài kinh nghiệm thuộc linh của mình qua lời chia xẻ này, nhưng đối với những độc giả còn đứng ngoài niềm tin, lời chia xẻ này có thể là một hướng dẫn rất rõ ràng và thực tế. Nếu một sinh viên 19 tuổi xuất thân từ một gia đình danh gia thế phiệt, tự tin, bằng lòng về mình và cuộc sống của mình, với một tương lai xán lạn, lại được trưởng dưỡng trong một bối cảnh khác với Cơ-đốc giáo, tưởng như là một thành phần ít cần Chúa nhất lại có thể đi đến chỗ khao khát Chúa Giê-xu thì chắc chắn bạn cũng có thể đến với Chúa nếu thật lòng mong muốn. Chúng tôi xin mời bạn đọc câu chuyện đầy ý nghĩa này.
Những việc mà Đức Chúa Trời đã làm cho tôi không có gì đo lường nổi, mỗi khi nghĩ đến thì tôi càng thấy rõ lòng thương yêu vô hạn của Ngài đối với tôi. Đây là lời chia xẻ của tôi, một kẻ đã được Cứu Chúa Giê-xu Christ tìm thấy và tiếp nhận...
Gia đình tôi theo Phật giáo và Khổng giáo, nghĩa là trong nhà thì thờ cúng tổ tiên, ra ngoài thì cúng lễ ở các đền chùa và mấy năm trước đây tôi theo và nhận tất cả những tín ngưỡng của cha mẹ tôi. Đến năm tôi học ban triết lý tú tài thì tôi bỗng nhiên chú ý đến các tôn giáo khác vì trong đáy lòng tôi, tôi cảm thấy là có Đức Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa đã sinh ra vũ trụ này và sinh ra tôi. Lòng tôi kháo khát được biết Ngài. Làm thế nào để biết Ngài? - Đó là câu hỏi trong đầu tôi. Phật giáo và Khổng giáo hoặc tránh câu hỏi đó, hoặc không trả lời được, tôi bèn quay sang Cơ-đốc giáo, tuy rằng tôi không ưa đạo này chút nào. Tôi biết Giê-xu Christ là người Á châu, nhưng đối với tôi đạo của Ngài là đạo của người Tây phương không hợp với tâm hồn người Việt. Tôi thấy những lời Kinh Thánh dạy khó tin quá và cũng vì thế tôi bỏ cuộc tìm hiểu các tôn giáo.
Vừa thi đỗ xong, tôi lại được học bổng sang Úc du học nữa, tôi vui sướng quá, tôi thấy đời tôi đầy đủ quá và tự nghĩ rằng: Tôi còn trẻ tuổi, đời tôi còn tươi, tương lai tôi còn đẹp, vậy việc gì tôi phải bận tâm theo một đạo nào. Đạo nào cũng tự nhân loại tạo ra, đạo nào cũng khuyên làm điều lành, tránh việc dữ, cái đó thì tôi cũng thừa hiểu biết, xưa nay tôi vẫn tử tế với mọi người, tôi được chúng bạn quý mến, tôi được cha mẹ thương yêu, và tôi thấy tôi là một người tốt và tôi rất hãnh diện vì bà ngoại tôi thường khen tôi có lòng thương yêu nhân loại.
Mấy tháng đầu trên đất Úc, tôi ở Sydney, thủ đô xứ New South Wales, kinh thành lớn nhất nước Úc. Phần còn nhớ nhà, phần say sưa với cuộc đời mới lạ trên đất khách, tôi không còn thì giờ nghĩ đến tôn giáo và Chúa nữa. Tháng Ba, 1957, tôi xuống Melbourne, thủ đô xứ Victoria, kinh thành của Thế vận hội 1956, để nhập đại học. Còn phải chờ đợi hai tuần nữa mới tới ngày khai giảng, nên tôi nhận lời mời đến giúp trường Summer Institute of Linguistics (Wycliffe Bible Translators.) Trường này chuyên khảo về ngôn ngữ với mục đích là đặt chữ viết cho những tiếng nói chưa có chữ viết tận Phi châu, Nam Mỹ, Tân-ghi-nê v.v... và dịch Kinh Thánh ra tất cả những tiếng trên hoàn cầu. Sau phần học về lý thuyết, những sinh viên ở trường đó cần phải có phần thực hành nữa, vì thế nên tôi và chừng mười sinh viên khác đang du học tại Melbourne được mời đến nói các tiếng Á đông cho họ tập nghe, tập nói những âm thanh lạ và tập khảo cứu tiếng nói.
Sau hai tuần sống ở trường, đời tôi đã thay đổi hẳn phương hướng, vậy tôi muốn kể rành mạch Đức Chúa Trời đã đưa dẫn tôi tới chỗ nhận biết Ngài như thế nào.
Khi tới trường S.I.L. ở Belgrave Heights, một vùng đồi núi gần Melbourne, tôi được các sinh viên trường đó tiếp đón rất nồng hậu và tuy rằng đó là lần đầu tiên tôi gặp nhiều người lạ như thế, mà tôi không hề thấy ngượng nghịu gì cả vì họ đối với tôi rất thân mật, thành thực và tự nhiên. Trường đó gồm hơn 70 người, quốc tịch khác nhau: Anh, Úc, Tân Tây Lan, Gia-nã-đại, Mỹ, Hòa Lan v.v... nhưng bầu không khí đầm ấm, và hòa hiệp như trong một gia đình vì học cùng một tín ngưỡng, cùng một chí hướng.
Ngày ngày tôi nói tiếng Việt cho họ nghe, buổi chiều thì tôi chơi bóng chuyền với họ, khi thảnh thơi thì cùng dạo chơi qua những khu đồi lân cận. Ăn ở với họ như thế tôi mới thấy rõ trong đời những sinh viên ấy lộ ra một niềm vui mừng, một sự bình an trong tâm hồn, một mối hy vọng, một đức tin mà tôi không có. Vì Giê-xu Christ đã giải hòa họ với Đấng Tạo Hóa, vì Chúa sống trong đời họ chăng? Họ nói thế, nhưng tôi không chịu tin và tư tưởng của Renan, triết lý của Nietzsche lại ám ảnh trí óc tôi: chỉ có những kẻ yếu đuối, thiếu nghị lực, chỉ có những kẻ hèn nhát mới hạ mình quỳ gối ăn năn tội lỗi. Tôi thấy ghét hai chữ tội lỗi và tuy tôi không hiểu rõ Kinh Thánh giải nghĩa tội lỗi thế nào, tôi cho rằng tôi không cần phải ăn năn tội lỗi gì cả.
Một buổi chiều tôi cùng đi chơi với một anh sinh viên người Singapore cũng đến S.I.L. với tôi để dạy tiếng Á. Anh ta theo đạo Tin Lành từ nhỏ và anh nói chuyện với tôi về sự cứu rỗi. Tôi không muốn nghe chút nào cả và tôi cười thầm tự nhủ nếu anh ta muốn tôi tin thì anh ta chỉ mất thì giờ thôi vì tôi sẽ không tin. Nếu anh ta tin Chúa Giê-xu Christ thì anh ta cứ việc tin, tôi không tin thì việc đó không liên hệ gì với anh ta. Tôi mải ngắm phong cảnh nên không để ý tới những lời anh ta nói và cũng chẳng buồn tranh luận với nữa.
Hơn một tuần qua, tôi càng thấy quý mến và cảm phục những người tôi cùng sống với tại trường S.I.L. Tôi nhớ Đức Khổng Tử có dạy rằng, nếu đạo làm người ta xấu, thì đạo đó cũng xấu, ta nên tránh đừng theo. Nhưng tôi đã thấy rõ ràng là tôi vẫn tưởng tôi tốt, nhưng so với họ thì tôi kém xa và tôi thấy thèm muốn được có một đức tin như họ. Tôi không tự phụ nữa, nhưng tôi vẫn nghi ngờ và thỉnh thoảng tôi lại muốn tranh luận. Có một lần tôi hỏi một sinh viên rằng: “Anh bảo rằng Chúa thương yêu nhân loại và Chúa có quyền hành trên khắp vũ trụ, vậy sao đạo Tin Lành có gần hai ngàn năm nay mà thế giới vẫn còn có chiến tranh và nhân loại vẫn khổ sở?” Anh ta không thích biện luận, nhưng cũng đáp lại: “Nước có trên quả đất này từ ức triệu năm về trước vậy sao tới giờ này vẫn còn nhiều kẻ bẩn thỉu? Vì người ta không chịu dùng nước mà tắm rửa. Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời đã xuống trần tỏ lòng thương yêu của Ngài với cả nhân loại, Ngài đã chết trên cây Thập Tự để chuộc tội lỗi cho mọi người, Ngài đã chiến thắng sự chết để tỏ cho loài người biết là nếu ai theo Ngài thì sẽ có Sự Sống, vậy sao anh còn từ chối Ngài? Anh không nhận Ngài làm Cứu Chúa, và nhờ cậy huyết Ngài rửa sạch tội lỗi của anh? Anh muốn sống một đời ích kỷ, một đời không có Chúa, đó là tội lỗi lớn nhất đó.” Anh ta có khuyên tôi nên mở Kinh Thánh ra và đọc để hiểu biết thêm, nên bỏ đời sống này và sống một đời mới.
Tối hôm đó, khi các sinh viên họp nhau cùng hát những bài ca tụng Chúa và cầu nguyện Chúa giúp họ khi rời trường S.I.L. xuất dương và mang Tin Lành đi khắp nơi, thì tôi cùng ngồi với họ. Tôi rất ngạc nhiên khi nghe họ gọi Đức Chúa Trời là “CHA” và có vẻ biết Ngài một cách thân thiết. Họ quen biết Vị Tạo Hóa như con biết cha, nhưng đối với tôi, Ngài xa lạ quá và tôi lại thấy lòng tôi khao khát được biết Đức Chúa Trời như hồi còn ở Việt Nam. Khi trở về phòng ngủ, một anh sinh viên chung phòng tặng tôi một quyển Kinh Thánh Tân Ước nhỏ. Tôi cầu nguyện trong lòng xin Chúa mở mắt tôi ra cho tôi hiểu biết những điều mà Ngài muốn dạy tôi. Tôi thành thực muốn được biết Ngài nên tôi cầu Ngài giúp đỡ tôi.
Tôi đọc sách Tin Lành Giăng và cảm thấy lòng thương yêu vô tận của Đức Chúa Trời bao bọc quanh tôi. Tôi nhận thấy Đấng Christ là “Đường Đi, Lẽ thật và Sự Sống” (Giăng 14:6)
Tôi nhận thấy tội lỗi của tôi, tôi không nhớ rõ những điều xấu xa tôi đã làm nhưng tôi thấy rõ là tính tự phụ, lòng ích kỷ và sự vô tín của tôi đã làm tôi mù quáng và đã ngăn cản tôi. “Ấy là sự sáng thật, đến thế gian soi sáng mọi người. Ngài ở thế gian và thế gian bởi Ngài dựng nên, nhưng thế gian chẳng nhận biết Ngài... Ngài đã đến trong cõi thuộc về Ngài, song những kẻ thuộc về Ngài chẳng tiếp nhận Ngài.” (Giăng 1:9-11).
Tôi tiếp nhận Giê-xu Christ làm Cứu Chúa của tôi, tôi thấy Ngài đúng là Đấng Tạo Hóa, là Đức Chúa Trời mà tôi mong muốn được biết. Tôi ăn năn tội, và tin rằng huyết Ngài đổ ra trên thập tự sẽ rửa sạch tội lỗi của tôi và cứu tôi thoát khỏi sự chết. Từ lúc đó Đấng Christ đối với tôi không phải là một người xa lạ có tên là Giê-xu, sống tại Do Thái cách đây gần 2000 năm, nhưng là Sự Thực. Trong tai tôi văng vẳng mấy câu hát tôi nghe thấy tối hôm ấy: “Ngài Sống! Ngài Sống! Tôi biết Cứu Chúa tôi sống. Ngài nói với tôi, Ngài đi cùng tôi. Trên con đường đời chật hẹp, Bạn hỏi: Sao tôi biết là Ngài sống? -Ngài sống trong chính lòng tôi.”
Đây không phải là cụ thể hóa một lý tưởng, không phải do trí tưởng tượng của tôi tạo ra và cũng không phải là kết quả của sự xúc động của tôi. Thật ra lúc đó tôi hơi thất vọng vì tôi không thấy cảm động nhiều, tôi không thấy phép lạ gì xảy ra cả. Tôi chỉ cảm thấy tâm hồn tôi bình an, lòng tôi khoan khoái, tôi thấy nhớ ơn Chúa và yêu thương Ngài, đó là đức tin Ngài đã ban cho tôi.
Ngày hôm sau, tôi phải trở lại Melbourne để kịp ngày đại học khai giảng. Tôi bèn ngỏ ý với một Mục Sư trong số những sinh viên trường S.I.L. là tôi muốn theo đạo Tin Lành. Anh ta rất mừng, nhưng khuyên tôi nên suy nghĩ kỹ lưỡng trước khi theo đạo vì nếu tôi chỉ nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa vẫn chưa đầy đủ, khi tôi nhận Ngài, tôi phải nhìn nhận Ngài làm Cứu Chúa của chính đời tôi và phải theo Ngài đến cùng. Tôi kể lại với anh là tôi đã ăn năn tội lỗi, tôi đã thấy lòng yêu thương của Đức Chúa Trời đối với tôi và mặc dầu mọi sự cản trở tôi sẽ trung tín theo Ngài đến cùng. Anh ta cầu nguyện cho tôi, xin Chúa giúp đỡ tôi trong đời mới này. Đến bữa ăn trưa hôm đó, tôi đứng dậy và báo cho cả trường là tôi đã tin Chúa và cảm tạ họ đã cầu nguyện cho tôi trong hai tuần cùng sống với họ.
Thưa quý độc giả thân mến, đó chỉ là bước đầu của tôi trong đời sống mới trong ơn Chúa mà thôi. Khi trở về Melbourne, tôi có viết thư về nhà xin phép cha mẹ tôi và cám ơn Chúa, cha mẹ tôi tuy không bằng lòng, nhưng không ngăn cản tôi. Tôi gia nhập một Hội Thánh Tin Lành để thờ phượng Đức Chúa Trời và được nghe giảng giải Kinh Thánh. Ngoài ra, tôi được tương giao với những tín đồ đã được tái sinh như tôi, tôi nhập học Melbourne University Evangelical Union và cùng với mấy sinh viên Á, lập hội Overseas Christian Fellowship với mục đích là chia xẻ sự hiểu biết và lòng thương yêu Đức Chúa Trời cho những sinh viên Úc và Á vẫn chưa nhận Giê-xu Christ làm Cứu Chúa mình.
Nhiều lúc gặp nỗi khó khăn, lắm khi cảm thấy chán nản, hoặc nghi ngờ, hoặc phạm tội, nhưng tôi được Chúa tha thứ và Thánh Linh đã dạy tôi cần sống bằng đức tin chứ không sống bằng cảm giác. Ngài dẫn đường cho tôi khi gặp bước khó khăn, nâng đỡ khi tôi vấp ngã. Với Chúa, tâm hồn tôi đã được biết một sự bình an vô tận, lòng tôi tràn ngập một niềm vui mừng và hy vọng mà tôi chưa từng biết.
Nguyện lời làm chứng thành thực này sẽ giúp ích cho quý độc giả nào chưa nhận Chúa Giê-xu làm Cứu Chúa và chưa được hưởng lòng yêu thương của Ngài. Trước đây, tôi cũng ở vào hoàn cảnh của một số bạn trẻ, tôi tự tin ở tôi, tôi tưởng đời tôi đầy đủ, tôi tưởng tôi không thiếu thốn một điều gì cả. Nhưng tôi đã lầm to. Quãng đời cũ trước mắt tôi như cái giếng sâu thăm thẳm, đã giam cầm tôi trong hai mươi năm, khi Christ mang tôi ra khỏi đó, tôi mới biết bề sâu và sự đen tối của cái giếng ấy, từ khi Christ vào trong đời tôi, tôi mới biết thế nào là “Sự Sống dư dật” mà Ngài đã nói (Giăng 10:10)
Tôi mong các bạn sẽ có đủ can đảm nhìn vào tội lỗi của bạn, và nhớ rằng tội lỗi lớn nhất là từ chối Ngài, rồi bạn hãy nhìn lên Đấng Christ, đang mang tội lỗi của bạn trên cây Thập Tự để đem lại sự sống cho bạn. Tôi mong rằng bạn sẽ thành thực và tự hỏi mình rằng: Có nên chối bỏ Giê-xu Christ không? Có nên nhận Ngài làm Cứu Chúa mình không? Có nên theo Ngài đến cùng không? Xin bạn quyết định đi. Tôi thành thực mong rằng sẽ có vài bạn nghe tiếng tiếng Ngài kêu gọi trong lòng sẽ ăn năn quay về với Cha các bạn, tức là Đấng Tạo Hóa và Đức Chúa Trời của nhân loại - và linh hồn các bạn sẽ sống. (Ê-sai 55)
Đàm Quang Thuận
http://www.tinlanhbayarea.org/ctpttl/g0501.html
Đọc thêm!
Chúng tôi mong rằng quí độc giả, nếu đã tin Chúa có cơ hội ôn lại một vài kinh nghiệm thuộc linh của mình qua lời chia xẻ này, nhưng đối với những độc giả còn đứng ngoài niềm tin, lời chia xẻ này có thể là một hướng dẫn rất rõ ràng và thực tế. Nếu một sinh viên 19 tuổi xuất thân từ một gia đình danh gia thế phiệt, tự tin, bằng lòng về mình và cuộc sống của mình, với một tương lai xán lạn, lại được trưởng dưỡng trong một bối cảnh khác với Cơ-đốc giáo, tưởng như là một thành phần ít cần Chúa nhất lại có thể đi đến chỗ khao khát Chúa Giê-xu thì chắc chắn bạn cũng có thể đến với Chúa nếu thật lòng mong muốn. Chúng tôi xin mời bạn đọc câu chuyện đầy ý nghĩa này.
Những việc mà Đức Chúa Trời đã làm cho tôi không có gì đo lường nổi, mỗi khi nghĩ đến thì tôi càng thấy rõ lòng thương yêu vô hạn của Ngài đối với tôi. Đây là lời chia xẻ của tôi, một kẻ đã được Cứu Chúa Giê-xu Christ tìm thấy và tiếp nhận...
Gia đình tôi theo Phật giáo và Khổng giáo, nghĩa là trong nhà thì thờ cúng tổ tiên, ra ngoài thì cúng lễ ở các đền chùa và mấy năm trước đây tôi theo và nhận tất cả những tín ngưỡng của cha mẹ tôi. Đến năm tôi học ban triết lý tú tài thì tôi bỗng nhiên chú ý đến các tôn giáo khác vì trong đáy lòng tôi, tôi cảm thấy là có Đức Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa đã sinh ra vũ trụ này và sinh ra tôi. Lòng tôi kháo khát được biết Ngài. Làm thế nào để biết Ngài? - Đó là câu hỏi trong đầu tôi. Phật giáo và Khổng giáo hoặc tránh câu hỏi đó, hoặc không trả lời được, tôi bèn quay sang Cơ-đốc giáo, tuy rằng tôi không ưa đạo này chút nào. Tôi biết Giê-xu Christ là người Á châu, nhưng đối với tôi đạo của Ngài là đạo của người Tây phương không hợp với tâm hồn người Việt. Tôi thấy những lời Kinh Thánh dạy khó tin quá và cũng vì thế tôi bỏ cuộc tìm hiểu các tôn giáo.
Vừa thi đỗ xong, tôi lại được học bổng sang Úc du học nữa, tôi vui sướng quá, tôi thấy đời tôi đầy đủ quá và tự nghĩ rằng: Tôi còn trẻ tuổi, đời tôi còn tươi, tương lai tôi còn đẹp, vậy việc gì tôi phải bận tâm theo một đạo nào. Đạo nào cũng tự nhân loại tạo ra, đạo nào cũng khuyên làm điều lành, tránh việc dữ, cái đó thì tôi cũng thừa hiểu biết, xưa nay tôi vẫn tử tế với mọi người, tôi được chúng bạn quý mến, tôi được cha mẹ thương yêu, và tôi thấy tôi là một người tốt và tôi rất hãnh diện vì bà ngoại tôi thường khen tôi có lòng thương yêu nhân loại.
Mấy tháng đầu trên đất Úc, tôi ở Sydney, thủ đô xứ New South Wales, kinh thành lớn nhất nước Úc. Phần còn nhớ nhà, phần say sưa với cuộc đời mới lạ trên đất khách, tôi không còn thì giờ nghĩ đến tôn giáo và Chúa nữa. Tháng Ba, 1957, tôi xuống Melbourne, thủ đô xứ Victoria, kinh thành của Thế vận hội 1956, để nhập đại học. Còn phải chờ đợi hai tuần nữa mới tới ngày khai giảng, nên tôi nhận lời mời đến giúp trường Summer Institute of Linguistics (Wycliffe Bible Translators.) Trường này chuyên khảo về ngôn ngữ với mục đích là đặt chữ viết cho những tiếng nói chưa có chữ viết tận Phi châu, Nam Mỹ, Tân-ghi-nê v.v... và dịch Kinh Thánh ra tất cả những tiếng trên hoàn cầu. Sau phần học về lý thuyết, những sinh viên ở trường đó cần phải có phần thực hành nữa, vì thế nên tôi và chừng mười sinh viên khác đang du học tại Melbourne được mời đến nói các tiếng Á đông cho họ tập nghe, tập nói những âm thanh lạ và tập khảo cứu tiếng nói.
Sau hai tuần sống ở trường, đời tôi đã thay đổi hẳn phương hướng, vậy tôi muốn kể rành mạch Đức Chúa Trời đã đưa dẫn tôi tới chỗ nhận biết Ngài như thế nào.
Khi tới trường S.I.L. ở Belgrave Heights, một vùng đồi núi gần Melbourne, tôi được các sinh viên trường đó tiếp đón rất nồng hậu và tuy rằng đó là lần đầu tiên tôi gặp nhiều người lạ như thế, mà tôi không hề thấy ngượng nghịu gì cả vì họ đối với tôi rất thân mật, thành thực và tự nhiên. Trường đó gồm hơn 70 người, quốc tịch khác nhau: Anh, Úc, Tân Tây Lan, Gia-nã-đại, Mỹ, Hòa Lan v.v... nhưng bầu không khí đầm ấm, và hòa hiệp như trong một gia đình vì học cùng một tín ngưỡng, cùng một chí hướng.
Ngày ngày tôi nói tiếng Việt cho họ nghe, buổi chiều thì tôi chơi bóng chuyền với họ, khi thảnh thơi thì cùng dạo chơi qua những khu đồi lân cận. Ăn ở với họ như thế tôi mới thấy rõ trong đời những sinh viên ấy lộ ra một niềm vui mừng, một sự bình an trong tâm hồn, một mối hy vọng, một đức tin mà tôi không có. Vì Giê-xu Christ đã giải hòa họ với Đấng Tạo Hóa, vì Chúa sống trong đời họ chăng? Họ nói thế, nhưng tôi không chịu tin và tư tưởng của Renan, triết lý của Nietzsche lại ám ảnh trí óc tôi: chỉ có những kẻ yếu đuối, thiếu nghị lực, chỉ có những kẻ hèn nhát mới hạ mình quỳ gối ăn năn tội lỗi. Tôi thấy ghét hai chữ tội lỗi và tuy tôi không hiểu rõ Kinh Thánh giải nghĩa tội lỗi thế nào, tôi cho rằng tôi không cần phải ăn năn tội lỗi gì cả.
Một buổi chiều tôi cùng đi chơi với một anh sinh viên người Singapore cũng đến S.I.L. với tôi để dạy tiếng Á. Anh ta theo đạo Tin Lành từ nhỏ và anh nói chuyện với tôi về sự cứu rỗi. Tôi không muốn nghe chút nào cả và tôi cười thầm tự nhủ nếu anh ta muốn tôi tin thì anh ta chỉ mất thì giờ thôi vì tôi sẽ không tin. Nếu anh ta tin Chúa Giê-xu Christ thì anh ta cứ việc tin, tôi không tin thì việc đó không liên hệ gì với anh ta. Tôi mải ngắm phong cảnh nên không để ý tới những lời anh ta nói và cũng chẳng buồn tranh luận với nữa.
Hơn một tuần qua, tôi càng thấy quý mến và cảm phục những người tôi cùng sống với tại trường S.I.L. Tôi nhớ Đức Khổng Tử có dạy rằng, nếu đạo làm người ta xấu, thì đạo đó cũng xấu, ta nên tránh đừng theo. Nhưng tôi đã thấy rõ ràng là tôi vẫn tưởng tôi tốt, nhưng so với họ thì tôi kém xa và tôi thấy thèm muốn được có một đức tin như họ. Tôi không tự phụ nữa, nhưng tôi vẫn nghi ngờ và thỉnh thoảng tôi lại muốn tranh luận. Có một lần tôi hỏi một sinh viên rằng: “Anh bảo rằng Chúa thương yêu nhân loại và Chúa có quyền hành trên khắp vũ trụ, vậy sao đạo Tin Lành có gần hai ngàn năm nay mà thế giới vẫn còn có chiến tranh và nhân loại vẫn khổ sở?” Anh ta không thích biện luận, nhưng cũng đáp lại: “Nước có trên quả đất này từ ức triệu năm về trước vậy sao tới giờ này vẫn còn nhiều kẻ bẩn thỉu? Vì người ta không chịu dùng nước mà tắm rửa. Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời đã xuống trần tỏ lòng thương yêu của Ngài với cả nhân loại, Ngài đã chết trên cây Thập Tự để chuộc tội lỗi cho mọi người, Ngài đã chiến thắng sự chết để tỏ cho loài người biết là nếu ai theo Ngài thì sẽ có Sự Sống, vậy sao anh còn từ chối Ngài? Anh không nhận Ngài làm Cứu Chúa, và nhờ cậy huyết Ngài rửa sạch tội lỗi của anh? Anh muốn sống một đời ích kỷ, một đời không có Chúa, đó là tội lỗi lớn nhất đó.” Anh ta có khuyên tôi nên mở Kinh Thánh ra và đọc để hiểu biết thêm, nên bỏ đời sống này và sống một đời mới.
Tối hôm đó, khi các sinh viên họp nhau cùng hát những bài ca tụng Chúa và cầu nguyện Chúa giúp họ khi rời trường S.I.L. xuất dương và mang Tin Lành đi khắp nơi, thì tôi cùng ngồi với họ. Tôi rất ngạc nhiên khi nghe họ gọi Đức Chúa Trời là “CHA” và có vẻ biết Ngài một cách thân thiết. Họ quen biết Vị Tạo Hóa như con biết cha, nhưng đối với tôi, Ngài xa lạ quá và tôi lại thấy lòng tôi khao khát được biết Đức Chúa Trời như hồi còn ở Việt Nam. Khi trở về phòng ngủ, một anh sinh viên chung phòng tặng tôi một quyển Kinh Thánh Tân Ước nhỏ. Tôi cầu nguyện trong lòng xin Chúa mở mắt tôi ra cho tôi hiểu biết những điều mà Ngài muốn dạy tôi. Tôi thành thực muốn được biết Ngài nên tôi cầu Ngài giúp đỡ tôi.
Tôi đọc sách Tin Lành Giăng và cảm thấy lòng thương yêu vô tận của Đức Chúa Trời bao bọc quanh tôi. Tôi nhận thấy Đấng Christ là “Đường Đi, Lẽ thật và Sự Sống” (Giăng 14:6)
Tôi nhận thấy tội lỗi của tôi, tôi không nhớ rõ những điều xấu xa tôi đã làm nhưng tôi thấy rõ là tính tự phụ, lòng ích kỷ và sự vô tín của tôi đã làm tôi mù quáng và đã ngăn cản tôi. “Ấy là sự sáng thật, đến thế gian soi sáng mọi người. Ngài ở thế gian và thế gian bởi Ngài dựng nên, nhưng thế gian chẳng nhận biết Ngài... Ngài đã đến trong cõi thuộc về Ngài, song những kẻ thuộc về Ngài chẳng tiếp nhận Ngài.” (Giăng 1:9-11).
Tôi tiếp nhận Giê-xu Christ làm Cứu Chúa của tôi, tôi thấy Ngài đúng là Đấng Tạo Hóa, là Đức Chúa Trời mà tôi mong muốn được biết. Tôi ăn năn tội, và tin rằng huyết Ngài đổ ra trên thập tự sẽ rửa sạch tội lỗi của tôi và cứu tôi thoát khỏi sự chết. Từ lúc đó Đấng Christ đối với tôi không phải là một người xa lạ có tên là Giê-xu, sống tại Do Thái cách đây gần 2000 năm, nhưng là Sự Thực. Trong tai tôi văng vẳng mấy câu hát tôi nghe thấy tối hôm ấy: “Ngài Sống! Ngài Sống! Tôi biết Cứu Chúa tôi sống. Ngài nói với tôi, Ngài đi cùng tôi. Trên con đường đời chật hẹp, Bạn hỏi: Sao tôi biết là Ngài sống? -Ngài sống trong chính lòng tôi.”
Đây không phải là cụ thể hóa một lý tưởng, không phải do trí tưởng tượng của tôi tạo ra và cũng không phải là kết quả của sự xúc động của tôi. Thật ra lúc đó tôi hơi thất vọng vì tôi không thấy cảm động nhiều, tôi không thấy phép lạ gì xảy ra cả. Tôi chỉ cảm thấy tâm hồn tôi bình an, lòng tôi khoan khoái, tôi thấy nhớ ơn Chúa và yêu thương Ngài, đó là đức tin Ngài đã ban cho tôi.
Ngày hôm sau, tôi phải trở lại Melbourne để kịp ngày đại học khai giảng. Tôi bèn ngỏ ý với một Mục Sư trong số những sinh viên trường S.I.L. là tôi muốn theo đạo Tin Lành. Anh ta rất mừng, nhưng khuyên tôi nên suy nghĩ kỹ lưỡng trước khi theo đạo vì nếu tôi chỉ nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa vẫn chưa đầy đủ, khi tôi nhận Ngài, tôi phải nhìn nhận Ngài làm Cứu Chúa của chính đời tôi và phải theo Ngài đến cùng. Tôi kể lại với anh là tôi đã ăn năn tội lỗi, tôi đã thấy lòng yêu thương của Đức Chúa Trời đối với tôi và mặc dầu mọi sự cản trở tôi sẽ trung tín theo Ngài đến cùng. Anh ta cầu nguyện cho tôi, xin Chúa giúp đỡ tôi trong đời mới này. Đến bữa ăn trưa hôm đó, tôi đứng dậy và báo cho cả trường là tôi đã tin Chúa và cảm tạ họ đã cầu nguyện cho tôi trong hai tuần cùng sống với họ.
Thưa quý độc giả thân mến, đó chỉ là bước đầu của tôi trong đời sống mới trong ơn Chúa mà thôi. Khi trở về Melbourne, tôi có viết thư về nhà xin phép cha mẹ tôi và cám ơn Chúa, cha mẹ tôi tuy không bằng lòng, nhưng không ngăn cản tôi. Tôi gia nhập một Hội Thánh Tin Lành để thờ phượng Đức Chúa Trời và được nghe giảng giải Kinh Thánh. Ngoài ra, tôi được tương giao với những tín đồ đã được tái sinh như tôi, tôi nhập học Melbourne University Evangelical Union và cùng với mấy sinh viên Á, lập hội Overseas Christian Fellowship với mục đích là chia xẻ sự hiểu biết và lòng thương yêu Đức Chúa Trời cho những sinh viên Úc và Á vẫn chưa nhận Giê-xu Christ làm Cứu Chúa mình.
Nhiều lúc gặp nỗi khó khăn, lắm khi cảm thấy chán nản, hoặc nghi ngờ, hoặc phạm tội, nhưng tôi được Chúa tha thứ và Thánh Linh đã dạy tôi cần sống bằng đức tin chứ không sống bằng cảm giác. Ngài dẫn đường cho tôi khi gặp bước khó khăn, nâng đỡ khi tôi vấp ngã. Với Chúa, tâm hồn tôi đã được biết một sự bình an vô tận, lòng tôi tràn ngập một niềm vui mừng và hy vọng mà tôi chưa từng biết.
Nguyện lời làm chứng thành thực này sẽ giúp ích cho quý độc giả nào chưa nhận Chúa Giê-xu làm Cứu Chúa và chưa được hưởng lòng yêu thương của Ngài. Trước đây, tôi cũng ở vào hoàn cảnh của một số bạn trẻ, tôi tự tin ở tôi, tôi tưởng đời tôi đầy đủ, tôi tưởng tôi không thiếu thốn một điều gì cả. Nhưng tôi đã lầm to. Quãng đời cũ trước mắt tôi như cái giếng sâu thăm thẳm, đã giam cầm tôi trong hai mươi năm, khi Christ mang tôi ra khỏi đó, tôi mới biết bề sâu và sự đen tối của cái giếng ấy, từ khi Christ vào trong đời tôi, tôi mới biết thế nào là “Sự Sống dư dật” mà Ngài đã nói (Giăng 10:10)
Tôi mong các bạn sẽ có đủ can đảm nhìn vào tội lỗi của bạn, và nhớ rằng tội lỗi lớn nhất là từ chối Ngài, rồi bạn hãy nhìn lên Đấng Christ, đang mang tội lỗi của bạn trên cây Thập Tự để đem lại sự sống cho bạn. Tôi mong rằng bạn sẽ thành thực và tự hỏi mình rằng: Có nên chối bỏ Giê-xu Christ không? Có nên nhận Ngài làm Cứu Chúa mình không? Có nên theo Ngài đến cùng không? Xin bạn quyết định đi. Tôi thành thực mong rằng sẽ có vài bạn nghe tiếng tiếng Ngài kêu gọi trong lòng sẽ ăn năn quay về với Cha các bạn, tức là Đấng Tạo Hóa và Đức Chúa Trời của nhân loại - và linh hồn các bạn sẽ sống. (Ê-sai 55)
Đàm Quang Thuận
http://www.tinlanhbayarea.org/ctpttl/g0501.html
Đọc thêm!
Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2009
Sự đáp lời vượt quá sức tưởng tượng của Chúa cho gia đình tôi
Năm 1998, khi đưa đứa con đầu đi khám sức khỏe để chuẩn bị nhập học mẫu gáo, bác sĩ nhìn thấy chồng tôi và khuyên anh ấy nên đi khám sức khỏe. Trước đây cũng đã có một vài người khuyên tương tự nhưng chúng tôi không quan tâm lắm vì nghĩ chồng tôi còn trẻ, làm sao có bệnh tật gì. Bán tính bán nghi, chúng tôi đến bệnh viện Chợ Rẫy và sau làm các xét nghiệm và chụp phim, bác sĩ cho biết chồng tôi bị một khối u rất lớn (bằng một trái chanh) trong não phát sinh do sự phát triển bất thường của tuyến yên. Hoang mang vô cùng khi chúng tôi đến với 1 trong những chuyên gia hàng đầu của Việt nam về nội tiết tố, ông ta cho biết không có cách gì chữa được bởi vì khối u này nằm rất sâu trong não, khi phẫu thuật đến đó phải đi qua rất nhiều dây thần kinh - sẽ làm tổn thương, gây tử vong. Còn nếu không phẫu thuật thì từ từ khi khối u này phát triển tiếp, nó sẽ chèn ép các mạch máu não và dây thần kinh gây ra nhiều bệnh và mù lòa, kết cục cuối cùng cũng là tử vong.
Như cầm bản án tử trong tay, chúng tôi tìm đến 1 bác sĩ hàng đầu về phẫu thuật thần kinh và cũng được ông cho biết là không thể mổ. Bệnh viện K (ung bướu) Hà nội cũng từ chối không xạ trị vì khi chiếu tia để hạn chế không cho khối u phát triển thì cũng sẽ làm tổn thương thần kinh thị giác gây mù lòa cùng nhiều tác hại khác. Tôi chỉ còn biết cầu nguyện còn chồng tôi thì hoang mang vô cùng vì lúa đó anh ấy chưa tin nhận Chúa, mà mọi hy vọng nơi khả năng của con người đã hết.
Đúng lúc đó, có người chỉ cho chúng tôi đến với 1 bác sĩ trẻ có nhiều cơ hội tiếp xúc với y học nước ngoài, bà cho biết bệnh của chồng tôi ở Singapore có thể chữa được. Dường như Chúa đã nghe lời cầu nguyện của tôi. Nhưng để chữa bệnh ở nước ngòai cũng thật là khó khăn. Đầu tiên phải có người thân ở Sing liên hệ với Bệnh viện và bác sĩ mà chúng tôi thì không quen ai. Sau đó cần phải có người đi theo chồng tôi khi diễn ra phẫu thuật để chăm sóc khi hồi sức (nếu thành công), mà tôi lại đang có con nhỏ mới 2 tuổi và lại đang manh thai cháu thứ 2 được 5 tháng, hơn nữa tiếng Anh của chồng tôi chỉ là 1 số câu đơn giản, còn nói về bệnh tật thì thật là khó. Ngoài ra, tuy chúng tôi cũng không gặp khó khăn về tài chính trong cuộc sống nhưng để chữa 1 bệnh nan y như vậy ở nước ngoài thì cũng là 1 vấn đề.
Đây chính là lúc Chúa cho chúng tôi thấy sự sắp đặt của Ngài thật là kỳ diệu. Chúa đã ban cho chúng tôi 1 số tiền (thông qua công việc của chúng tôi) vừa đúng bằng chi phí cần cho chuyến đi và ca mổ. Sau đó, cô chú tôi cho biết họ sắp đi du lịch ở Sing đúng thời điểm đó, và cô chú có liên lạc với Hội Thánh Sing cũng như 1 bác sĩ là con cái Chúa bên đó, sẽ giúp chúng tôi liên lạc với Bệnh viện và bác sĩ. Chúng tôi chỉ còn phải lo thủ tục hộ chiếu và visa.
Đối mặt trước sự bệnh tật, chồng tôi vô cùng nản lòng và thậm chí không chịu đi chữa bệnh vì 1 phần sợ không qua khỏi, 1 phần lại lo nếu không tử vong thì cũng bị tàn phế ,sẽ thành gánh nặng cho gia đình. Quả thật là một con người bơ vơ không chỗ dựa tinh thần như chồng tôi lúc đó thật là đáng thương.
Cuối cùng anh ấy cũng chịu làm thủ tục để đi chũa trị. Anh ấy sang đến nơi có ngay chổ ở (tại nhà của Hội Thánh), liên lạc với Bác sĩ thì thật kỳ diệu là nếu chồng tôi chỉ cần sang trễ một hôm thôi thì anh ấy sẽ phải quay về Việt nam và đợi thêm nửa năm nữa vì ông bác sĩ (là 1 trong 2 người trên thế giới lúc đó có khả năng làm những phẫu thuật loại này) sẽ đi nước khác và 6 tháng sau mới quay lại. Vậy là nhờ Chúa sắp đặt, chồng tôi được làm ngay các xét nghiệm trong ngày để qua ngày hôm sau tiến hành ca mổ.
Ở Việt nam chúng tôi thật lo lắng cho anh bơ vơ nơi xứ lạ với 1 tâm trạng hoang mang, không nơi nương tựa thì buổi chiều chúng tôi nhận được e-mail của anh. Anh nói là mọi việc chuẩn bị cho ca mổ đã hoàn tất và hiện anh rất vui, rất thanh thản vì anh đã quỳ gối tin nhận Chúa, đã không còn bơ vơ trên cõi đời này vì anh đã có Cha lo lắng cho anh mọi việc. Quả thật từ xưa đến giờ tôi chưa bao giờ dám mơ tưởng rằng có ngày hôm nay (đúng là tôi thật ít đức tin). Nhưng tôi lại vô cùng thấm thía điều mà Chúa đã nói: hãy giao phó mọi sự cho Ngài thì Ngài sẽ ban cho mọi sự và hơn thế nữa, cả những điều mà ta chưa bao giờ dám nghĩ tới. Giây phút đó chúng tôi thấy thật bình an vì giờ đây sự thành hay bại của ca mổ không còn quan trọng đối với chúng tôi nữa, quan trọng hớn hết là Cha đã sắp đặt mọi sự và Cha không bao giờ bỏ mặc đứa con đã xoay hướng trở về. Chúng tôi cầu nguyện Chúa luôn ở bên chúng tôi và ban sự thông sáng, khéo léo cho bác sĩ để ông thực hiện ca mổ.
Và đúng như những phép lạ Chúa đã làm trong Thánh kinh, chồng tôi đã qua ca mổ mà không hề có một vết thương, vết sẹo nào vì được mổ bằng phương pháp đăc biệt, thực hiện bằng máy tính, dao mổ tia gamma, khối u được đưa ra ngoài theo 1 ống dẫn từ não xuống bụng và ra ngoài. Thời gian hồi sức cũng ngắn thật khó tin: sau 1 ngày là anh ấy đã đi dạo phố và mua sắm quà cáp cho mọi người. Thật đúng như Chúa đã đặt tay và cất đi mọi tật bệnh. Sau đó 1 thời gian khi xét nghiệm và chụp x-quang, nhìn thấy khối u biến mất không một dấu vết, chúng tôi càng kinh ngạc trước phép lạ của Chúa.
Khi chồng tôi ra đi chữa bệnh tôi chỉ dám mong anh lành lặn trở về, vậy mà không những Chúa ban cho chồng tôi sức khỏe mà còn làm cho anh ấy xoay hướng trở về, trở thành con cái yêu dấu của Ngài, là một điều mà cả tôi và những người thân thiết cũng như bạn bè không ai hình dung được. Đó là ơn phước, là kinh nghiệm bước đi trong Chúa mà chúng tôi muốn chia sẻ. Cho đến ngày hôm nay mỗi lần nhớ lại những ngày tháng đó, mỗi Chúa nhật nhìn chồng tôi đến nhà thờ, tôi lại vẫn cảm thấy một cảm giác thật kỳ lạ: Chúa đã thương yêu 1 kẻ xấu xa như tôi, cho tôi những phước lành mà nếu không phải là từ nơi Chúa thì tôi trong mơ tôi cũng chẳng bao giờ thấy nổi.
Lời chứng của chị Linh Hạnh: 99K30 Phổ Quang, Phường 2, Quận Tân Bình, TP HCM.
Theo tinlanh.ru
Đọc thêm!
Như cầm bản án tử trong tay, chúng tôi tìm đến 1 bác sĩ hàng đầu về phẫu thuật thần kinh và cũng được ông cho biết là không thể mổ. Bệnh viện K (ung bướu) Hà nội cũng từ chối không xạ trị vì khi chiếu tia để hạn chế không cho khối u phát triển thì cũng sẽ làm tổn thương thần kinh thị giác gây mù lòa cùng nhiều tác hại khác. Tôi chỉ còn biết cầu nguyện còn chồng tôi thì hoang mang vô cùng vì lúa đó anh ấy chưa tin nhận Chúa, mà mọi hy vọng nơi khả năng của con người đã hết.
Đúng lúc đó, có người chỉ cho chúng tôi đến với 1 bác sĩ trẻ có nhiều cơ hội tiếp xúc với y học nước ngoài, bà cho biết bệnh của chồng tôi ở Singapore có thể chữa được. Dường như Chúa đã nghe lời cầu nguyện của tôi. Nhưng để chữa bệnh ở nước ngòai cũng thật là khó khăn. Đầu tiên phải có người thân ở Sing liên hệ với Bệnh viện và bác sĩ mà chúng tôi thì không quen ai. Sau đó cần phải có người đi theo chồng tôi khi diễn ra phẫu thuật để chăm sóc khi hồi sức (nếu thành công), mà tôi lại đang có con nhỏ mới 2 tuổi và lại đang manh thai cháu thứ 2 được 5 tháng, hơn nữa tiếng Anh của chồng tôi chỉ là 1 số câu đơn giản, còn nói về bệnh tật thì thật là khó. Ngoài ra, tuy chúng tôi cũng không gặp khó khăn về tài chính trong cuộc sống nhưng để chữa 1 bệnh nan y như vậy ở nước ngoài thì cũng là 1 vấn đề.
Đây chính là lúc Chúa cho chúng tôi thấy sự sắp đặt của Ngài thật là kỳ diệu. Chúa đã ban cho chúng tôi 1 số tiền (thông qua công việc của chúng tôi) vừa đúng bằng chi phí cần cho chuyến đi và ca mổ. Sau đó, cô chú tôi cho biết họ sắp đi du lịch ở Sing đúng thời điểm đó, và cô chú có liên lạc với Hội Thánh Sing cũng như 1 bác sĩ là con cái Chúa bên đó, sẽ giúp chúng tôi liên lạc với Bệnh viện và bác sĩ. Chúng tôi chỉ còn phải lo thủ tục hộ chiếu và visa.
Đối mặt trước sự bệnh tật, chồng tôi vô cùng nản lòng và thậm chí không chịu đi chữa bệnh vì 1 phần sợ không qua khỏi, 1 phần lại lo nếu không tử vong thì cũng bị tàn phế ,sẽ thành gánh nặng cho gia đình. Quả thật là một con người bơ vơ không chỗ dựa tinh thần như chồng tôi lúc đó thật là đáng thương.
Cuối cùng anh ấy cũng chịu làm thủ tục để đi chũa trị. Anh ấy sang đến nơi có ngay chổ ở (tại nhà của Hội Thánh), liên lạc với Bác sĩ thì thật kỳ diệu là nếu chồng tôi chỉ cần sang trễ một hôm thôi thì anh ấy sẽ phải quay về Việt nam và đợi thêm nửa năm nữa vì ông bác sĩ (là 1 trong 2 người trên thế giới lúc đó có khả năng làm những phẫu thuật loại này) sẽ đi nước khác và 6 tháng sau mới quay lại. Vậy là nhờ Chúa sắp đặt, chồng tôi được làm ngay các xét nghiệm trong ngày để qua ngày hôm sau tiến hành ca mổ.
Ở Việt nam chúng tôi thật lo lắng cho anh bơ vơ nơi xứ lạ với 1 tâm trạng hoang mang, không nơi nương tựa thì buổi chiều chúng tôi nhận được e-mail của anh. Anh nói là mọi việc chuẩn bị cho ca mổ đã hoàn tất và hiện anh rất vui, rất thanh thản vì anh đã quỳ gối tin nhận Chúa, đã không còn bơ vơ trên cõi đời này vì anh đã có Cha lo lắng cho anh mọi việc. Quả thật từ xưa đến giờ tôi chưa bao giờ dám mơ tưởng rằng có ngày hôm nay (đúng là tôi thật ít đức tin). Nhưng tôi lại vô cùng thấm thía điều mà Chúa đã nói: hãy giao phó mọi sự cho Ngài thì Ngài sẽ ban cho mọi sự và hơn thế nữa, cả những điều mà ta chưa bao giờ dám nghĩ tới. Giây phút đó chúng tôi thấy thật bình an vì giờ đây sự thành hay bại của ca mổ không còn quan trọng đối với chúng tôi nữa, quan trọng hớn hết là Cha đã sắp đặt mọi sự và Cha không bao giờ bỏ mặc đứa con đã xoay hướng trở về. Chúng tôi cầu nguyện Chúa luôn ở bên chúng tôi và ban sự thông sáng, khéo léo cho bác sĩ để ông thực hiện ca mổ.
Và đúng như những phép lạ Chúa đã làm trong Thánh kinh, chồng tôi đã qua ca mổ mà không hề có một vết thương, vết sẹo nào vì được mổ bằng phương pháp đăc biệt, thực hiện bằng máy tính, dao mổ tia gamma, khối u được đưa ra ngoài theo 1 ống dẫn từ não xuống bụng và ra ngoài. Thời gian hồi sức cũng ngắn thật khó tin: sau 1 ngày là anh ấy đã đi dạo phố và mua sắm quà cáp cho mọi người. Thật đúng như Chúa đã đặt tay và cất đi mọi tật bệnh. Sau đó 1 thời gian khi xét nghiệm và chụp x-quang, nhìn thấy khối u biến mất không một dấu vết, chúng tôi càng kinh ngạc trước phép lạ của Chúa.
Khi chồng tôi ra đi chữa bệnh tôi chỉ dám mong anh lành lặn trở về, vậy mà không những Chúa ban cho chồng tôi sức khỏe mà còn làm cho anh ấy xoay hướng trở về, trở thành con cái yêu dấu của Ngài, là một điều mà cả tôi và những người thân thiết cũng như bạn bè không ai hình dung được. Đó là ơn phước, là kinh nghiệm bước đi trong Chúa mà chúng tôi muốn chia sẻ. Cho đến ngày hôm nay mỗi lần nhớ lại những ngày tháng đó, mỗi Chúa nhật nhìn chồng tôi đến nhà thờ, tôi lại vẫn cảm thấy một cảm giác thật kỳ lạ: Chúa đã thương yêu 1 kẻ xấu xa như tôi, cho tôi những phước lành mà nếu không phải là từ nơi Chúa thì tôi trong mơ tôi cũng chẳng bao giờ thấy nổi.
Lời chứng của chị Linh Hạnh: 99K30 Phổ Quang, Phường 2, Quận Tân Bình, TP HCM.
Theo tinlanh.ru
Đọc thêm!
Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2009
QUYỀN NĂNG CHÚA ĐUỔI TÀ LINH
Khi tôi còn thơ ấu, tôi chưa hiểu cuộc đời mình như thế nào. Đến lúc mười tuổi, được biết mình không cha mẹ. Nghe hàng xóm kể lại, cha tôi là một quân nhân Mỹ, đã từng phục vụ tại Việt Nam, mẹ tôi là người Việt. Khi sanh tôi, bà quá túng quẩn, nghèo khổ không có tiền nuôi, nên đem gởi tôi cho một người cùng quê. Khi nào có tiền sẽ chuộc lại. Bà nầy đem tôi cho lại người con trai của bà ở làng khác gọi là ông Sáu. Ông Sáu có vợ, bốn con và ông nhận thêm tôi là đứa con thứ năm. Tuy là một chủ điền giàu có, có nhiều đất đai, thu nhiều hoa lợi; nhưng tôi sống trong gia đình nầy rất khổ sở. Ăn uống không đủ, không được tự do và bị sự ganh ghét của các anh chị trong gia đình, vì tôi là con nuôi.
Tôi nhớ một ngày kia, bà Sáu và tôi đi giặt áo quần cho gia đình. Sau khi giặt xong, bà không cho tôi phơi áo quần của tôi chung với áo quần của con bà với lý do tôi không phải là con ruột của bà. Tôi đành phơi áo quần tôi trên hàng rào dây kẽm gai. Một chốc sau, trời mưa, tôi chạy ra rút vội quần áo sợ bị ướt, chiều đó không có đồ thay, vì tôi chỉ có hai bộ áo quần. Khi rút vội, áo quần tôi bị dây kẽm gai móc rách. Kết quả tôi bị một trận đòn chí tử.
Ông Sáu là người tàn ác, ông dùng tôi như là một vật giải trí, như trò chơi. Tự nhiên ông bảo tôi cười, tôi phải cười, bảo tôi khóc, tôi phải khóc. Nếu không sẽ bị đánh đập tàn nhẫn. Khi tôi mười hai tuổi, ông Sáu đã quăng tôi xuống sông, sau khi tôi uống nước, ông kéo tôi lên. Rồi lại quăng tôi xuống nước và kéo lên lại, cứ thế ông làm liên tục mấy lần. Lần chót, ông quăng tôi vào một nơi nước rất sâu, tôi không biết bơi, nghĩ rằng mình sẽ chết. Sau nhờ một bà cùng xóm vớt tôi lên được, bà đó là má của chồng tôi ngày nay.
Khi ở nhà ông Sáu, tôi không được đi học, nên tôi không biết một chữ nào cả. Người ta viện lý do không cho đi học vì sợ sẽ viết thư tình, sẽ liên lạc trai v.v. Sống trong gia đình nầy, dù nhỏ tuổi tôi phải làm nhiều việc như làm cỏ, nhổ mạ, cấy lúa, cuốc đất...Tôi không e ngại làm việc, nhưng rất lo sợ khi bị người ta đánh đập. Một thời gian, ông Sáu và gia đình dọn nhà ở riêng, tôi được đưa về để chăm sóc và làm việc với mẹ ông ta. Tôi gọi bà nầy là bà nội. Nơi đây tôi vẫn làm lụng cực nhọc và khổ sở như thường. Nhất là khi có các con cháu bà về thăm, tôi thấy sự kỳ thị rõ rệt. Họ nói với tôi: "mầy không phải là con của ba tao, mầy không phải là cháu của bà tao, làm tôi tủi thân và buồn khổ nhiều.
Đến năm mười bảy tuổi, người ta chuẩn bị giấy tờ, đổi tên tôi lại để đi Hoa Kỳ với người con thứ Bảy của bà nội, theo diện con lai. Tên tôi là Nguyễn thị Quyên, được đổi lại là Phan Kim Phượng, là tên của người con gái của gia đình chuẩn bị đi Mỹ với tôi. Phượng đã chết từ khi nhỏ. Gia đình nầy muốn hợp lệ việc giấy tờ, nên đã đổi toàn bọâ tên, tuổi, ngày, tháng, năm sinh của tôi ra giống như của cô Phượng đã qua đời.
Đến Phi-Luật-Tân, trong thời gian chuẩn bị học Anh văn, để nhập nội Hoa kỳ, tôi ở chung gia đình ông Bảy. Nhiều đêm đắng cay, đau khổ và thường bị mắng nhiếc, chưỡi rủa nào là: "mầy là đồ ngu dốt, không biết chữ, mà đi Mỹ làm gì ăn..
Lúc nầy, Chúa đã đưa dẫn tôi gần Ngài hơn, nhưng tôi không biết. Chúa cho tôi gặp người bạn gái cùng building. Cô mời tôi đi nhà thờ. Khi đến nhà thờ, thấy người ta nhìn vào thánh ca hát vui vẻ, nhìn vào Kinh Thánh đọc lời Chúa hớn hơ,û lòng tôi thầm ao ước. Cô bạn đưa tôi quyển thánh ca, tôi hổ thẹn và mặc cảm vì mình không biết đọc. Tôi cũng cố gắng tiếp tục đi nhà thờ. Sau đó có lớp giáo lý chuẩn bị làm lễ báp tem. Theo lệ thường, các học viên phải học thuộc một số câu kinh thánh trước khi chịu lễ báp tem, sau đó sẽ được nhận một cuốn Kinh Thánh. Tôi đem các câu kinh thánh về phòng, nhưng không biết làm sao đọc được, nên phải nhờ người bạn khác đọc giùm, tôi phải nhớ lời đọc và thuộc lòng để trả bài cho Mục sư. Sau đó tôi được một cuốn Kinh Thánh và tập sự cầu nguyện. Niềm mong ước lớn nhất của tôi lúc đó là cầu xin Chúa cho biết đọc Việt ngữ để hiểu đư'f4ïc Kinh Thánh. Chúa đã trả lời. Ba tuần sau tôi đi nhà thờ, đọc được các chữ "Hội Thánh Tin Lành. Tôi e ngại tưởng minh đọc sai, nên viết lại đem về nhà hỏi các bạn. Họ nói tôi đọc đúng và hứa giúp tôi tập đọc. Nhưng rồi họ cũng phải đi định cư ở Mỹ, tôi phải tự học và đọc được trôi chảy. Ngày nay bốn chữ "Hôi Thánh Tin Lành là một kỷ niệm đẹp và đáng nhớ trong cuộc đời tôi.
Tôi đi Mỹ, gia đình ghép tên đi chung với tôi, không cho tôi ở nhà với họ. Họ đuổi tôi ra khỏi nhà. tôi phải vào viện mồ côi, ở chung với trẻ bụi đời, phá phách, hư hỏng. Tại đây thật kinh hoàng. Tôi cầu nguyện xin Chúa đem ra khỏi nơi nầy. Chúa nhậm lời, có một Mục sư đến thăm, tôi liên lạc, xin ra khỏi cô nhi viện và người ta gởi tôi vào một gia đình thuộc Hội-Cha-Mẹ-Nuôi khác. Gia đình nầy không tin Chúa, nên thường không vui khi tôi đi nhà thờ. Tuy nhiên tại đây tôi được tiếp tục đến trường học.
Từ một người chưa bao giờ đến trường học ở Việt nam, nay tôi phải vào lớp chín, vì các trường ở Hoa kỳ căn cứ vào tuổi để xếp lớp. Với sự khác biệt về ngôn ngữ, không có căn bản của những năm học trước, tôi rất vất vả trong việc học. Tôi cầu nguyện rất nhiều, xin Chúa giúp đỡ. Các môn học cần thiết lúc đầu hơi quờ quạng, nhưng sau Chúa cho được kết quả tốt, có điểm cao, không bị ở lại lớp và tốt nghiệp trung học đúng theo dự định của nhà trường. Tôi thật vui mừng cảm ơn Chúa.
Xong trung học, tôi ra khỏi sự giúp đỡ của Hội Cha Mẹ Nuôi. Chúa cho tôi lập gia đình với anh Nguyễn Hoàng Minh, một thanh niên yêu mến Chúa tại Hội Thánh Tin Lành Báp tít Thiên Ân. Chúa Cho vợ chồng chúng tôi sống vui, hạnh phúc, hằng tuần đi nhà thờ, thờ phượng Chúa.
Ngài 31 tháng 10 năm 1993, nhằm ngày lễ Halloween, tôi cảm thấy khó chịu, đau đầu và không biết gì cả. Theo điều chồng tôi kể lại, tôi nằm nói một mình với giọng nói và điệu bộ khác thường. Anh Minh, chồng tôi gọi điện thoại cho Mục sư Nguyễn Hữu Trang lúc 3:30 sáng, mời đến nhà tôi cầu nguyện. Vì không biết nhà, Mục sư nhờ chị Mỹ Dung, một người bạn, dẫn đường đến nhà tôi. Chồng tôi cho Mục sư biết: Thứ bảy qua, chúng tôi đi nghe giảng bồi linh, do Liên Bang Thanh Niên Cơ Đốc tổ chức, tại Tacoma, WA. Khi về nhà tôi đâm ra nói lãng, mắt bất thần, những lời do miệng tôi nói ra mà không phải của tôi, mà của một người nào khác. Mục sư, Chị Dung và chồng tôi cầu nguyện. Mắt tôi vẫn mở trừng trừng ra vẻ giận dữ và lắc đầu. Khi Mục sư nhân danh Chúa Giê-xu, đuổi quỉ ra khỏi tôi, một giọng nói từ miệng tôi phát ra: "Tôi không đi đâu. Mục sư lấy kinh thánh ra đọc trong sách Luca 8: 26-39 về người Giê-ra-xê bị quỉ quân đội ám. Tôi trợn mắt, bịt tai không muốn nghe. Đọc xong khúc kinh Thánh, Mục sư hỏi: "Ngươi tên gì? Một giọng nói phát ra từ miệng tôi: "Không có tên. Mục sư tiếp tục cầu nguyện nữa, ông nhân danh Chúa Giê-xu ở Na-xa-rét ra lịnh tà linh ra khỏi tôi. Quỉ trong tôi có vẻ phản đối, không chịu ra và tôi tiếp tục nói nhảm. Chị Dung đề nghị, mời thêm ông bà Skip-Bell, một người Mỹ, là chấp sự và trưởng
lão trong hội thánh đến tiếp tay cầu nguyện. Khi ông bà Skip đến, cả năm người (MS, ông bà Skip, chị Dung và chồng tôi) hiệp ý thay phiên cầu nguyện cho tôi. Mục sư hướng dẫn tôi cầu nguyện. Khi tôi nói đến câu "Nhân danh Chúa Giê-xu ra lịnh tà linh hãy ra khỏi ta, thì quỉ làm tôi nghiến răng, lấy tay bịt miệng, không cho tôi nói. Mục sư tiếp tục cầu nguyện, quỉ vẫn chưa ra. Sau hai giờ, ông bà Skip đã mệt , Mục sư đề nghị họ về trước.
Tôi không nhớ tà linh đã nói gì với tôi, nhưng theo chồng tôi kể lại, tôi đã nói một mình: "Chị cho em thấy mẹ em. Sau đó tôi kêu lên, "Mẹ! Mẹ ơi, rồi tôi ôm chồng tôi và khóc. Mục sư giải thích cho tôi: đó không phải là mẹ thật của tôi đâu, ma quỉ lừa gạt tôi. Nếu mẹ tôi còn sống, có lẽ ở Việt nam. Nếu đã chết, thì ở một nơi Chúa định sẵn và không về lại được. Đừng tin sự lừa bịp của ma quỉ.
Một lần nữa, Mục sư giúp tôi cầu nguyện bằng cách lặp theo lời ông. Lần nầy tôi cầu nguyện thông suốt và đã nói: "Nhân danh Chúa Giê-xu đuổi tà linh, quỉ dữ ra khỏi thân thể, tâm trí linh hồn con...Xin Chúa Thánh linh chiếm hữu hoàn toàn đời sống con. Tôi nói: " Thôi chị ra đi, đừng tới đây nữa, đừng phá phách em nữa. Tôi tỉnh lại, trí óc mệt nhoài và còn đau đầu.
Lúc ấy là 7:30 sáng ngày Chúa nhật. Chồng tôi muốn tôi đi nhà thờ với Mục sư. Tôi vào phòng tắm và thay đồ, sau đó tôi mở cửa để tà linh ra khỏi nhà và đóng của lại.
Anh Minh, chồng tôi đi làm ca đêm, không tiện để tôi ở nhà một mình, nên xin ông bà Skip cho tôi tạm trú thời gian. Tại nhà ông Skip, tà linh lại nhập vào tôi. Nó dùng miệng tôi nói ra một điều bí mật mà trước đây tôi ít muốn cho người khác biết. Tên tôi không phải là Phan Kim Phượng mà là Nguyễn thị Quyên. Phan Kim Phượng là tên của cô gái đã qua đời tại Việt Nam khi còn bé. Cô Phượng xin đòi tên của cô ta lại. Nếu tôi trả tên lại cho cô, trong thời gian hai tuần tôi sẽ lành bịnh. Biết đây là sự thật, tôi và chồng tôi đồng ý trả tên lại. Chúng tôi mời Mục sư đến và cho ông biết điều nầy, cũng cho những người khác biết tên tôi không phải là Phan Kim Phượng nữa, mà là Nguyễn thị Quyên.
Lúc này, tôi vẫn còn đau đầu và mất hẳn trí nhớ. Tôi như trẻ con một, hai tuổi, chỉ nói được những câu ngắn, không hiểu được những câu dài. Không nhận diện ra được ai cả. Các anh em thanh niên, bạn hữu quen thân đến thăm, tôi không biết được tên của một người nào.
Thâùy thân thể bình thường, nhưng bị đau đầu và mất hết trí nhớ. Chồng tôi đã đem tôi đi bệnh viện Harborview, Seattle, WA. Tại đây bác sĩ không tìm ra tôi có bịnh gì nên cho về.
Có một biến cố đối với tôi là thật, rõ ràng và quan trọng. Khi kể ra, có lẽ các bạn cho là khó tin. Dù bạn có tin hay không, tôi xin được trình bày vì Chúa muốn tôi kể ra: Khi tôi bị bịnh, lúc còn tạm trú tại nhà ông bà Skip-Bell, một đêm khuya khoản 12:00 đêm, tôi thấy Chúa hiện ra, Ngài đi vào các phòng, ông Skip bà Bell đã ngủ. Chúa nói chuyện với tôi và cho tôi biết tôi sẽ lành bịnh, đừng lo sợ, hãy an tâm. Hãy nói cho Mục sư biết con sẽ lành để mục sư khỏi lo lắng. Chúa cõng tôi đi trên một vùng trời đầy mưa. Tôi nói mưa quá Chúa ơi. Chúa bảo đừng sợ, Ngài đưa tay ra, mưa chấm dứt. Tôi muốn lưu Chúa ở lại, Chúa từ chối và nói Ngài bận đi chữa bịnh nhiều người khác. Khi Chúa đi rồi, anh Minh, chồng tôi lúc đó còn thức, đã nghe được nhưng câu nói của tôi, đã xác nhận tôi đã nói chuyện với một người xưng là Chúa, chồng tôi chỉ nghe tiếng nói của tôi mà thôi, giống như một người nghe người khác nói chuyện qua điện thoại. Với sự hiện ra của Chúa nầy, đã giúp tôi giải đáp một câu hỏi lớn, là tại sao cuộc đời tôi từ nhỏ đến giờ, không làm gì ác đức mà lại gặp quá nhiều khổ nạn, đau buồn. Tà linh xâm nhập vào ôi, nhưng Chúa thương tôi chăm sóc tôi và quyền năng Chúa mạnh hơn đã đuổi nó ra khỏi người tôi. Tôi cảm tạ Ngài.
Ông bà Skip & Bell phải đi xa, chồng tôi đi làm ban đêm, tôi không thể ở nhà một mình. Oâng bà mục sư Nguyễn Hữu Trang đã cho tôi về tạm trú tại nhà ông bà. Tại đây mỗi ngày mục sư cầu nguyện cho tôi và khuyến khích tôi đọc Kinh Thánh, cầu nguyện. Trí nhớ tôi vẫn chưa bình phục, sống như em bé; ai hỏi tôi mấy tuổi, tôi liền trả lời bốn tuổi. Chỉ biết tên những người trong nhà, ngoài ra không nhớ, không biết ai cả. Không biết sợ lửa, không biết xử dụng dao, kéo và các vật bén nhọn. Cái gì tôi cũng có thể bỏ vào miệng và nuốt cả, không phân biệt được cái gì là nguy hiểm, độc địa. Vài tuần sau tôi khá dần, nhưng ma quỉ vẫn chưa buông tha tôi và muốn làm hại tôi.
Một buổi trưa nọ, tại nhà ông Mục sư, chồng tôi làm ca đêm về còn ngủ, cả nhà đi vắng, tôi thấy ba, bốn người đến rũ tôi đi chơi. Họ nói trong trí, tôi đã nghe theo, đang mặc đồ ngủ trong nhà, tôi mở cửa sau, bước xuống đường cùng đi với họ. Họ dẫn tôi đi ngất nga ngất nghễu như người điên, họ xúi tôi đến thùng thư bên lề đường, lấy thư ra quăng bỏ đi. Tôi không làm. Họ dẫn tôi vào một cửa tiệm Seven Eleven, xúi tôi bốc kẹo trong quày hàng, bóc ra ăn, người bán hàng không cho. Tôi vừa đi vừa lẩm bẩm nói như chuyện với người nào. Họ dẫn tôi đến xa lộ 509, đây là một xa lộ đông đúc xe cộ vào buổi chiều thứ Sáu. Tôi bước vào xa lộ không chút do dự, không sợ hãi, đi nghênh ngang giữa đường. Tất cả xe cộ đang chạy dập dìu đều thắng lại, có nhiều chiếc phải lách qua bên phải, bên trái làm tình trang hổn loạn, còi kêu inh ỏi. Tại đây những tà linh biến mất, tôi thấ mình trơ trọi giữa xa lộ kinh hoàng. Cảnh sát đến hướng dẫn xe và đưa tôi vào lề đường. Bây giờ trí óc tôi trở lại bình thường, tà linh đã đi khỏi. Tôi tìm đường đi bộ về nhà người chị của chồng tôi cách đó chừng 4 dặm. Nhà không có ai, tôi ngồi trước cửa. Nhìn xuống chân mình thấy chảy máu vì tôi không mang giày, tôi lạnh run lên, vì không mặc áo ấm giữa thời tiết giá buốt mùa đông vùng Tây Bắc Hoa Kỳ. Chồng tôi khi thức dậy, không thấy tôi ở nhà, bèn đi tìm, không thấy tôi ở đâu, bèn gọi cảnh sát tìm giúp. Sau đó chồng tôi đến nhà người chị và thấy tôi, đem tôi trở về nhà ông bà Mục sư. Ôâng cầu nguyện xin Chúa bảo vệ cho tôi và căn dặn tôi khi có ai rũ tôi đi, hãy cầu nguyện, nhân danh Chúa Giê-xu đuổi nó lui khỏi. Tôi đã làm theo, quỉ không rũ tôi đi nữa.
Vào ngày thứ Ba, 10/11/1993, sau khi đi thăm một người bạn, về nhà, tôi cảm thấy hơi đau đầu. Tôi vào phòng riêng thay đồ và lấy kinh thánh ra đọc. Đang lúc đọc kinh Thánh, tôi thấy tối đen, giống như một chiếc áo từ đâu bay đến phủ cả đầu mình. Tôi đau đầu kinh khủng, ôm đầu và la lên. Từ đó tôi không biết gì. Sau nầy, anh Hòa, một thanh niên trong nhà và Mục sư kể lại: Mục sư đang chuẩn bị đi thăm một gia đình ở Federal Way, WA. Mục sư phải hoản lại, dìu tôi vào phòng khách. Tại đây ông và anh Hòa cầu nguyện, nhân danh Chúa Giê-xu ra lịnh tà linh ra khỏi tôi. Quỉ nói với tôi, nếu không cho nó nhập vào, nó sẽ giết chồng tôi đang ở sở làm và giết bà Mục sư, đang trên xa lộ về nhà. Tôi không muốn cho nó nhập vào và cũng không muốn nó làm hại chồng tôi và bà Mục su là người tôi yêu mến. Tôi la lên "Đừng hại anh Minh, đừng giết bà Mục sư. Mục sư nghe thế liền trấn an : "Không ai có quyền hại một tín hữu, một con cái Chúa, vì chính Chúa sẽ sai thiên sứ ngài bảo vệ, gìn giữ họ. Không ai có quyền hại Minh và nhà tôi vì họ thuộc về Chúa Giê-xu, Thánh linh và thiên sứ Ngài sẽ bao che, dẫn dắt họ bình an, con đừng sợ. Mục sư cùng các anh em tín hữu khác như anh Lê Thảo, anh Hòa cầu nguyện, hát thánh ca cố 309, ca ngợi quyền năng huyết báu Chúa Giê-xu, hát Ha-lê-lu-gia và nhân danh Chúa Giê-xu đuổi quỉ lần nữa. Lần nầy quỉ ra khỏi. Tôi tỉnh lại, cùng với Mục sư và các anh chị em hát mạnh hơn và vui mừng vì Chúa đã cứu mình thoát khỏi sự xâm nhập của tà linh.
Một thời gian ngắn ở tạm nhà ông bà Mục sư, trí nhớ tôi lần lần phục hồi, ông bà Mục sư mỗi ngày nói chuyện với tôi, gợi cho tôi nhớ lại, khích lệ tôi kể những việc đã xảy ra từ khi còn bé đến lớn khôn.. Tôi nghe nhạc thánh ca, được khuyến khích đọc kinh thánh, cầu nguyện thường xuyên. Tâm trí tôi trở lại bình thường.
Vợ chồng tôi dọn ra ở một apartment khác. Ngày nay, Chúa Cho chúng tôi khỏe mạnh, bình an, vui vẻ, đã đi làm trở lại. Mỗi tuần đi nhà thờ, thờ phượng Chúa, tham gia vào ban hát để ca ngợi Ngài.
Thưa các bạn, Chúa Giê-xu thật kỳ diệu quá cho tôi. Tôi không đủ ngôn ngữ để ca ngợi, cảm ơn Ngài. Tôi xin viết lại lời làm chứng nầy, để bày tỏ lòng biết ơn Chúa và giới thiệu Chúa cho các bạn. Chúa đã làm một việc lớn cho đời sống tôi, Ngài có thể làm cho bạn. Mong bạn đến với Ngài.
Tháng Ba, 1994
NGUYỄN THỊ QUYÊN
theo Hopeway.org
Đọc thêm!
Tôi nhớ một ngày kia, bà Sáu và tôi đi giặt áo quần cho gia đình. Sau khi giặt xong, bà không cho tôi phơi áo quần của tôi chung với áo quần của con bà với lý do tôi không phải là con ruột của bà. Tôi đành phơi áo quần tôi trên hàng rào dây kẽm gai. Một chốc sau, trời mưa, tôi chạy ra rút vội quần áo sợ bị ướt, chiều đó không có đồ thay, vì tôi chỉ có hai bộ áo quần. Khi rút vội, áo quần tôi bị dây kẽm gai móc rách. Kết quả tôi bị một trận đòn chí tử.
Ông Sáu là người tàn ác, ông dùng tôi như là một vật giải trí, như trò chơi. Tự nhiên ông bảo tôi cười, tôi phải cười, bảo tôi khóc, tôi phải khóc. Nếu không sẽ bị đánh đập tàn nhẫn. Khi tôi mười hai tuổi, ông Sáu đã quăng tôi xuống sông, sau khi tôi uống nước, ông kéo tôi lên. Rồi lại quăng tôi xuống nước và kéo lên lại, cứ thế ông làm liên tục mấy lần. Lần chót, ông quăng tôi vào một nơi nước rất sâu, tôi không biết bơi, nghĩ rằng mình sẽ chết. Sau nhờ một bà cùng xóm vớt tôi lên được, bà đó là má của chồng tôi ngày nay.
Khi ở nhà ông Sáu, tôi không được đi học, nên tôi không biết một chữ nào cả. Người ta viện lý do không cho đi học vì sợ sẽ viết thư tình, sẽ liên lạc trai v.v. Sống trong gia đình nầy, dù nhỏ tuổi tôi phải làm nhiều việc như làm cỏ, nhổ mạ, cấy lúa, cuốc đất...Tôi không e ngại làm việc, nhưng rất lo sợ khi bị người ta đánh đập. Một thời gian, ông Sáu và gia đình dọn nhà ở riêng, tôi được đưa về để chăm sóc và làm việc với mẹ ông ta. Tôi gọi bà nầy là bà nội. Nơi đây tôi vẫn làm lụng cực nhọc và khổ sở như thường. Nhất là khi có các con cháu bà về thăm, tôi thấy sự kỳ thị rõ rệt. Họ nói với tôi: "mầy không phải là con của ba tao, mầy không phải là cháu của bà tao, làm tôi tủi thân và buồn khổ nhiều.
Đến năm mười bảy tuổi, người ta chuẩn bị giấy tờ, đổi tên tôi lại để đi Hoa Kỳ với người con thứ Bảy của bà nội, theo diện con lai. Tên tôi là Nguyễn thị Quyên, được đổi lại là Phan Kim Phượng, là tên của người con gái của gia đình chuẩn bị đi Mỹ với tôi. Phượng đã chết từ khi nhỏ. Gia đình nầy muốn hợp lệ việc giấy tờ, nên đã đổi toàn bọâ tên, tuổi, ngày, tháng, năm sinh của tôi ra giống như của cô Phượng đã qua đời.
Đến Phi-Luật-Tân, trong thời gian chuẩn bị học Anh văn, để nhập nội Hoa kỳ, tôi ở chung gia đình ông Bảy. Nhiều đêm đắng cay, đau khổ và thường bị mắng nhiếc, chưỡi rủa nào là: "mầy là đồ ngu dốt, không biết chữ, mà đi Mỹ làm gì ăn..
Lúc nầy, Chúa đã đưa dẫn tôi gần Ngài hơn, nhưng tôi không biết. Chúa cho tôi gặp người bạn gái cùng building. Cô mời tôi đi nhà thờ. Khi đến nhà thờ, thấy người ta nhìn vào thánh ca hát vui vẻ, nhìn vào Kinh Thánh đọc lời Chúa hớn hơ,û lòng tôi thầm ao ước. Cô bạn đưa tôi quyển thánh ca, tôi hổ thẹn và mặc cảm vì mình không biết đọc. Tôi cũng cố gắng tiếp tục đi nhà thờ. Sau đó có lớp giáo lý chuẩn bị làm lễ báp tem. Theo lệ thường, các học viên phải học thuộc một số câu kinh thánh trước khi chịu lễ báp tem, sau đó sẽ được nhận một cuốn Kinh Thánh. Tôi đem các câu kinh thánh về phòng, nhưng không biết làm sao đọc được, nên phải nhờ người bạn khác đọc giùm, tôi phải nhớ lời đọc và thuộc lòng để trả bài cho Mục sư. Sau đó tôi được một cuốn Kinh Thánh và tập sự cầu nguyện. Niềm mong ước lớn nhất của tôi lúc đó là cầu xin Chúa cho biết đọc Việt ngữ để hiểu đư'f4ïc Kinh Thánh. Chúa đã trả lời. Ba tuần sau tôi đi nhà thờ, đọc được các chữ "Hội Thánh Tin Lành. Tôi e ngại tưởng minh đọc sai, nên viết lại đem về nhà hỏi các bạn. Họ nói tôi đọc đúng và hứa giúp tôi tập đọc. Nhưng rồi họ cũng phải đi định cư ở Mỹ, tôi phải tự học và đọc được trôi chảy. Ngày nay bốn chữ "Hôi Thánh Tin Lành là một kỷ niệm đẹp và đáng nhớ trong cuộc đời tôi.
Tôi đi Mỹ, gia đình ghép tên đi chung với tôi, không cho tôi ở nhà với họ. Họ đuổi tôi ra khỏi nhà. tôi phải vào viện mồ côi, ở chung với trẻ bụi đời, phá phách, hư hỏng. Tại đây thật kinh hoàng. Tôi cầu nguyện xin Chúa đem ra khỏi nơi nầy. Chúa nhậm lời, có một Mục sư đến thăm, tôi liên lạc, xin ra khỏi cô nhi viện và người ta gởi tôi vào một gia đình thuộc Hội-Cha-Mẹ-Nuôi khác. Gia đình nầy không tin Chúa, nên thường không vui khi tôi đi nhà thờ. Tuy nhiên tại đây tôi được tiếp tục đến trường học.
Từ một người chưa bao giờ đến trường học ở Việt nam, nay tôi phải vào lớp chín, vì các trường ở Hoa kỳ căn cứ vào tuổi để xếp lớp. Với sự khác biệt về ngôn ngữ, không có căn bản của những năm học trước, tôi rất vất vả trong việc học. Tôi cầu nguyện rất nhiều, xin Chúa giúp đỡ. Các môn học cần thiết lúc đầu hơi quờ quạng, nhưng sau Chúa cho được kết quả tốt, có điểm cao, không bị ở lại lớp và tốt nghiệp trung học đúng theo dự định của nhà trường. Tôi thật vui mừng cảm ơn Chúa.
Xong trung học, tôi ra khỏi sự giúp đỡ của Hội Cha Mẹ Nuôi. Chúa cho tôi lập gia đình với anh Nguyễn Hoàng Minh, một thanh niên yêu mến Chúa tại Hội Thánh Tin Lành Báp tít Thiên Ân. Chúa Cho vợ chồng chúng tôi sống vui, hạnh phúc, hằng tuần đi nhà thờ, thờ phượng Chúa.
Ngài 31 tháng 10 năm 1993, nhằm ngày lễ Halloween, tôi cảm thấy khó chịu, đau đầu và không biết gì cả. Theo điều chồng tôi kể lại, tôi nằm nói một mình với giọng nói và điệu bộ khác thường. Anh Minh, chồng tôi gọi điện thoại cho Mục sư Nguyễn Hữu Trang lúc 3:30 sáng, mời đến nhà tôi cầu nguyện. Vì không biết nhà, Mục sư nhờ chị Mỹ Dung, một người bạn, dẫn đường đến nhà tôi. Chồng tôi cho Mục sư biết: Thứ bảy qua, chúng tôi đi nghe giảng bồi linh, do Liên Bang Thanh Niên Cơ Đốc tổ chức, tại Tacoma, WA. Khi về nhà tôi đâm ra nói lãng, mắt bất thần, những lời do miệng tôi nói ra mà không phải của tôi, mà của một người nào khác. Mục sư, Chị Dung và chồng tôi cầu nguyện. Mắt tôi vẫn mở trừng trừng ra vẻ giận dữ và lắc đầu. Khi Mục sư nhân danh Chúa Giê-xu, đuổi quỉ ra khỏi tôi, một giọng nói từ miệng tôi phát ra: "Tôi không đi đâu. Mục sư lấy kinh thánh ra đọc trong sách Luca 8: 26-39 về người Giê-ra-xê bị quỉ quân đội ám. Tôi trợn mắt, bịt tai không muốn nghe. Đọc xong khúc kinh Thánh, Mục sư hỏi: "Ngươi tên gì? Một giọng nói phát ra từ miệng tôi: "Không có tên. Mục sư tiếp tục cầu nguyện nữa, ông nhân danh Chúa Giê-xu ở Na-xa-rét ra lịnh tà linh ra khỏi tôi. Quỉ trong tôi có vẻ phản đối, không chịu ra và tôi tiếp tục nói nhảm. Chị Dung đề nghị, mời thêm ông bà Skip-Bell, một người Mỹ, là chấp sự và trưởng
lão trong hội thánh đến tiếp tay cầu nguyện. Khi ông bà Skip đến, cả năm người (MS, ông bà Skip, chị Dung và chồng tôi) hiệp ý thay phiên cầu nguyện cho tôi. Mục sư hướng dẫn tôi cầu nguyện. Khi tôi nói đến câu "Nhân danh Chúa Giê-xu ra lịnh tà linh hãy ra khỏi ta, thì quỉ làm tôi nghiến răng, lấy tay bịt miệng, không cho tôi nói. Mục sư tiếp tục cầu nguyện, quỉ vẫn chưa ra. Sau hai giờ, ông bà Skip đã mệt , Mục sư đề nghị họ về trước.
Tôi không nhớ tà linh đã nói gì với tôi, nhưng theo chồng tôi kể lại, tôi đã nói một mình: "Chị cho em thấy mẹ em. Sau đó tôi kêu lên, "Mẹ! Mẹ ơi, rồi tôi ôm chồng tôi và khóc. Mục sư giải thích cho tôi: đó không phải là mẹ thật của tôi đâu, ma quỉ lừa gạt tôi. Nếu mẹ tôi còn sống, có lẽ ở Việt nam. Nếu đã chết, thì ở một nơi Chúa định sẵn và không về lại được. Đừng tin sự lừa bịp của ma quỉ.
Một lần nữa, Mục sư giúp tôi cầu nguyện bằng cách lặp theo lời ông. Lần nầy tôi cầu nguyện thông suốt và đã nói: "Nhân danh Chúa Giê-xu đuổi tà linh, quỉ dữ ra khỏi thân thể, tâm trí linh hồn con...Xin Chúa Thánh linh chiếm hữu hoàn toàn đời sống con. Tôi nói: " Thôi chị ra đi, đừng tới đây nữa, đừng phá phách em nữa. Tôi tỉnh lại, trí óc mệt nhoài và còn đau đầu.
Lúc ấy là 7:30 sáng ngày Chúa nhật. Chồng tôi muốn tôi đi nhà thờ với Mục sư. Tôi vào phòng tắm và thay đồ, sau đó tôi mở cửa để tà linh ra khỏi nhà và đóng của lại.
Anh Minh, chồng tôi đi làm ca đêm, không tiện để tôi ở nhà một mình, nên xin ông bà Skip cho tôi tạm trú thời gian. Tại nhà ông Skip, tà linh lại nhập vào tôi. Nó dùng miệng tôi nói ra một điều bí mật mà trước đây tôi ít muốn cho người khác biết. Tên tôi không phải là Phan Kim Phượng mà là Nguyễn thị Quyên. Phan Kim Phượng là tên của cô gái đã qua đời tại Việt Nam khi còn bé. Cô Phượng xin đòi tên của cô ta lại. Nếu tôi trả tên lại cho cô, trong thời gian hai tuần tôi sẽ lành bịnh. Biết đây là sự thật, tôi và chồng tôi đồng ý trả tên lại. Chúng tôi mời Mục sư đến và cho ông biết điều nầy, cũng cho những người khác biết tên tôi không phải là Phan Kim Phượng nữa, mà là Nguyễn thị Quyên.
Lúc này, tôi vẫn còn đau đầu và mất hẳn trí nhớ. Tôi như trẻ con một, hai tuổi, chỉ nói được những câu ngắn, không hiểu được những câu dài. Không nhận diện ra được ai cả. Các anh em thanh niên, bạn hữu quen thân đến thăm, tôi không biết được tên của một người nào.
Thâùy thân thể bình thường, nhưng bị đau đầu và mất hết trí nhớ. Chồng tôi đã đem tôi đi bệnh viện Harborview, Seattle, WA. Tại đây bác sĩ không tìm ra tôi có bịnh gì nên cho về.
Có một biến cố đối với tôi là thật, rõ ràng và quan trọng. Khi kể ra, có lẽ các bạn cho là khó tin. Dù bạn có tin hay không, tôi xin được trình bày vì Chúa muốn tôi kể ra: Khi tôi bị bịnh, lúc còn tạm trú tại nhà ông bà Skip-Bell, một đêm khuya khoản 12:00 đêm, tôi thấy Chúa hiện ra, Ngài đi vào các phòng, ông Skip bà Bell đã ngủ. Chúa nói chuyện với tôi và cho tôi biết tôi sẽ lành bịnh, đừng lo sợ, hãy an tâm. Hãy nói cho Mục sư biết con sẽ lành để mục sư khỏi lo lắng. Chúa cõng tôi đi trên một vùng trời đầy mưa. Tôi nói mưa quá Chúa ơi. Chúa bảo đừng sợ, Ngài đưa tay ra, mưa chấm dứt. Tôi muốn lưu Chúa ở lại, Chúa từ chối và nói Ngài bận đi chữa bịnh nhiều người khác. Khi Chúa đi rồi, anh Minh, chồng tôi lúc đó còn thức, đã nghe được nhưng câu nói của tôi, đã xác nhận tôi đã nói chuyện với một người xưng là Chúa, chồng tôi chỉ nghe tiếng nói của tôi mà thôi, giống như một người nghe người khác nói chuyện qua điện thoại. Với sự hiện ra của Chúa nầy, đã giúp tôi giải đáp một câu hỏi lớn, là tại sao cuộc đời tôi từ nhỏ đến giờ, không làm gì ác đức mà lại gặp quá nhiều khổ nạn, đau buồn. Tà linh xâm nhập vào ôi, nhưng Chúa thương tôi chăm sóc tôi và quyền năng Chúa mạnh hơn đã đuổi nó ra khỏi người tôi. Tôi cảm tạ Ngài.
Ông bà Skip & Bell phải đi xa, chồng tôi đi làm ban đêm, tôi không thể ở nhà một mình. Oâng bà mục sư Nguyễn Hữu Trang đã cho tôi về tạm trú tại nhà ông bà. Tại đây mỗi ngày mục sư cầu nguyện cho tôi và khuyến khích tôi đọc Kinh Thánh, cầu nguyện. Trí nhớ tôi vẫn chưa bình phục, sống như em bé; ai hỏi tôi mấy tuổi, tôi liền trả lời bốn tuổi. Chỉ biết tên những người trong nhà, ngoài ra không nhớ, không biết ai cả. Không biết sợ lửa, không biết xử dụng dao, kéo và các vật bén nhọn. Cái gì tôi cũng có thể bỏ vào miệng và nuốt cả, không phân biệt được cái gì là nguy hiểm, độc địa. Vài tuần sau tôi khá dần, nhưng ma quỉ vẫn chưa buông tha tôi và muốn làm hại tôi.
Một buổi trưa nọ, tại nhà ông Mục sư, chồng tôi làm ca đêm về còn ngủ, cả nhà đi vắng, tôi thấy ba, bốn người đến rũ tôi đi chơi. Họ nói trong trí, tôi đã nghe theo, đang mặc đồ ngủ trong nhà, tôi mở cửa sau, bước xuống đường cùng đi với họ. Họ dẫn tôi đi ngất nga ngất nghễu như người điên, họ xúi tôi đến thùng thư bên lề đường, lấy thư ra quăng bỏ đi. Tôi không làm. Họ dẫn tôi vào một cửa tiệm Seven Eleven, xúi tôi bốc kẹo trong quày hàng, bóc ra ăn, người bán hàng không cho. Tôi vừa đi vừa lẩm bẩm nói như chuyện với người nào. Họ dẫn tôi đến xa lộ 509, đây là một xa lộ đông đúc xe cộ vào buổi chiều thứ Sáu. Tôi bước vào xa lộ không chút do dự, không sợ hãi, đi nghênh ngang giữa đường. Tất cả xe cộ đang chạy dập dìu đều thắng lại, có nhiều chiếc phải lách qua bên phải, bên trái làm tình trang hổn loạn, còi kêu inh ỏi. Tại đây những tà linh biến mất, tôi thấ mình trơ trọi giữa xa lộ kinh hoàng. Cảnh sát đến hướng dẫn xe và đưa tôi vào lề đường. Bây giờ trí óc tôi trở lại bình thường, tà linh đã đi khỏi. Tôi tìm đường đi bộ về nhà người chị của chồng tôi cách đó chừng 4 dặm. Nhà không có ai, tôi ngồi trước cửa. Nhìn xuống chân mình thấy chảy máu vì tôi không mang giày, tôi lạnh run lên, vì không mặc áo ấm giữa thời tiết giá buốt mùa đông vùng Tây Bắc Hoa Kỳ. Chồng tôi khi thức dậy, không thấy tôi ở nhà, bèn đi tìm, không thấy tôi ở đâu, bèn gọi cảnh sát tìm giúp. Sau đó chồng tôi đến nhà người chị và thấy tôi, đem tôi trở về nhà ông bà Mục sư. Ôâng cầu nguyện xin Chúa bảo vệ cho tôi và căn dặn tôi khi có ai rũ tôi đi, hãy cầu nguyện, nhân danh Chúa Giê-xu đuổi nó lui khỏi. Tôi đã làm theo, quỉ không rũ tôi đi nữa.
Vào ngày thứ Ba, 10/11/1993, sau khi đi thăm một người bạn, về nhà, tôi cảm thấy hơi đau đầu. Tôi vào phòng riêng thay đồ và lấy kinh thánh ra đọc. Đang lúc đọc kinh Thánh, tôi thấy tối đen, giống như một chiếc áo từ đâu bay đến phủ cả đầu mình. Tôi đau đầu kinh khủng, ôm đầu và la lên. Từ đó tôi không biết gì. Sau nầy, anh Hòa, một thanh niên trong nhà và Mục sư kể lại: Mục sư đang chuẩn bị đi thăm một gia đình ở Federal Way, WA. Mục sư phải hoản lại, dìu tôi vào phòng khách. Tại đây ông và anh Hòa cầu nguyện, nhân danh Chúa Giê-xu ra lịnh tà linh ra khỏi tôi. Quỉ nói với tôi, nếu không cho nó nhập vào, nó sẽ giết chồng tôi đang ở sở làm và giết bà Mục sư, đang trên xa lộ về nhà. Tôi không muốn cho nó nhập vào và cũng không muốn nó làm hại chồng tôi và bà Mục su là người tôi yêu mến. Tôi la lên "Đừng hại anh Minh, đừng giết bà Mục sư. Mục sư nghe thế liền trấn an : "Không ai có quyền hại một tín hữu, một con cái Chúa, vì chính Chúa sẽ sai thiên sứ ngài bảo vệ, gìn giữ họ. Không ai có quyền hại Minh và nhà tôi vì họ thuộc về Chúa Giê-xu, Thánh linh và thiên sứ Ngài sẽ bao che, dẫn dắt họ bình an, con đừng sợ. Mục sư cùng các anh em tín hữu khác như anh Lê Thảo, anh Hòa cầu nguyện, hát thánh ca cố 309, ca ngợi quyền năng huyết báu Chúa Giê-xu, hát Ha-lê-lu-gia và nhân danh Chúa Giê-xu đuổi quỉ lần nữa. Lần nầy quỉ ra khỏi. Tôi tỉnh lại, cùng với Mục sư và các anh chị em hát mạnh hơn và vui mừng vì Chúa đã cứu mình thoát khỏi sự xâm nhập của tà linh.
Một thời gian ngắn ở tạm nhà ông bà Mục sư, trí nhớ tôi lần lần phục hồi, ông bà Mục sư mỗi ngày nói chuyện với tôi, gợi cho tôi nhớ lại, khích lệ tôi kể những việc đã xảy ra từ khi còn bé đến lớn khôn.. Tôi nghe nhạc thánh ca, được khuyến khích đọc kinh thánh, cầu nguyện thường xuyên. Tâm trí tôi trở lại bình thường.
Vợ chồng tôi dọn ra ở một apartment khác. Ngày nay, Chúa Cho chúng tôi khỏe mạnh, bình an, vui vẻ, đã đi làm trở lại. Mỗi tuần đi nhà thờ, thờ phượng Chúa, tham gia vào ban hát để ca ngợi Ngài.
Thưa các bạn, Chúa Giê-xu thật kỳ diệu quá cho tôi. Tôi không đủ ngôn ngữ để ca ngợi, cảm ơn Ngài. Tôi xin viết lại lời làm chứng nầy, để bày tỏ lòng biết ơn Chúa và giới thiệu Chúa cho các bạn. Chúa đã làm một việc lớn cho đời sống tôi, Ngài có thể làm cho bạn. Mong bạn đến với Ngài.
Tháng Ba, 1994
NGUYỄN THỊ QUYÊN
theo Hopeway.org
Đọc thêm!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)