Kính lạy Đức Chúa Trời! Con nhận biết con là người có tội cần được sự tha thứ. Con tin chắc rằng Đức Chúa Giê-su đã giáng thế, sống một cuộc đời hoàn hảo, và chịu chết đền tội cho con trên thập tự giá, Ngài cũng đã sống lại để con được sự sống vĩnh cửu. Con xin ăn năn mọi tội lỗi và đặt lòng tin nơi Chúa ngay giờ này. Con xin Chúa ngự vào lòng con để hướng dẫn con trên bước đường theo Chúa. Con tạ ơn Chúa và cầu nguyện nhân danh Đức Chúa Cứu Thế Giê-su. Amen.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin Lành. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin Lành. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Tư, 23 tháng 5, 2012
THỰC TRẠNG TIN LÀNH Ở TÂY NGUYÊN
Đinh Văn Hạnh
LTS - Trong một lần về thăm quê, tôi được thân phụ giới thiệu bài viết này. Nguyên bài viết này của tác giả Đinh Văn Hạnh, đăng ở trang 22-25 của Tạp chí Xưa và Nay, thuộc Cơ Quan Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam, Số 370 Tháng 12/2010. Bài viết mô tả và đánh giá tình hình thực trạng của các tôn giáo ở Tây Nguyên đặc biệt là Tin Lành. Đây là một trong các bài viết hiếm hoi về Tin Lành trên trang báo ở Việt Nam. Bài viết có những số liệu cụ thể và sinh động về quyền phép của Đức Chúa Trời đang hành động ở Tây Nguyên. Hy vọng bài viết sẽ giúp các Cơ Đốc nhân và mọi người có cái nhìn đúng đắn về Tin Lành của Đấng Christ. Chúng tôi mong muốn mang lại những thông tin bổ ích và khích lệ cho các đầy tớ Chúa đã, đang, và sẽ hầu việc Chúa tại Tây Nguyên. (vietcampus.net)
Trước đây, khi cách dân tộc thiểu số Tây Nguyên sống gần như biệt lập với thế giới bên ngoài họ đều thờ đa thần với vô số nghi lễ cúng thần. Mọi sự vật, hiện tượng tự nhiên đều gắn liền với thần linh. Cồng chiêng cũng là vật thiêng mà trong chúng đều có thần linh trú ngụ. Tiếng chiêng là thanh âm kết nối cuộc sống thực tại của con người với thế giới thiêng liêng của thần linh. Bởi vậy, lễ nghi, tín ngưỡng truyền thống của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên chính là linh hồn cho sự tồn tại sống động của Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Nhưng tình hình đó đã có nhiều thay đổi. Sự du nhập của các tôn giáo thế giới vào cộng đồng các dân tộc thiểu số Tây Nguyên đã đưa đến cho họ những quan niệm mới, thay đổi so với quan niệm truyền thống. Mỗi khi quan niệm “nhất thần” đã thay cho lễ nghi đa thần là tiếng cồng, tiếng chiêng cũng thưa dần. Tất nhiên, tùy theo quan niệm, đức tin, đặc điểm cách thức hành đạo của mỗi loại tôn giáo thế giới mà mức độ tác động của nó đối với hệ thống tín ngưỡng, lễ tục truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên cũng khác nhau...
Trước hết, chúng ta có thể quan sát sự phân bố tôn giáo theo tỷ lệ dân cư trên địa bàn Tây Nguyên với sự hiện hữu chủ yếu của Thiên Chúa giáo, Tin Lành, Phật giáo, Cao đài và một số rất ít tôn giáo khác. Đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên chỉ theo Thiên Chúa giáo, Tin Lành hoặc Phật giáo. Họ không theo đạo Cao Đài hay Hòa Hảo. Riêng Đắk Nông cũng không có đồng bào dân tộc thiểu số nào theo Phật giáo.
Nếu như năm 1999, trên địa bàn Tây Nguyên số đồng bào theo Thiên Chúa giáo, Tin Lành, Phật giáo và Cao Đài chiếm 28,4% dân số thì 5 năm sau tỷ lệ đó là 33,9% và cho đến tháng 6-2009, tăng lên 34,9%. Tỷ lệ chung này có tăng nhưng không cao bằng tỷ lệ đó trong đồng bào các dân tộc thiểu số. Năm 1999, tỷ lệ đồng bào dân tộc ít người có đạo (chủ yếu là Thiên Chúa giáo và Tin Lành) chiếm 27,4% tổng số dân tộc có đạo trên địa bàn. 5 năm sau, tỷ lệ đó đã là 34% và chưa đến 5 năm tiếp theo đã chiếm tới 37,9% (trong khi dân số chỉ chiếm 30%)
.
Trong số 5 tỉnh Tây Nguyên, 10 năm trở lại đây là Kon Tum và Lâm Đồng là hai địa phương có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số theo Thiên Chúa giáo và Tin Lành tăng cao nấht, đặc biệt trong giai đoạn 1999-2004. Tỷ lệ đó ở Lâm Đồng còn tiếp tục tăng mạnh trong giai đoạn 2004-2009. Điều này dễ dàng lý giải vì đây là hai địa bàn có tỷ lệ đồng bào thiểu số theo Tin Lành thấp nhất so với ba tỉnh còn lại vốn đã có tỷ lệ rất cao và tăng mạnh từ nhiều năm trước đó.
Khảo sát sự phân bố của ba loại hình tôn giáo chủ yếu trên địa bàn là Thiên Chúa giáo, Tin Lành và Phật giáo chúng ta còn thấy sự chênh lệch rất lớn về tỷ lệ và mức độ phát triển khác nhau của ba tôn giáo này.
Nếu như trên toàn địa bàn Tây Nguyên năm 2004 có 11,9% dân số theo Phật giáo thì năm 2009 giảm xuống còn 11,4%. Tỷ lệ này của đồng bào các dân tộc thiểu số 0,4% cho năm 2004 và 0,6% tại thời điểm tháng 6-2009. Mặc dù tỷ lệ tín đồ theo đạo Phật có tăng trong đồng bào dân tộc thiểu số nhưng vẫn ở mức rất lớn so với Thiên Chúa giáo và nhất là so với Tin Lành. Những con số sau đây không những cho thấy sự chênh lệch mà còn cho thấy mức độ gia tăng đáng kể lượng tín đồ Tin Lành trong các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên trong những năm gần đây. Năm 2004, có 15% dân số trên địa bàn là tín đồ Thiên Chúa giáo, trong đó dân tộc thiểu số chiếm 14,3% trong số ấy. Năm 2009, tỷ lệ tương ứng là 15,9% (số dân trên địa bàn) và 16,2% (đối với các dân tộc thiểu số). Trong khi đó năm 2004, số tín đồ Tin Lành trên địa bàn Tây Nguyên chỉ chiếm 6,5% dân số thì đến năm 2009 tăng lên 7,2% dân số. Điều đáng nói là sự tăng trưởng đó chỉ tập trung trong đồng bào các dân tộc ít người: năm 2004 tín đồ Tin Lành là người dân tộc thiểu số chiếm 19,3% số tín đồ của tôn giáo này, đến năm 2009 tỷ lệ này đã tăng lên 21,1%. Một điểm rất đáng lưu ý nữa là: nếu số tín đồ Thiên Chúa giáo là người dân tộc thiểu số chỉ chiếm 31% thì tỷ lệ đó của đạo Tin Lành là người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ rất cao: Gia Lai 98,3%; Đắk Lắk 90,5%... Như vậy năm 2009 với tổng số 362.689 người theo đạo Tin Lành ở Tây Nguyên thì hầu hết trong số họ là người các dân tộc thiểu số, gấp 6,5 lần số tín đồ Tin Lành trên toàn lãnh thổ Việt Nam vào thời điểm 1954.
Hiện nay, gần ¼ số dân của 11 dân tộc thiểu số Tây Nguyên theo đạo Tin Lành. Nếu cộng cả Thiên Chúa giáo thì tỷ lệ đó là 37,2%.
Một câu hỏi rất được quan tâm đó là vì sao đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên theo đạo Tin Lành nhiều và với tốc độ nhanh như vậy? Chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy câu trả lời trong các tài liệu về mục đích lợi dụng của các thế lực chính trị trong thời kỳ đất nước bị chiến tranh. Nhưng sự lý giải này liện có còn phù hợp khi Tin Lành ở Tây Nguyên phát triển nhanh hơn trong thời kỳ đất nước đã hòa bình và ngay trong thời kỳ thực hiện công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hiện tượng xã hội bao giờ cũng bắt rễ từ chính cơ sở xã hội. Dù ở góc độ tôn giáo học hay văn hóa học, khách quan mà nói, đều không thể phủ nhận sự đáp ứng của tôn giáo này trong đời sống văn hóa, tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Hay nói chính xác hơn, Tin Lành chỉ có thể xâm nhập và phát triển trong cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên khi họ tìm thấy ở tôn giáo này sự phù hợp với quan niệm truyền thống vốn đã ăn sâu ngàn đời trong họ. Không như thế khó có một loại quan niệm thay thế (hay cảm nhận ban đầu có thể làm phai mờ) được “tâm thức cố hữu” của những con người Tây Nguyên bản địa vốn trung thực, chất chân, hiền lành...
Có lẽ cũng cần nói thêm là hãy khoan tìm nguyên nhân trình độ học vấn để trả lời cho lý do vì sao nhiều đồng bào các dân tộc thiểu số theo Tin Lành. Vì một điều tưởng như nghịch lý nhưng lại rất thuận là trình độ học vấn càng thấp con người ta càng bảo thủ, càng nhiều sức ì níu giữ quan niệm, lễ tục quá khứ đã ăn sâu trong máu. Đó là chưa nói hiện nay tỷ lệ người có học, được học ở các dân tộc thiểu số Tây Nguyên cao hơn rất nhiều so với mấy chục năm trước. Một điểm cũng cần lưu ý nữa là những người theo Tin Lành ở Tây Nguyên chủ yếu là lớp trẻ và trung niêm (thế hệ cận kề và tiếp nối bảo tồn và phát huy di sản văn hóa).
Để có cái nhìn khách quan và đầy đủ, hầu mong giải thích thuyết phục hơn về tốc độ phát triển của Tin Lành ở Tây Nguyên cũng như để thấy được sự tác động của tôn giáo này đối với Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên chúng tôi cho rằng không thể không tìm hiểu thêm về Tin Lành từ góc độ nhân học...
Đạo Tin Lành (Phúc Âm/Tin Mừng/Tin tức tốt lành) ra đời ở Tây Âu từ thế kỷ XVI. Nó là kết quả của sự vận động xã hội mà trong đó chủ nghĩa nhân văn đang bùng phát mạnh mẽ (sau đêm trường trung cổ) giữ vai trò chủ đạo với những báo hiệu thay thế của phương thức sản xuất mới, tiên tiến là chủ nghĩa tư bản đang đến với mọi nẻo đường Tây Âu. Đạo Tin Lành du nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX nhưng mãi đến năm 1911, Hội thánh Tin Lành đầu tiên của Việt Nam mới được xây dựng ở Đà Nẵng.
Do quan niệm Tin Lành là kết quả của phong trào cải cách tôn giáo mà cụ thể là cải cách Kitô giáo nên suốt một thời gian dài người ta cho rằng Tin Lành như là một sự phát triển hay một sự “tách ra” của/ từ Thiên Chúa giáo. Trong các tài liệu nghiên cứu cũng như ngay trong giáo trình ở bậc Đại học người ta nhấn mạnh Tin Lành và Thiên Chúa giáo gần như giống nhau hoàn toàn và chỉ khác nhau ở một số điểm, như quy mô về cấu trúc nhà thờ; quan niệm về thờ tượng, ảnh; quan niệm khác nhau về Đức Mẹ Đồng trinh; cách thức thành lập và vị trí của giáo hội cũng như sự khác nhau giữa linh mục và mục sư... (cũng xin nói ngay là những điểm không giống nhau này không đưa lại sự khác biệt của hai tôn giáo này khi đặt nó trước sự tác động đối với lễ tục truyền thống của một cộng đồng mà nó xâm nhập).
Thực ra, Tin Lành không phải là “một nhánh”, “một nhóm” hay đơn thuần chỉ là sự “cải cách” của Thiên Chúa giáo. Cần phải nhìn nhận đúng Tin Lành là sự trở lại Hội Thánh ban đầu thời chúa Giêsu. Tin Lành là sự hành động của những người tin chúa theo đúng tinh thần trong thời kỳ Giêsu xuất hiện (tức thế kỷ đầu Công nguyên). Sở dĩ có sự trở lại đó vì vào cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI người ta đã phát hiện Giáo hội Thiên Chúa giáo La Mã đã làm nhiều điều sau lạc so với Kinh thánh, không theo đúng đường lối chúa, thực hiện không đúng nghi thức thờ phụng và cách thức truyền giảng mà Giêsu đã phán trong Kinh thánh (nhất là từ sau thế kỷ thứ IV)
Đạo Tin Lành tôn trọng tư hữu, đề cao tự do cá nhân (tự do trong đức tin, tâm linh và tự do trong cuộc sống). Điều này đã tạo ra thích ứng và phù hợp với các cộng đồng trong thời kỳ công xã tan rã, là hiệu ứng dễ tiếp nhận trước sự chuyển biến của xã hội Tây Nguyên khi mà kinh tế thị trường đang thay thế dần kinh tế tự cung tự cấp, khép kín của công xã.
Đạo Tin Lành là tôn giáo của tình thương và lòng bác ái (Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết về lòng bác ái đáng trân trọng của Chúa Giêsu). Tín đồ Tin Lành sẵn sàng chia sẻ, tương trợ với những bạn hữu khốn khó và xem đây là một tiêu chí của đời sống đạo. Sự giúp sức, nâng đỡ bằng tinh thần và của cải vật chất đã giúp không ít người vốn còn nhiều khó khăn như đồng bào các dân tộc thiểu số vươn lên cải thiện cuộc sống là điều đã làm cho họ rất quan tâm. Sự giúp đỡ đôi khi dồi dào làm cho người ngoài dễ nghi ngờ thiện chí của hành động đó nên nói khác đi và điều này vô tình tạo ra sự ngăn cách ngày càng lớn vì khác nhau về quan niệm.
Nếu Thiên Chúa giáo bắt buộc phải xưng tội với linh mục, thiên huệ mà chúa ban cho được thông qua giáo hội, thông qua linh mục... thì người theo Tin Lành chỉ ăn năn với chúa và tin tưởng chắc chắn rằng thiên huệ mà chúa ban cho họ là trực tiếp bởi lòng thành và đức tin của họ chứ không phải xin ai và thông qua ai cả. Mọi việc con người, cá nhân Tin Lành tự tương giao với chúa và ơn phước mà họ được chúa ban là trọn vẹn. Với quan niệm sự cứu tinh chỉ đạt được nhờ lòng tin cá nhân và dựa vào ý muốn của Chúa, Tin Lành đã giải phóng nhận thức khỏi những ràng buộc của thế giới đa thần, phân tán quyền năng, thức tỉnh trong họ những tình cảm và tự do cá nhân – cái mà vốn trước đây bị ràng buộc chặt chẽ bởi công xã.
Đạo Tin Lành là một tôn giáo đặc biệt đề cao lý trí trong đức tin (quyền phép của Đức chúa Trời để cứu mọi kẻ tin). Sự cứu rỗi hay nhu cầu giải quyết các nan đề trong cuộc sống chỉ đến bởi đức tin và sự cầu nguyện chứ không phải vì những luật lệ hoài nghi. Vì vậy, cách thức hành đạo Tin Lành đơn giản, không cầu kỳ, rườm rà như các tôn giáo khác. Đây cũng là một điều thuận lợi nữa để Tin Lành dễ dàng phát triển ở Tây Nguyên.
Trong quan niệm truyền thống của đồng bào dân tộc Tây Nguyên, Giàng (tức là Trời) là vị thần tối tượng. Chính quan niệm này đã đưa đến cho họ sự gặp gỡ trong đức tin khi các nhà truyền giáo Tin Lành nói rõ hơn Trời cũng chính là Đức Chúa Trời. Nhưng Chúa Trời là chúa của muôn chúa, là vua của muôn vua, là đấng tể trị. Để nhận được quyền năng và ơn phước của chúa thì phải có đức tin tuyệt đối và trọn vẹn nơi chúa. Đã tin nơi ngài thì việc thờ cúng các thần linh khác không những trở nên thừa mà còn làm mất đi quyền năng và đời sống trong Chúa; không được hưởng ơn phước của chúa. Vì vậy, mỗi khi đã theo Tin lành thì người ta không còn quan tâm đến lễ nhi, đến việc thờ cúng các thần linh khác. Thậm chí nếu còn làm những việc đó thì sẽ phải chịu nhiều khó khăn, thử thách lớn trong cuộc sống. Ngay cả việc làm hình tượng (như tượng nhà Mồ chẳng hạn), thờ hình tượng, các dấu hiệu thần linh trong các nghi lễ... cũng sẽ ảnh hưởng đến đức tin. Theo quan niệm Tin Lành thì hình tượng là các biểu hiện khác nhau của sa tan, ma quỷ mà thôi... (Kinh thánh dạy rằng: “Hình tượng là công việc do tay người làm ra, hình tượng có miệng mà không nói, có tai mà không nghe, có lỗ mũi mà không ngửi, có tay nhưng k3.Như vậy chúng ta có thể thấy khi đồng bào các dân tộc ít người Tây Nguyên chưa có một tôn giáo độc tôn thì sự xuất hiện của Tin Lành mà ở đó người ta tìm thấy lòng yêu thương con người, tinh thần bác ái, sự giúp đỡ cộng đồng và những cảm nhận về quyền năng, phép lạ Chúa giải quyết các vấn đề của cuộc sống con người như một nhu cầu chung thì đó là lý do chính và trước hết để họ đến với Tin Lành. Nhưng với những quy định và quan niệm khắt khe để giữ trọn đức tin nơi Chúa đã tác động đến tập tục, lễ nghi và quan niệm truyền thống cộng đồng. Khi mà gần ¼ đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên không còn tin vào các vị thần linh, không thực hiện các lễ nghi truyền thống, không còn thấy trong cồng chiêng còn có thần linh trú ngụ thì âm thanh cồng chiêng hẳn sẽ “nhỏ hơn” và không gian văn hóa truyền thống của thanh âm ấy khó tránh khỏi bị thu hẹp. Chúng tôi nhấn mạnh chữ “truyền thống” (của không gian văn hóa cồng chiêng) sẽ bị thu hẹp, vì muốn lưu ý rằng văn hóa cồng chiêng sẽ chẳng mất đi. Văn hóa cồng chiêng vẫn tồn tại và phát triển, nhưng vị trí của nó trong đời sống sinh hoạt, đối tượng tín ngưỡng của nó đã được chuyển đổi. Mục đích tâm linh của cồng chiêng cũng không giống truyền thống. Âm thanh cồng chiêng trong cộng đồng Tin Lành là nơi nguyện cầu, chứa đựng ý nghĩa tương giao của người dân với Dức Chúa Trời. Như vậy, cấu trúc lễ hội văn hóa truyền thống đã thay đổi. Đó có thể là một không gian văn hóa cồng chiêng mới bên cạnh một không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên truyền thồng – là di sản văn hóa của nhân loại...
Tin Lành sẽ còn tiếp tục phát triển ở Tây Nguyên, vì những người Tin Lành tin rằng họ đã trở lại đúng với đường lối Chúa ban đầu. Đó cũng là lý do vì sao chúng ta thấy các nhà truyền giáo Tin Lành và bản thân mỗi một tín đồ Tin Lành được xem là người gieo hạt, rất tích cực và đặt nặng nhiệm vụ truyền đạo…
Rằng Tin Lành là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin. Amen!
Đinh Văn Hạnh
Tạp Chí Xưa Và Nay
(vietcampus.net)
Đọc thêm!
Thứ Hai, 31 tháng 8, 2009
Người Tin Lành và lòng tôn kính cha mẹ
Xưa nay, người Tin Lành Việt Nam thường bị đồng hương hiểu lầm là "theo Tin Lành bỏ ông bà, cha mẹ." Lý do của sự hiểu lầm này là vì người Tin Lành không cúng giổ, không lập bàn thờ ông bà, cha mẹ. Sự cúng giổ hay lập bàn thờ chỉ là một trong các hình thức biểu lộ lòng tôn kính, hiếu thảo của con cháu đối với tổ tiên theo truyền thống văn hóa Việt Nam. Không cúng giổ hay không lập bàn thờ tổ tiên không có nghĩa là không biết tôn kính, hiếu thảo đối với tổ tiên. Chẳng ai cho rằng các dân tộc âu Mỹ không biết tôn kính, hiếu thảo với cha mẹ, ông bà vì họ không có văn hóa cúng giổ và lập bàn thờ như dân Việt.
Thật ra, Đức Chúa Trời ra lệnh cho loài người phải tôn kính cha mẹ. Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời ban cho nhân loại, là mười mệnh lệnh của Ngài về mối quan hệ giữa loài người với Đức Chúa Trời và giữa loài người với nhau. Trong mối quan hệ giữa loài người với Đức Chúa Trời, loài người phải tôn kính Ngài trên hết mọi sự, và thờ phượng chỉ một mình Ngài mà thôi. Trong mối quan hệ giữa loài người với nhau, loài người phải tôn trọng và yêu thương lẫn nhau.
Thế gian đã bị băng hoại vì tội lỗi và Thánh Kinh cho biết: "Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật, và rất là xấu xa; ai có thể biết được?" (Giê-rê-mi 17:9) Vì thế, ngay trong mối quan hệ vô cùng thiêng liêng và huyền nhiệm, mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái, khởi đầu cho mọi mối quan hệ khác giữa chúng ta và xã hội: tội lỗi cũng đã làm cho vẩn đục. Thực tế cho thấy có nhiều bậc cha mẹ không hề làm tròn thiên chức. Thực tế cho thấy có nhiều bậc cha mẹ lạm dụng và đối xử ác độc với con cái. Và ngược lại, có nhiều con cái đối xử với cha mẹ cũng y như vậy.
Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã ban hành luật pháp và điều răn của Ngài để nhắc nhở loài người tiêu chuẩn thánh khiết của Ngài. Trong sáu mệnh lệnh của Đức Chúa Trời về mối quan hệ giữa người với người, mệnh lệnh đầu tiên là: "Hãy tôn kính cha mẹ ngươi!" (Thánh Kinh Việt ngữ, bản dịch Phan Khôi dịch là "hiếu kính.") Có thể nói, nếu chúng ta không làm tròn mệnh lệnh tôn kính cha mẹ thì không khi nào chúng ta có thể làm tròn các mệnh lệnh còn lại trong mối quan hệ giữa chúng ta và xã hội, bởi vì, qua mối quan hệ với cha mẹ, chúng ta học biết cách quan hệ đúng với xã hội.
ý nghĩa của sự tôn kính
"Hãy tôn kính cha mẹ ngươi" là một mệnh lệnh của Đức Chúa Trời. Điều đó có nghĩa là hoặc chúng ta tuân theo, hoặc chúng ta chống nghịch. Chúng ta không có sự chọn lựa nào khác và cũng không được phép lý luận. Chúa không phán bảo: "Hãy tôn kính cha mẹ ngươi nếu cha mẹ ngươi làm tròn bổn phận của họ, nếu cha mẹ ngươi yêu thương ngươi, nếu cha mẹ ngươi cư xử công bình với ngươi, nếu cha mẹ ngươi là những người đạo đức, gương mẫu..." Điều kiện duy nhất để chúng ta tôn kính cha mẹ là vì họ là cha mẹ của chúng ta, và lý do duy nhất để chúng ta tôn kính cha mẹ là vì đó là ý chỉ của Đức Chúa Trời.
Tôn kính là thái độ phải có của loài người đối với Đức Chúa Trời, của con cái đối với cha mẹ, và của mỗi người đối với thẩm quyền Đức Chúa Trời đặt để trên mình. Chữ "tôn kính" trong nguyên tác của Thánh Kinh có nghĩa là tôn trọng và vâng phục. Sự tôn kính không phải chỉ được bày tỏ bằng lời nói mà còn phải thể hiện bằng việc làm. Đức Chúa Trời đã từng quở trách dân Israel và các thầy tế lễ của họ như sau:
"Con trai tôn kính cha mình, đầy tớ tôn kính chủ mình. Vậy nếu ta là cha, nào sự tôn kính thuộc về ta ở đâu? và nếu ta là chủ, nào sự kính sợ ta ở đâu? Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy cùng các ngươi, hỡi các thầy tế lễ khinh dể danh ta! Các ngươi lại nói rằng: Chúng tôi có khinh dể danh Ngài ở đâu?" (Ma-la-chi 1:6)
1. Tôn kính cha mẹ là tôn trọng và cung kính cha mẹ:
Sự tôn kính cha mẹ được thể hiện trước hết là qua thái độ của chúng ta đối với cha mẹ. Đối với những bậc trưởng thượng, Đức Chúa Trời đã dạy chúng ta tôn trọng và cung kính họ:
"Trước mặt người tóc bạc, ngươi hãy đứng dậy, kính người già cả, và kính sợ Đức Chúa Trời ngươi. Ta là Đức Giê-hô-va." (Lê-vi Ký 19:32)
Thái độ tôn trọng và cung kính đó cũng là điều chúng ta phải có đối với cha mẹ. Vì thế, chúng ta không thể cư xử với cha mẹ như ngang hàng với mình chứ đừng nói là thiếu tôn kính, thiếu lễ độ. Chúng ta tôn trọng và cung kính cha mẹ vì họ là cha mẹ của chúng ta chứ không phải vì họ có phẩm chất đạo đức xứng đáng để chúng ta tôn trọng và cung kính. Nhiều người biện minh cho sự thiếu lễ độ của họ đối với cha mẹ bằng cách nêu ra những khuyết điểm hay những lỗi lầm của cha mẹ. Dù cha mẹ chúng ta có bao nhiêu khuyết điểm hay lỗi lầm thì cũng không làm thay đổi sự kiện họ là cha mẹ của chúng ta. Và nếu họ là cha mẹ của chúng ta thì mệnh lệnh của Đức Chúa Trời ban cho chúng ta là chúng ta phải tôn kính họ.
Hình phạt dành cho những đứa con không tôn trọng và cung kính cha mẹ là sự chết:
"Kẻ nào đánh cha hay mẹ mình, sẽ bị xử tử." (Xuất ê-díp-tô Ký 21:15)
"Kẻ nào mắng cha hay mẹ mình, sẽ bị xử tử." (Xuất ê-díp-tô Ký 21:17)
"Khi một người nào chửi cha mắng mẹ mình, thì phải bị xử tử: nó đã chửi rủa cha mẹ; huyết nó sẽ đổ lại trên mình nó." (Lê-vi Ký 20:9)
"Đáng rủa sả thay người nào khinh bỉ cha mẹ mình! Cả dân sự phải đáp: A-men!" (Phục Truyền Luật Lệ Ký 27:16)
"Ngọn đèn của kẻ rủa cha mẹ mình sẽ tắt giữa vùng tăm tối mờ mịt." (Châm Ngôn 20:20)
2. Tôn kính cha mẹ là vâng phục cha mẹ trong Chúa:
"Hỡi kẻ làm con cái, hãy vâng phục cha mẹ mình trong Chúa, vì điều đó là phải lắm." (ê-phê-sô 6:1)
"Hỡi kẻ làm con, mọi sự hãy vâng phục cha mẹ mình, vì điều đó đẹp lòng Chúa." (Cô-lô-se 3:20)
Vâng phục cha mẹ cũng như vâng phục bất kỳ một thẩm quyền nào Chúa đặt để trên mình không phải là một sự vâng phục mù quáng. Sự vâng phục đó phải được đặt trên nền tảng của lời Chúa, vì vậy, Phao-lô mới viết rằng: "Hỡi kẻ làm con cái, hãy vâng phục cha mẹ mình trong Chúa." Những câu Thánh Kinh sau đây giới hạn sự vâng phục của chúng ta đối với loài người:
"Thà phải vâng lời Đức Chúa Trời còn hơn là vâng lời người ta." (Công Vụ Các Sứ Đồ 5:29)
"Còn bây giờ, có phải tôi mong người ta ưng chịu tôi hay là Đức Chúa Trời? Hay là tôi muốn đẹp lòng loài người chăng? Ví bằng tôi còn làm cho đẹp lòng loài người, thì tôi chẳng phải là tôi tớ của Đấng Christ." (Ga-la-ti 1:10)
Vâng phục cha mẹ trong Chúa là vâng lời cha mẹ trong mọi sự miễn là sự vâng lời đó không chống nghịch lại lời Chúa. Sự vâng phục đòi hỏi một sự trả giá và nhiều khi cái giá để trả vô cùng to lớn. Thánh Kinh khuyên chúng ta học lấy gương vâng phục của Đấng Christ:
"5 Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có, 6 Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; 7 chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người; 8 Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự." (Phi-líp 2:5-8)
"Đoạn, Ngài theo về thành Na-xa-rét và chịu lụy cha mẹ." (Lu-ca 2:51)
Khi cha mẹ có những ý muốn hoàn toàn trái nghịch lại lời Chúa, chúng ta được phép không vâng theo những ý muốn sai trái, tội lỗi đó nhưng không có nghĩa là chúng ta có thể bất kính với họ. Thái độ và lời nói của chúng ta đối với cha mẹ và những bậc có thẩm quyền Chúa đặt để trên mình phải luôn luôn mềm mại, hòa nhã. Bất kỳ một lời nói, một thái độ hỗn hào, vô lễ nào của chúng ta đối với cha mẹ đều là tội chết trước mặt Đức Chúa Trời mà Ngài đã nhều lần cảnh cáo trong Thánh Kinh.
Hình phạt dành cho những đứa con không vâng lời cha mẹ là sự chết:
"18 Khi ai có một đứa con khó dạy và bội nghịch, không nghe theo lời cha mẹ, và mặc dầu bị trừng trị, nó vẫn không khứng vâng lời, 19 thì cha mẹ phải bắt nó dẫn đến trước mặt các trưởng lão của thành mình, tại nơi cửa thành. 20 Đoạn, cha mẹ sẽ nói cùng các trưởng lão của thành mình rằng: Nầy con chúng tôi khó dạy và bội nghịch, không vâng lời chúng tôi, làm kẻ hoang đàng say sưa. 21 Bấy giờ, chúng dân thành ấy sẽ ném đá cho nó chết; như vậy ngươi sẽ cất sự ác khỏi giữa mình, và cả Y-sơ-ra-ên sẽ hay điều đó mà bắt sợ." (Phục Truyền Luật Lệ Ký 21:18-21)
3. Tôn kính cha mẹ là phụng dưỡng cha mẹ trong tuổi già của họ:
"Con cháu trước phải học làm điều thảo đối với nhà riêng mình và báo đáp cha mẹ; vì điều đó đẹp lòng Đức Chúa Trời." (1 Ti-mô-thê 5:4)
Chữ "báo đáp" trong nguyên tác có nghĩa là "trả món nợ mà mình thiếu". Nhiều người bỏ mặc cha mẹ không chăm sóc, không báo đáp và viện cớ rằng họ đã dâng hiến cho Đức Chúa Trời nên không còn tài vật để nuôi cha mẹ. Đức Chúa Jesus đã lên án thái độ giả hình này:
"4 Vì Đức Chúa Trời đã truyền điều răn nầy: Phải hiếu kính cha mẹ ngươi; lại, điều nầy: Ai mắng nhiếc cha mẹ thì phải chết. 5 Nhưng các ngươi lại nói rằng: Ai nói cùng cha mẹ rằng: Những điều mà tôi có thể giúp cha mẹ, đã dâng cho Đức Chúa Trời rồi, thì người ấy không cần phải hiếu kính cha mẹ. 6 Như vậy, các ngươi đã vì lời truyền khẩu mình mà bỏ lời Đức Chúa Trời. 7 Hỡi kẻ giả hình! ê-sai đã nói tiên tri về các ngươi phải lắm, mà rằng: 8 Dân nầy lấy môi miếng thờ kính ta; Nhưng lòng chúng nó xa ta lắm. 9 Sự chúng nó thờ lạy ta là vô ích, Vì chúng nó dạy theo những điều răn mà chỉ bởi người ta đặt ra." (Ma-thi-ơ 15:4-9)
Ngày nay, vẫn có nhiều con dân Chúa tự hào dâng hiến rời rộng cho Đức Chúa Trời nhưng họ thật sự không màng đến những thiếu thốn vật chất của cha mẹ. Nhiều người thậm chí bắt cha mẹ phải làm việc trong nhà như đày tớ để đổi lại miếng cơm manh áo mà họ ban bố cho cha mẹ.
4. Tôn kính cha mẹ không phải là biến cha mẹ thành thần linh
Thực tế, có những người không hề vâng lời hoặc tôn kính cha mẹ khi cha mẹ còn sống, nhưng khi cha mẹ qua đời thì lại làm giỗ cúng trọng thể, xây mồ mã đồ sộ, tốn kém, để được người đời khen là "có hiếu." Có những người, khi cha mẹ còn sống phải nhờ đến sự chăm sóc, phụng dưỡng của họ, nhưng khi cha mẹ qua đời, họ lại tin rằng cha mẹ có thể "phù hộ" cho họ nên họ lập bàn thờ để thờ lạy cha mẹ như những phúc thần.
Văn hóa Việt Nam đề cao và phát huy lễ nghĩa là một điểm tốt nhưng khi lễ nghĩa biến thành sùng bái, thần thánh hóa các bậc trưởng thượng thì trở thành phạm thượng, nghịch lại Đức Chúa Trời. Thánh Kinh bày tỏ rất rõ ràng thánh ý của Đức Chúa Trời là Ngài không nhường sự vinh hiển cho bất kỳ một ai. Mọi sự thờ phượng chỉ dành riêng cho Ngài:
"Ta là Đức Giê-hô-va; ấy là danh ta. Ta chẳng nhường sự vinh hiển ta cho một đấng nào khác, cũng không nhường sự tôn trọng ta cho những tượng chạm!" (ê-sai 42:8)
Khi chúng ta tôn thờ cha mẹ, tổ tiên như thần linh, xem họ như là những vị thần có thể bảo hộ, có thể ban phúc hoặc giáng họa cho chúng ta, thì chúng ta đã thần tượng hóa họ và đã đặt họ vào vị trí vinh hiển của Đức Chúa Trời. Cha mẹ, tổ tiên của chúng ta dầu tốt lành, nhân đức đến mức nào đi chăng nữa thì cũng vẫn là những tội nhân trước mặt Đức Chúa Trời. Thánh Kinh khẳng định rõ điều này:
"Vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời." (Rô-ma 3:23)
Lương tâm và trí khôn của chúng ta dạy cho chúng ta biết rõ trong thế gian không hề có một người nào là toàn vẹn, vì thế mới có câu: "Nhân vô thập toàn!" Xét về mặt đạo đức thì không một người nào đáng để chúng ta thờ lạy vì ai cũng có khuyết điểm. Xét về mặt quyền năng thì chỉ có Đức Chúa Trời Toàn Năng là Đấng tạo dựng nên muôn loài vạn vật, trong đó có loài người, mới xứng đáng để chúng ta thờ lạy. Thờ lạy là hình thức tôn kính cao nhất, và vì thế chỉ có thể dành riêng cho Đức Chúa Trời mà thôi.
Kết luận
"Hãy tôn kính cha mẹ" là một mệnh lệnh của Đức Chúa Trời. Và, cũng như bao nhiêu mệnh lệnh khác của Đức Chúa Trời, chúng ta không thể nào làm tròn mệnh lệnh này nếu chúng ta không thật sự ở trong Chúa, nếu chúng ta chưa thật sự được Chúa biến đổi thành một con người mới (tái sinh). Nếu chúng ta không thể tôn kính cha mẹ mình thì chắc chắn chúng ta không thể có mối tương quan tốt với những người khác trong xã hội. Một trong những phương cách vô cùng hữu hiệu để nhìn biết một người có thật sự là môn đồ của Chúa hay không, đó là quan sát cách thức họ cư xử với cha mẹ và các bậc trưởng thượng. Nếu những người chưa tin Chúa mà có thể tôn kính cha mẹ và để lại gương sáng cho xã hội như 24 người con hiếu thảo của Trung Quốc thì người Tin Lành càng phải sáng chói trong sự tôn kính cha mẹ biết là dường nào!
Trên một phương diện khác, cha mẹ, tổ tiên chúng ta đều là vật thọ tạo bởi Đức Chúa Trời cho nên chúng ta không thể tôn kính họ ngang bằng với Đức Chúa Trời, nghĩa là không thờ lạy họ. Sự thờ phượng chỉ dành riêng cho Đức Chúa Trời là Cha chung của muôn loài vạn vật. Lòng tôn kính cha mẹ chân thật sẽ thể hiện trong cách cư xử của chúng ta đối với cha mẹ. Chúng ta tôn kính, vâng phục, và phụng dưỡng cha mẹ khi họ còn sống, theo như mệnh lệnh của Chúa. Khi cha mẹ qua đời, chúng ta chôn cất tử tế và chăm sóc mộ phần của họ chu đáo nhưng không phung phí tiền bạc, của cải, công sức vào việc xây mồ, đắp mã, cốt lấy tiếng khen của thế gian; cũng không lập bàn thờ để thờ lạy như thần linh; và cũng không giỗ cúng, vì người chết không thể hưởng dụng những lễ vật được cúng tế.
Huỳnh Christian Timothy
13/05/2007
http://hoptinhhoply.net/?q=node/111
Đọc thêm!
Thật ra, Đức Chúa Trời ra lệnh cho loài người phải tôn kính cha mẹ. Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời ban cho nhân loại, là mười mệnh lệnh của Ngài về mối quan hệ giữa loài người với Đức Chúa Trời và giữa loài người với nhau. Trong mối quan hệ giữa loài người với Đức Chúa Trời, loài người phải tôn kính Ngài trên hết mọi sự, và thờ phượng chỉ một mình Ngài mà thôi. Trong mối quan hệ giữa loài người với nhau, loài người phải tôn trọng và yêu thương lẫn nhau.
Thế gian đã bị băng hoại vì tội lỗi và Thánh Kinh cho biết: "Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật, và rất là xấu xa; ai có thể biết được?" (Giê-rê-mi 17:9) Vì thế, ngay trong mối quan hệ vô cùng thiêng liêng và huyền nhiệm, mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái, khởi đầu cho mọi mối quan hệ khác giữa chúng ta và xã hội: tội lỗi cũng đã làm cho vẩn đục. Thực tế cho thấy có nhiều bậc cha mẹ không hề làm tròn thiên chức. Thực tế cho thấy có nhiều bậc cha mẹ lạm dụng và đối xử ác độc với con cái. Và ngược lại, có nhiều con cái đối xử với cha mẹ cũng y như vậy.
Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã ban hành luật pháp và điều răn của Ngài để nhắc nhở loài người tiêu chuẩn thánh khiết của Ngài. Trong sáu mệnh lệnh của Đức Chúa Trời về mối quan hệ giữa người với người, mệnh lệnh đầu tiên là: "Hãy tôn kính cha mẹ ngươi!" (Thánh Kinh Việt ngữ, bản dịch Phan Khôi dịch là "hiếu kính.") Có thể nói, nếu chúng ta không làm tròn mệnh lệnh tôn kính cha mẹ thì không khi nào chúng ta có thể làm tròn các mệnh lệnh còn lại trong mối quan hệ giữa chúng ta và xã hội, bởi vì, qua mối quan hệ với cha mẹ, chúng ta học biết cách quan hệ đúng với xã hội.
ý nghĩa của sự tôn kính
"Hãy tôn kính cha mẹ ngươi" là một mệnh lệnh của Đức Chúa Trời. Điều đó có nghĩa là hoặc chúng ta tuân theo, hoặc chúng ta chống nghịch. Chúng ta không có sự chọn lựa nào khác và cũng không được phép lý luận. Chúa không phán bảo: "Hãy tôn kính cha mẹ ngươi nếu cha mẹ ngươi làm tròn bổn phận của họ, nếu cha mẹ ngươi yêu thương ngươi, nếu cha mẹ ngươi cư xử công bình với ngươi, nếu cha mẹ ngươi là những người đạo đức, gương mẫu..." Điều kiện duy nhất để chúng ta tôn kính cha mẹ là vì họ là cha mẹ của chúng ta, và lý do duy nhất để chúng ta tôn kính cha mẹ là vì đó là ý chỉ của Đức Chúa Trời.
Tôn kính là thái độ phải có của loài người đối với Đức Chúa Trời, của con cái đối với cha mẹ, và của mỗi người đối với thẩm quyền Đức Chúa Trời đặt để trên mình. Chữ "tôn kính" trong nguyên tác của Thánh Kinh có nghĩa là tôn trọng và vâng phục. Sự tôn kính không phải chỉ được bày tỏ bằng lời nói mà còn phải thể hiện bằng việc làm. Đức Chúa Trời đã từng quở trách dân Israel và các thầy tế lễ của họ như sau:
"Con trai tôn kính cha mình, đầy tớ tôn kính chủ mình. Vậy nếu ta là cha, nào sự tôn kính thuộc về ta ở đâu? và nếu ta là chủ, nào sự kính sợ ta ở đâu? Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy cùng các ngươi, hỡi các thầy tế lễ khinh dể danh ta! Các ngươi lại nói rằng: Chúng tôi có khinh dể danh Ngài ở đâu?" (Ma-la-chi 1:6)
1. Tôn kính cha mẹ là tôn trọng và cung kính cha mẹ:
Sự tôn kính cha mẹ được thể hiện trước hết là qua thái độ của chúng ta đối với cha mẹ. Đối với những bậc trưởng thượng, Đức Chúa Trời đã dạy chúng ta tôn trọng và cung kính họ:
"Trước mặt người tóc bạc, ngươi hãy đứng dậy, kính người già cả, và kính sợ Đức Chúa Trời ngươi. Ta là Đức Giê-hô-va." (Lê-vi Ký 19:32)
Thái độ tôn trọng và cung kính đó cũng là điều chúng ta phải có đối với cha mẹ. Vì thế, chúng ta không thể cư xử với cha mẹ như ngang hàng với mình chứ đừng nói là thiếu tôn kính, thiếu lễ độ. Chúng ta tôn trọng và cung kính cha mẹ vì họ là cha mẹ của chúng ta chứ không phải vì họ có phẩm chất đạo đức xứng đáng để chúng ta tôn trọng và cung kính. Nhiều người biện minh cho sự thiếu lễ độ của họ đối với cha mẹ bằng cách nêu ra những khuyết điểm hay những lỗi lầm của cha mẹ. Dù cha mẹ chúng ta có bao nhiêu khuyết điểm hay lỗi lầm thì cũng không làm thay đổi sự kiện họ là cha mẹ của chúng ta. Và nếu họ là cha mẹ của chúng ta thì mệnh lệnh của Đức Chúa Trời ban cho chúng ta là chúng ta phải tôn kính họ.
Hình phạt dành cho những đứa con không tôn trọng và cung kính cha mẹ là sự chết:
"Kẻ nào đánh cha hay mẹ mình, sẽ bị xử tử." (Xuất ê-díp-tô Ký 21:15)
"Kẻ nào mắng cha hay mẹ mình, sẽ bị xử tử." (Xuất ê-díp-tô Ký 21:17)
"Khi một người nào chửi cha mắng mẹ mình, thì phải bị xử tử: nó đã chửi rủa cha mẹ; huyết nó sẽ đổ lại trên mình nó." (Lê-vi Ký 20:9)
"Đáng rủa sả thay người nào khinh bỉ cha mẹ mình! Cả dân sự phải đáp: A-men!" (Phục Truyền Luật Lệ Ký 27:16)
"Ngọn đèn của kẻ rủa cha mẹ mình sẽ tắt giữa vùng tăm tối mờ mịt." (Châm Ngôn 20:20)
2. Tôn kính cha mẹ là vâng phục cha mẹ trong Chúa:
"Hỡi kẻ làm con cái, hãy vâng phục cha mẹ mình trong Chúa, vì điều đó là phải lắm." (ê-phê-sô 6:1)
"Hỡi kẻ làm con, mọi sự hãy vâng phục cha mẹ mình, vì điều đó đẹp lòng Chúa." (Cô-lô-se 3:20)
Vâng phục cha mẹ cũng như vâng phục bất kỳ một thẩm quyền nào Chúa đặt để trên mình không phải là một sự vâng phục mù quáng. Sự vâng phục đó phải được đặt trên nền tảng của lời Chúa, vì vậy, Phao-lô mới viết rằng: "Hỡi kẻ làm con cái, hãy vâng phục cha mẹ mình trong Chúa." Những câu Thánh Kinh sau đây giới hạn sự vâng phục của chúng ta đối với loài người:
"Thà phải vâng lời Đức Chúa Trời còn hơn là vâng lời người ta." (Công Vụ Các Sứ Đồ 5:29)
"Còn bây giờ, có phải tôi mong người ta ưng chịu tôi hay là Đức Chúa Trời? Hay là tôi muốn đẹp lòng loài người chăng? Ví bằng tôi còn làm cho đẹp lòng loài người, thì tôi chẳng phải là tôi tớ của Đấng Christ." (Ga-la-ti 1:10)
Vâng phục cha mẹ trong Chúa là vâng lời cha mẹ trong mọi sự miễn là sự vâng lời đó không chống nghịch lại lời Chúa. Sự vâng phục đòi hỏi một sự trả giá và nhiều khi cái giá để trả vô cùng to lớn. Thánh Kinh khuyên chúng ta học lấy gương vâng phục của Đấng Christ:
"5 Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có, 6 Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; 7 chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người; 8 Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự." (Phi-líp 2:5-8)
"Đoạn, Ngài theo về thành Na-xa-rét và chịu lụy cha mẹ." (Lu-ca 2:51)
Khi cha mẹ có những ý muốn hoàn toàn trái nghịch lại lời Chúa, chúng ta được phép không vâng theo những ý muốn sai trái, tội lỗi đó nhưng không có nghĩa là chúng ta có thể bất kính với họ. Thái độ và lời nói của chúng ta đối với cha mẹ và những bậc có thẩm quyền Chúa đặt để trên mình phải luôn luôn mềm mại, hòa nhã. Bất kỳ một lời nói, một thái độ hỗn hào, vô lễ nào của chúng ta đối với cha mẹ đều là tội chết trước mặt Đức Chúa Trời mà Ngài đã nhều lần cảnh cáo trong Thánh Kinh.
Hình phạt dành cho những đứa con không vâng lời cha mẹ là sự chết:
"18 Khi ai có một đứa con khó dạy và bội nghịch, không nghe theo lời cha mẹ, và mặc dầu bị trừng trị, nó vẫn không khứng vâng lời, 19 thì cha mẹ phải bắt nó dẫn đến trước mặt các trưởng lão của thành mình, tại nơi cửa thành. 20 Đoạn, cha mẹ sẽ nói cùng các trưởng lão của thành mình rằng: Nầy con chúng tôi khó dạy và bội nghịch, không vâng lời chúng tôi, làm kẻ hoang đàng say sưa. 21 Bấy giờ, chúng dân thành ấy sẽ ném đá cho nó chết; như vậy ngươi sẽ cất sự ác khỏi giữa mình, và cả Y-sơ-ra-ên sẽ hay điều đó mà bắt sợ." (Phục Truyền Luật Lệ Ký 21:18-21)
3. Tôn kính cha mẹ là phụng dưỡng cha mẹ trong tuổi già của họ:
"Con cháu trước phải học làm điều thảo đối với nhà riêng mình và báo đáp cha mẹ; vì điều đó đẹp lòng Đức Chúa Trời." (1 Ti-mô-thê 5:4)
Chữ "báo đáp" trong nguyên tác có nghĩa là "trả món nợ mà mình thiếu". Nhiều người bỏ mặc cha mẹ không chăm sóc, không báo đáp và viện cớ rằng họ đã dâng hiến cho Đức Chúa Trời nên không còn tài vật để nuôi cha mẹ. Đức Chúa Jesus đã lên án thái độ giả hình này:
"4 Vì Đức Chúa Trời đã truyền điều răn nầy: Phải hiếu kính cha mẹ ngươi; lại, điều nầy: Ai mắng nhiếc cha mẹ thì phải chết. 5 Nhưng các ngươi lại nói rằng: Ai nói cùng cha mẹ rằng: Những điều mà tôi có thể giúp cha mẹ, đã dâng cho Đức Chúa Trời rồi, thì người ấy không cần phải hiếu kính cha mẹ. 6 Như vậy, các ngươi đã vì lời truyền khẩu mình mà bỏ lời Đức Chúa Trời. 7 Hỡi kẻ giả hình! ê-sai đã nói tiên tri về các ngươi phải lắm, mà rằng: 8 Dân nầy lấy môi miếng thờ kính ta; Nhưng lòng chúng nó xa ta lắm. 9 Sự chúng nó thờ lạy ta là vô ích, Vì chúng nó dạy theo những điều răn mà chỉ bởi người ta đặt ra." (Ma-thi-ơ 15:4-9)
Ngày nay, vẫn có nhiều con dân Chúa tự hào dâng hiến rời rộng cho Đức Chúa Trời nhưng họ thật sự không màng đến những thiếu thốn vật chất của cha mẹ. Nhiều người thậm chí bắt cha mẹ phải làm việc trong nhà như đày tớ để đổi lại miếng cơm manh áo mà họ ban bố cho cha mẹ.
4. Tôn kính cha mẹ không phải là biến cha mẹ thành thần linh
Thực tế, có những người không hề vâng lời hoặc tôn kính cha mẹ khi cha mẹ còn sống, nhưng khi cha mẹ qua đời thì lại làm giỗ cúng trọng thể, xây mồ mã đồ sộ, tốn kém, để được người đời khen là "có hiếu." Có những người, khi cha mẹ còn sống phải nhờ đến sự chăm sóc, phụng dưỡng của họ, nhưng khi cha mẹ qua đời, họ lại tin rằng cha mẹ có thể "phù hộ" cho họ nên họ lập bàn thờ để thờ lạy cha mẹ như những phúc thần.
Văn hóa Việt Nam đề cao và phát huy lễ nghĩa là một điểm tốt nhưng khi lễ nghĩa biến thành sùng bái, thần thánh hóa các bậc trưởng thượng thì trở thành phạm thượng, nghịch lại Đức Chúa Trời. Thánh Kinh bày tỏ rất rõ ràng thánh ý của Đức Chúa Trời là Ngài không nhường sự vinh hiển cho bất kỳ một ai. Mọi sự thờ phượng chỉ dành riêng cho Ngài:
"Ta là Đức Giê-hô-va; ấy là danh ta. Ta chẳng nhường sự vinh hiển ta cho một đấng nào khác, cũng không nhường sự tôn trọng ta cho những tượng chạm!" (ê-sai 42:8)
Khi chúng ta tôn thờ cha mẹ, tổ tiên như thần linh, xem họ như là những vị thần có thể bảo hộ, có thể ban phúc hoặc giáng họa cho chúng ta, thì chúng ta đã thần tượng hóa họ và đã đặt họ vào vị trí vinh hiển của Đức Chúa Trời. Cha mẹ, tổ tiên của chúng ta dầu tốt lành, nhân đức đến mức nào đi chăng nữa thì cũng vẫn là những tội nhân trước mặt Đức Chúa Trời. Thánh Kinh khẳng định rõ điều này:
"Vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời." (Rô-ma 3:23)
Lương tâm và trí khôn của chúng ta dạy cho chúng ta biết rõ trong thế gian không hề có một người nào là toàn vẹn, vì thế mới có câu: "Nhân vô thập toàn!" Xét về mặt đạo đức thì không một người nào đáng để chúng ta thờ lạy vì ai cũng có khuyết điểm. Xét về mặt quyền năng thì chỉ có Đức Chúa Trời Toàn Năng là Đấng tạo dựng nên muôn loài vạn vật, trong đó có loài người, mới xứng đáng để chúng ta thờ lạy. Thờ lạy là hình thức tôn kính cao nhất, và vì thế chỉ có thể dành riêng cho Đức Chúa Trời mà thôi.
Kết luận
"Hãy tôn kính cha mẹ" là một mệnh lệnh của Đức Chúa Trời. Và, cũng như bao nhiêu mệnh lệnh khác của Đức Chúa Trời, chúng ta không thể nào làm tròn mệnh lệnh này nếu chúng ta không thật sự ở trong Chúa, nếu chúng ta chưa thật sự được Chúa biến đổi thành một con người mới (tái sinh). Nếu chúng ta không thể tôn kính cha mẹ mình thì chắc chắn chúng ta không thể có mối tương quan tốt với những người khác trong xã hội. Một trong những phương cách vô cùng hữu hiệu để nhìn biết một người có thật sự là môn đồ của Chúa hay không, đó là quan sát cách thức họ cư xử với cha mẹ và các bậc trưởng thượng. Nếu những người chưa tin Chúa mà có thể tôn kính cha mẹ và để lại gương sáng cho xã hội như 24 người con hiếu thảo của Trung Quốc thì người Tin Lành càng phải sáng chói trong sự tôn kính cha mẹ biết là dường nào!
Trên một phương diện khác, cha mẹ, tổ tiên chúng ta đều là vật thọ tạo bởi Đức Chúa Trời cho nên chúng ta không thể tôn kính họ ngang bằng với Đức Chúa Trời, nghĩa là không thờ lạy họ. Sự thờ phượng chỉ dành riêng cho Đức Chúa Trời là Cha chung của muôn loài vạn vật. Lòng tôn kính cha mẹ chân thật sẽ thể hiện trong cách cư xử của chúng ta đối với cha mẹ. Chúng ta tôn kính, vâng phục, và phụng dưỡng cha mẹ khi họ còn sống, theo như mệnh lệnh của Chúa. Khi cha mẹ qua đời, chúng ta chôn cất tử tế và chăm sóc mộ phần của họ chu đáo nhưng không phung phí tiền bạc, của cải, công sức vào việc xây mồ, đắp mã, cốt lấy tiếng khen của thế gian; cũng không lập bàn thờ để thờ lạy như thần linh; và cũng không giỗ cúng, vì người chết không thể hưởng dụng những lễ vật được cúng tế.
Huỳnh Christian Timothy
13/05/2007
http://hoptinhhoply.net/?q=node/111
Đọc thêm!
Thứ Hai, 6 tháng 7, 2009
Mỗi tín đồ phải là một công dân tốt
Chiều 15-6, tại trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng đã thân mật tiếp Đoàn đại biểu Ban Trị sự Tổng hội - Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) nhiệm kỳ 2009-2013, do Mục sư Nguyễn Hữu Mạc, Hội trưởng dẫn đầu.
Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng chúc mừng thành công của Đại hội đồng lần thứ 33 Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) vừa qua. Phó Thủ tướng khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước luôn tôn trọng tự do tôn giáo, không phân biệt và tạo điều kiện cho mọi tôn giáo hoạt động theo đúng Hiến pháp và pháp luật.

Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng mong muốn các vị chức sắc, tín đồ Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) tiếp tục phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc; hướng dẫn bà con tín hữu trong giáo hội tích cực xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc và tham gia các phong trào thi đua yêu nước; tuân thủ luật pháp; hăng hái lao động, sản xuất, góp phần xây dựng quê hương, đất nước ngày một giàu đẹp.
Mục sư Nguyễn Hữu Mạc ghi nhận những căn dặn của Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng, cam kết sẽ cùng Ban Trị sự Hội thánh và bà con tín hữu trong giáo hội chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như tôn chỉ mục đích hoạt động của Hội “Kính Chúa - yêu nước”, mỗi tín đồ Tin Lành phải là một công dân tốt, hết lòng phụng sự cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Theo An ninh thủ đô
Đọc thêm!
Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng chúc mừng thành công của Đại hội đồng lần thứ 33 Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) vừa qua. Phó Thủ tướng khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước luôn tôn trọng tự do tôn giáo, không phân biệt và tạo điều kiện cho mọi tôn giáo hoạt động theo đúng Hiến pháp và pháp luật.
Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng mong muốn các vị chức sắc, tín đồ Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) tiếp tục phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc; hướng dẫn bà con tín hữu trong giáo hội tích cực xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc và tham gia các phong trào thi đua yêu nước; tuân thủ luật pháp; hăng hái lao động, sản xuất, góp phần xây dựng quê hương, đất nước ngày một giàu đẹp.
Mục sư Nguyễn Hữu Mạc ghi nhận những căn dặn của Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng, cam kết sẽ cùng Ban Trị sự Hội thánh và bà con tín hữu trong giáo hội chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như tôn chỉ mục đích hoạt động của Hội “Kính Chúa - yêu nước”, mỗi tín đồ Tin Lành phải là một công dân tốt, hết lòng phụng sự cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Theo An ninh thủ đô
Đọc thêm!
Đạo Tin Lành ở Hàn Quốc
Năm 1884, Horace N. Allen, một bác sĩ người Mỹ và là một người truyền giáo thuộc giáo hội Scotland đã đến Hàn Quốc. Hai người Mỹ là Horace G. Underwood cùng giáo phái và một người truyền đạo của Hội giáo lý thuộc nhà thờ Tân Giáo Henry G.Appenzeller cũng đến Hàn Quốc một năm sau đó. Sau họ còn có nhiều nhà truyền giáo thuộc các giáo phái của đạo Tin Lành đến Hàn Quốc. Các nhà truyền giáo đã đóng góp cho xã hội Hàn Quốc qua hình thức hoạt động cung cấp thuốc men và giáo dục nhằm truyền giảng các triết lý của giáo phái. Những tín đồ đạo Tin Lành Hàn Quốc như giáo sư Seo Jae-pil, Yi Sang-jae và Yun Chi-ho đều là những nhà lãnh đạo phong trào độc lập nguyện cống hiến cho sự nghiệp chính trị.
Các trường tư thục của đạo Tin Lành, như Yonhi và Ewha hoạt động nhằm phát huy tư tưởng dân tộc trong cộng đồng. Giáo hội Cơ đốc giáo thanh niên Seoul (YMCA) thành lập năm 1903 cùng với nhiều tổ chức Cơ đốc giáo khác. Các tổ chức này rất tích cực trong các hoạt động xã hội chính trị, khuyến khích thành lập các tổ chức tương tự trong giới trẻ Hàn Quốc. Các nhóm thanh niên này không chỉ theo đuổi sự nghiệp chính trị, giáo dục mà còn thức tỉnh ý thức xã hội chống lại những thông lệ mê tín và những thói quen xấu, đồng thời thúc đẩy sự bình đẳng giới, xóa bỏ tình trạng thê thiếp, đơn giản hóa các hình thức nghi lễ.
Sự phát triển mạnh mẽ chưa từng có của các nhà thờ đạo Tin Lành ở Hàn Quốc dẫn đến các hội nghị nghiên cứu kinh Thánh trên quy mô lớn năm 1905. Bốn năm sau đó, phong trào "Triệu linh hồn hướng về Chúa" bắt đầu và đã khuyến khích được hàng ngàn tín đồ chuyển sang đạo Tin Lành. Đạo Tin Lành được mọi người chào đón không chỉ như một tín ngưỡng mà còn vì ý nghĩa chính trị, xã hội, giáo dục và văn hóa của đạo.
Theo http://www.hanquocngaynay.com
Đọc thêm!
Các trường tư thục của đạo Tin Lành, như Yonhi và Ewha hoạt động nhằm phát huy tư tưởng dân tộc trong cộng đồng. Giáo hội Cơ đốc giáo thanh niên Seoul (YMCA) thành lập năm 1903 cùng với nhiều tổ chức Cơ đốc giáo khác. Các tổ chức này rất tích cực trong các hoạt động xã hội chính trị, khuyến khích thành lập các tổ chức tương tự trong giới trẻ Hàn Quốc. Các nhóm thanh niên này không chỉ theo đuổi sự nghiệp chính trị, giáo dục mà còn thức tỉnh ý thức xã hội chống lại những thông lệ mê tín và những thói quen xấu, đồng thời thúc đẩy sự bình đẳng giới, xóa bỏ tình trạng thê thiếp, đơn giản hóa các hình thức nghi lễ.
Sự phát triển mạnh mẽ chưa từng có của các nhà thờ đạo Tin Lành ở Hàn Quốc dẫn đến các hội nghị nghiên cứu kinh Thánh trên quy mô lớn năm 1905. Bốn năm sau đó, phong trào "Triệu linh hồn hướng về Chúa" bắt đầu và đã khuyến khích được hàng ngàn tín đồ chuyển sang đạo Tin Lành. Đạo Tin Lành được mọi người chào đón không chỉ như một tín ngưỡng mà còn vì ý nghĩa chính trị, xã hội, giáo dục và văn hóa của đạo.
Theo http://www.hanquocngaynay.com
Đọc thêm!
Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2009
Phong trào Tin Lành
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Thuật ngữ Phong trào Tin Lành (Evangelicalism) thường được dùng để chỉ một trào lưu thuộc cộng đồng Kháng Cách với các đặc điểm: tập chú vào nỗ lực truyền bá phúc âm, trải nghiệm qui đạo, lời chứng về đức tin cá nhân, và có quan điểm truyền thống về Kinh Thánh.[1]
Từ nguyên
Theo ngữ nghĩa, "Tin Lành" ngụ ý bất cứ niềm xác tín nào xưng nhận Chúa Giê-xu là Cứu Chúa. Thuật từ này có nguồn gốc Hi văn evangelion, nghĩa là "phúc âm" hoặc "tin tức tốt lành". Như vậy, tín hữu Tin Lành đồng nghĩa với tín hữu Cơ Đốc, là người đặt niềm tin của mình trên, được thúc đẩy bởi, và sống theo sự dạy dỗ của thông điệp phúc âm được chép trong Tân Ước.
Thuật từ này cũng thể hiện các đặc trưng của niềm xác tín như nhấn mạnh vào thẩm quyền của Kinh Thánh, sự chết và sự sống lại của Chúa Giê-xu, trải nghiệm qui đạo (được xem là đồng nghĩa với kinh nghiệm được tái sinh trong tâm linh), và tích cực truyền bá phúc âm.[2]
Theo cách dùng ở phương Tây, thuật từ Tin Lành thường được dùng như một từ đồng nghĩa với Kháng Cách (Protestantism), để phân biệt với Công giáo Rôma. Martin Luther gọi hội thánh theo khuynh hướng cải cách là evangelische Kirche (Giáo hội Tin Lành) [3]
Dù vậy, trong lịch sử lâu dài của mình, thuật ngữ này mang một số ý nghĩa khác nhau phụ thuộc vào các biến động trong từng thời điểm:
* Tại Âu châu, kể từ Cuộc Cải cách Kháng cách vào thế kỷ 16, các giáo hội Luther được gọi là các giáo hội Tin Lành, để phân biệt với các giáo hội Cải Cách (Reformed) của Huldrych Zwingli, John Calvin và những người theo họ.
* Kể từ thế kỷ 17, bên trong Giáo hội Anh tồn tại hai trào lưu, một trong số đó có khuynh hướng liên kết với cuộc Cải cách, bị gọi cách chế giễu là Thanh giáo, cũng được gọi với một tên khác là Tin Lành.
* Tại Bắc Mỹ, đặc biệt tại Hoa Kỳ, trong các cuộc Đại Tỉnh thức, thuật ngữ này được dùng để chỉ những người ủng hộ các cuộc phục hưng tôn giáo (revivalism).
* Vào cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, thuật từ này còn được dùng để phân biệt họ với một nhóm khác trong cộng đồng Kháng Cách, Phong trào Tự do (Liberalism).
Trong lịch sử đương đại, thuật từ Tin Lành khởi nguồn từ Bắc Mỹ trong những năm đầu thế kỷ 20. Nhiều người xem thần học Tin Lành là sự chọn lựa dung hòa giữa một bên là khuynh hướng Tân phái của các giáo hội chính lưu, bên kia là thần học Nền tảng theo đuổi các lập trường truyền thống.[4] Do đó, Phong trào Tin Lành thường được miêu tả là “khuynh hướng chủ đạo trong cộng đồng Kháng Cách tại Mỹ, chọn lập trường trung dung giữa những người nền tảng và các nhóm tự do.” [5]
Lịch sử
Từ cuối thế kỷ 18, những cuộc phục hưng khởi phát trong vòng các giáo phái khác nhau được gọi chung là Phong trào Tin Lành.
John Wesley được xem là người có ảnh hưởng lớn trong việc hình thành và phát triển phong trào Tin Lành. Khởi phát từ khi Wesley giong ruỗi trên lưng ngựa đi khắp nước Anh để thuyết giáo, phong trào lan truyền sang các khu định cư tại Mỹ, rồi từ đó phát triển đến nhiều nơi trên thế giới, mặc dù Wesley là một mục sư Anh giáo và ông không có ý định tách rời khỏi Anh giáo.
Ngay sau cuộc Cách mạng Mỹ, giáo hội Giám Lý đầu tiên được thành lập năm 1784, sau khi các chức sắc Anh giáo từ chối phong chức cho các mục sư Mỹ. Những nhà lãnh đạo ban đầu gồm có Francis Asbury, người được George Washington gọi là "Giám mục của nước Mỹ", và Thomas Coke, một nhà lãnh đạo trong công cuộc truyền giáo.
Đến thập niên 1820, đức tin Tin Lành lan tỏa trên khắp nước Mỹ và tạo lập ảnh hưởng đáng kể trên tiến trình hình thành các định chế xã hội cho đất nước này. Các khái niệm về truyền bá phúc âm, phục hưng hội thánh, và các nguyên tắc chứng đạo đều mang dấu ấn của các nhà truyền bá phúc âm như Charles G. Finney. Tín hữu Tin Lành cũng đóng góp tích cực cho nỗ lực cải thiện xã hội Mỹ qua các chương trình cải cách như quảng bá tính tiết độ, các giá trị gia đình, phong trào nữ quyền, các hoạt động từ thiện, và phong trào bãi nô.[6]
Đặc điểm của phong trào này là nhấn mạnh vào trải nghiệm qui đạo của mỗi cá nhân, lòng sùng tín và sự chuyên cần nghiên cứu Kinh Thánh. Họ cũng quan tâm đến các vấn đề đạo đức xã hội như sự tiết độ, các giá trị gia đình, và chống chủ trương sở hữu nô lệ. Họ bác bỏ tính hình thức trong thờ phụng và trong thần học, cung cấp cho tín hữu (lay people) và phụ nữ những vai trò quan trọng trong thờ phụng, truyền bá phúc âm, giảng dạy, và lãnh đạo. Họ thường sẵn lòng cộng tác với các giáo phái khác trong công cuộc truyền bá phúc âm.
Những nhân vật quan trọng khác của phong trào Tin Lành là: Jonathan Edwards, nhà thần học và thuyết giảng ngưòi Mỹ; George Whitefield, nhà thuyết giáo Giám Lý người Anh, và Robert Raikes, người khởi xướng lớp học Trường Chúa Nhật đầu tiên với mục đích giúp ngăn ngừa trẻ em trong những khu phố nghèo sa chân vào cuộc sống tội phạm.[2]
Giáo thuyết
Kinh Thánh được xem là thẩm quyền tối hậu và đáng tin cậy trong đức tin và sống đạo. Những giáo thuyết của cuộc Cải cách Kháng Cách như Duy Kinh Thánh (sola scripture) và Duy Đức Tin (sola fide) được xem là trọng tâm (xem Năm Tín lý Duy nhất). Tính lịch sử của các phép mầu, sự trinh thai, sự đóng đinh, sự phục sinh và sự tái lâm của Chúa Giê-xu được khẳng quyết mặc dù còn có đôi chút khác biệt khi giải thích về ngày tận thế.
Các sử gia và các nhà phê bình thường nêu ra bốn đặc điểm của phong trào Tin Lành:
* Tập chú vào trải nghiệm qui đạo, còn gọi là được cứu rỗi hoặc được tái sinh (Phúc âm Giăng 3: 3, “Nếu một người không được tái sanh, thì không thể thấy Vương quốc của Thiên Chúa”). Do đó, người Tin Lành thường tự nhận mình là tín hữu được tái sinh.
* Kinh Thánh là cội nguồn của thẩm quyền tôn giáo, là sự mặc khải từ Thiên Chúa.
* Quan tâm đến việc truyền bá phúc âm, theo quan điểm của họ, là chia sẻ niềm tin của mình cho người khác - bằng nỗ lực truyền giáo hay bằng cá nhân chứng đạo.
* Tâm điểm đức tin của tín hữu Tin Lành là sự chết của Chúa Cơ Đốc trên thập tự giá để cứu chuộc và tha thứ tội lỗi cho loài người.[7]
Giữa nhiều dị biệt, các tín hữu Tin Lành tìm được sự đồng thuận về bốn xác tín:[8]
* Kinh Thánh là vô ngộ (không sai lầm).
* Sự cứu rỗi đến bởi đức tin đặt vào Chúa Giê-xu, không bởi công đức.
* Chỉ những người đủ hiểu biết (từ bảy tuổi trở lên) mới có thể chấp nhận Chúa Giê-xu và công khai xưng nhận đức tin của mình khi chịu lễ báp têm.
* Mỗi tín hữu Cơ Đốc đều có bổn phận truyền bá phúc âm.
Phát triển
Thế kỷ 19
Có nhiều nhóm khác nhau trong phong trào Tin Lành, một số là nhân tố tích cực trong những phong trào như bãi bỏ chế độ nô lệ, cải thiện lao tù, thiết lập trại mồ côi, xây dựng bệnh viện và thành lập các cơ sở giáo dục.[9]
Năm 1846, tám trăm tín hữu Cơ Đốc đến từ mười quốc gia gặp nhau tại Luân Đôn và thành lập Liên minh Tin Lành (Evangelical Alliance). Họ xem đây là "một sự kiện mới trong lịch sử hội thánh, một tổ chức được thành lập nhằm bày tỏ sự hiệp nhất của các cá nhân đang sinh hoạt trong nhiều giáo hội khác nhau". Dù có đôi chút bất đồng về vấn đề nô lệ, tổ chức này là tác nhân tích cực trong việc hình thành nhiều hội đoàn tin lành cấp quốc gia và khu vực.[10]
Ngày 5 tháng 7 năm 1865, một mục sư Giám Lý, William Booth, thành lập Christian Mission tại Luân Đôn, đến năm 1878, tổ chức này trở thành Cứu Thế Quân (Salvation Army), một tổ chức từ thiện mô phỏng hình thức tổ chức của quân đội, với nhiều đề án xã hội đang được thực hiện tại nhiều nước trên thế giới.
Thế kỷ 20
Liên hiệp Tin Lành Thế giới (World Evangelical Alliance – WEA) được thành lập năm 1951 bởi các tín hữu từ 21 quốc gia, với mục tiêu kiến tạo sự hợp tác toàn cầu cho cộng đồng Tin Lành.
Tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội cũng là một đặc điểm của người Tin Lành hiện đại, họ nhận ra rằng thái độ co cụm để bảo vệ sự tinh tuyền của đức tin và chủ trương thoả hiệp để hội nhập đều không thích hợp, và họ chọn con đường, theo quan điểm của họ, đã được soi sáng trong Kinh Thánh, "ở giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian". Sự lựa chọn này được thể hiện tích cực trong các đề án xoá nạn mù chữ, nhận con nuôi, ngân hàng thực phẩm, các trung tâm chăm sóc trẻ em cũng như các cuộc vận động chống phá thai và chống việc hợp pháp hoá hôn nhân đồng tính.
Nhiều tín hữu Tin Lành thuộc những giáo phái chính lưu (mainstream) tham gia vào các tổ chức đang nỗ lực đem giáo hội trở về với các giá trị căn bản của Cơ Đốc giáo, được thực hành trong thời kỳ hội thánh tiên khởi, được biết đến dưới tên Phong trào Xưng Nhận (Confessing movement). Cùng lúc, Phong trào Chánh Tín (Paleo–Orthodoxy),[11] với mục tiêu tương tự, hoạt động tích cực trong các giáo hội chính lưu, đặc biệt trong các giáo phái Giám Lý, kêu gọi họ trở về với cội nguồn tin lành của mình.
Phong trào Tin Lành khuyến khích tín hữu chuyên cần nghiên cứu Kinh Thánh. Nghi thức thờ phụng của họ thường được tổ chức đơn giản lập nền trên nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước Thiên Chúa.
Bên trong Phong trào Tin Lành vẫn tồn tại những quan điểm khác nhau về Kinh Thánh, giáo nghi và truyền thống giáo hội - một số không quan tâm đến những truyền thống cổ xưa nhưng tập chú vào tính nghệ thuật và sự sáng tạo. Nhưng nhìn chung, tín hữu Tin Lành không tin cậy những định nghĩa về đức tin, thường thay đổi theo những biến thiên của lịch sử, nếu chúng không phù hợp với sự dạy dỗ của Kinh Thánh. Trái với những người quan tâm đến tính hoành tráng của giáo nghi, tín hữu Tin Lành chọn cho mình sự đơn sơ và giản tiện trong giáo nghi nhưng kêu gọi sự tham gia tích cực của tín hữu vào lễ thờ phượng. Trong thờ phượng, tín hữu Tin Lành thường đặt trọng tâm vào sự luận giải Kinh Thánh và tham dự thánh lễ Tiệc Thánh hơn là những chi tiết cầu kỳ của giáo nghi.
Phong trào Nền tảng
Phong trào Nền tảng (Fundamentalism) hình thành vào đầu thế kỷ 20 như một phản ứng có tính bảo thủ bởi những tín hữu Kháng Cách theo truyền thống, nhằm đối kháng với các trào lưu tân phái (modernism) và tự do (liberalism) đang phát triển mạnh mẽ trong các giáo hội của họ. Những trào lưu này nỗ lực thay đổi các xác tín truyền thống của hội thánh sao cho phù hợp với các giá trị mới của một thế giới luôn luôn thay đổi. Vì vậy, dưới cái nhìn của người Nền tảng, những khuynh hướng kể trên là mối đe dọa cho đức tin và xã hội khi họ cố thoả hiệp với tư tưởng của Phong trào Khai sáng (Enlightenment) bằng cách bác bỏ những nguyên lý của cuộc Cải cách Kháng Cách.
Bắt đầu có sự tranh chấp trong vòng các giáo phái Kháng Cách, đặc biệt ở Hoa Kỳ và Canada, giữa các nhóm Nền tảng và Tân phái. Nhiều người Nền tảng rút lui khỏi các giáo phái và các định chế khác chịu ảnh hưởng của tư tưởng tân phái. Những người khác quyết định ở lại và hoạt động bên trong giáo phái của mình để duy trì và phát triển đức tin truyền thống. Những người này tự gọi mình là "Tin Lành Hiện đại".
Phong trào Tin Lành Hiện đại
Trong thập niên 20 và 30 của thế kỷ 20, Phong trào Tin Lành Hiện đại (Neo-Evangelicalism), đến phiên mình, là phản ứng của những người Kháng Cách truyền thống đối với chủ trương biệt lập của phong trào Nền tảng. Năm 1947, Harold Ockenga sử dụng thuật từ "Tin Lành Hiện đại" (Neo-evangelicalism) để phân biệt phong trào này với trào lưu Nền tảng. Lúc ấy có sự bất đồng bên trong phong trào nền tảng về lập trường cần có của hội thánh đối với một thế giới vô tín. Những người Tin Lành khuyến khích tín hữu chọn thái độ tham gia tích cực để góp phần kiến tạo một xã hội tốt đẹp hơn,[12] đồng thời bày tỏ sự quan ngại đối với chủ trương “co cụm để phòng thủ” của các nhóm nền tảng. Theo cách miêu tả của Kenneth Kantzer vào lúc ấy, lập trường nền tảng đã trở thành “một sự phiền toái thay vì là một niềm vinh dự”. [13]
Tín hữu Tin Lành hiện đại xem trào lưu tân phái và tự do trong các giáo hội Kháng Cách là tự chối bỏ xác tín của mình để thoả hiệp với nhân sinh quan và các giá trị của thế gian. Mặt khác, họ cũng cho rằng chủ trương biệt lập và bác bỏ thuyết phúc âm xã hội của người Nền tảng là một thái độ cực đoan. Theo nhận xét của họ, người tân phái là người Tin Lành đã đánh mất cội rễ của đức tin, và người nền tảng là người Tin Lành đã đánh mất lòng nhân ái của Chúa Cơ Đốc. Họ tin rằng phúc âm cần phải được tái khẳng định và tái công bố trong một cung cách mới. Vì vậy, xuất hiện thuật ngữ Neo - mới hoặc được làm cho mới.
Họ tìm cách tham gia vào thế giới hiện đại với thái độ tích cực, không phải để thoả hiệp - vẫn giữ mình khỏi tinh thần thế tục nhưng không tách rời khỏi thế gian – họ chọn con đường trung dung giữa khuynh hướng Tân phái và khuynh hướng Nền tảng.
Ngày nay, với ảnh hưởng rộng lớn trong cộng đồng Kháng Cách, Tin Lành Hiện đại được xem là đồng nghĩa với Phong trào Tin Lành, đại diện cho những tín hữu Cơ Đốc liên kết đức tin của mình với các giá trị truyền thống của hội thánh tiên khởi.
Các tổ chức xuyên giáo phái
Tín hữu Tin Lành, từ các giáo phái khác nhau, thường tìm kiếm sự hợp tác vượt qua ranh giới giáo phái nhằm hỗ trợ cho các nỗ lực truyền giáo và truyền bá phúc âm, lại thường có thái độ e dè đối với các định chế mang tính giáo phái. Kết quả là xuất hiện nhiều tổ chức hoặc hội đoàn, dựa trên giáo hội nhưng không phụ thuộc vào giáo hội, được thành lập với các mục tiêu riêng biệt, được gọi là các tổ chức xuyên giáo phái (parachurch organizations).
Các nhóm này hoạt động đồng bộ (para-) với các giáo hội. Qua nhiều tổ chức khác nhau, một trong những chức năng của họ là đóng vai trò cầu nối giữa giáo hội và nền văn hoá bản địa. Hình mẫu này khởi nguồn từ cuộc Đại Tỉnh thức lần thứ hai trong thế kỷ 19, dần dần được hoàn chỉnh vào hạ bán thế kỷ 20.[2]
Với mô hình các tổ chức không vụ lợi hoặc các hội đoàn tư nhân, hoạt động như một phần của Phong trào Tin Lành mà không nhận sự tài trợ của giáo hội, cũng không dẫm chân vào các lãnh vực truyền thống của giáo hội. Các tổ chức xuyên giáo phái chú trọng vào tính hiệu quả của công việc cũng như tinh thần cộng tác nhằm hoàn thành một số sứ mạng đặc biệt, trên qui mô quốc gia hoặc quốc tế, mà các nhà thờ riêng lẻ không có khả năng thực hiện.
Một số hội đoàn hoặc tổ chức được xem là hình mẫu cho các tổ chức xuyên giáo phái:
* Hiệp hội truyền bá Phúc âm (theo khuôn mẫu của Hiệp hội Billy Graham).
* Các tổ chức truyền bá phúc âm và bồi linh như The Navigators, Campus Crusade for Christ.
* Những nhà xuất bản sách báo và âm nhạc, đài phát thanh, truyền hình, hãng phim và internet.
* Các học viện, trung tâm nghiên cứu, trường trung học và đại học.
* Các nhóm hoạt động chính trị và xã hội.
* Các nhóm tương trợ.
* Các nhóm nghiên cứu Kinh Thánh.
Theo một cuộc khảo sát (Green) thực hiện năm 1992, Phong trào Tin Lành là thành phần đông đảo nhất và năng động nhất trong cộng đồng Cơ Đốc giáo tại Hoa Kỳ và Canada (vượt qua Công giáo La Mã và các nhóm Kháng Cách không Tin Lành khác).
Toàn cầu
Trên toàn cầu, cùng với Phong trào Ngũ Tuần, Tin Lành là phong trào phát triển mạnh nhất và có nhiều ảnh hưởng nhất trong cộng đồng Cơ Đốc giáo. Tốc độ phát triển là đặc biệt nhanh ở châu Phi và Mỹ Latin. Tại những nơi này, phong trào phát triển theo hướng đa dạng vì không phụ thuộc vào các giáo hội tại Âu châu hoặc Bắc Mỹ.
Liên hiệp Tin Lành Thế giới
Liên hiệp Tin Lành Thế giới (World Evangelical Alliance) là một mạng lưới các giáo hội có mặt trên 127 quốc gia, tại mỗi nước đều có liên hiệp Tin Lành cấp quốc gia, với hơn 100 tổ chức quốc tế cùng nhau hội hiệp để lập nên một thiết chế toàn cầu, một tiếng nói và diễn đàn cho hơn 420 triệu tín hữu Tin Lành.[10]
Hoa Kỳ
Nhóm Nghiên cứu Barna[14] chuyên thực hiện các cuộc khảo sát trong cộng đồng Cơ Đốc giáo tại Hoa Kỳ, trong năm 2004 đã phổ biến chín câu hỏi nhằm xác định xem người trả lời có thật sự chấp nhận quan điểm thần học của trào lưu Tin Lành hay không. Bảy trong số các câu hỏi này là:
1. Bạn có phải là tín hữu Cơ Đốc đã được tái sinh?
2. Đức tin là yếu tố rất quan trọng trong cuộc đời bạn?
3. Bạn có tin vào trách nhiệm của mỗi cá nhân phải chia sẻ niềm tin tôn giáo của mình vào Chúa Cơ Đốc với những người không phải tín hữu Cơ Đốc?
4. Bạn có tin vào sự hiện hữu của Satan?
5. Bạn có tin rằng sự cứu rỗi để được hưởng sự sống vĩnh cửu là chỉ có được bởi ân điển, không phải bởi công đức?
6. Bạn có tin Chúa Giê-xu Cơ Đốc không hề phạm tội trong những năm ngài sống trên thế gian?
7. Bạn có tin Thiên Chúa là đấng toàn tri, toàn năng, là thần, là đấng tạo dựng vũ trụ và ngài đang tể trị?[15]
Nhiều người xem đây là những tiêu chí thẩm định đức tin của tín hữu Cơ Đốc thuộc trào lưu Tin Lành.
Theo các cuộc khảo sát của Gallup, năm 1976 có 34% người Mỹ nhận mình là tín hữu Kháng Cách theo khuynh hướng Tin Lành. Tỷ lệ này là 33% trong hai năm 1987 và 1988 (thời điểm bùng nổ những vụ tai tiếng liên quan đến các nhà thuyết giáo Ngũ Tuần). Đến năm 1998 tăng lên 47%. Con số này trong năm 2000 và 2001 lần lượt là 45% và 40%. Dựa trên những kết quả khảo sát kéo dài trong nhiều năm, Gallup ước tính có gần 39% dân số Hoa Kỳ nhận mình là tín hữu Tin Lành.[6]
Chú thích
1. ^ Dictionary.com
2. ^ a b c Larry Eskridge (1995). “Defining Evangelicalism”. Institute for the Study of American Evangelicals. Truy cập 4 tháng 3 năm 2008.
3. ^ Gerstner, John H. (1975). “The Theological Boundaries of Evangelical Faith”, David P. Wells The Evangelicals, John D. Woodbridge, 21–36, Nashville: Abingdon Press. ISBN 0687121817. “Dù có vị trí nổi bật trong Tân Ước, euangellismos - từ nguyên của "Tin Lành" - không được sử dụng rộng rãi cho đến khi xảy ra cuộc Cải cách Kháng Cách. Luther tái khẳng định giáo thuyết của Sứ đồ Phao-lô về euangellismos, xem đó là thông điệp tuyệt đối cần thiết cho sự cứu rỗi. Theo Luther, ánh sáng phúc âm đã bị che giấu dưới chiếc thùng của thẩm quyền giáo hội, truyền thống, và nghi thức. Ý nghĩa thật của thông điệp cứu rỗi là chỉ bởi đức tin mà tội nhân được xưng công chính. Đây là niềm xác tín căn cốt không chỉ cho hội thánh mà cho từng cá nhân tín hữu. Trong lịch sử, Erasmus, Thomas More, và Johannes Eck đã gọi những người chấp nhận giáo thuyết này, với ý nhục mạ, là “người Tin Lành”.”
4. ^ Luo, Michael, “Evangelicals Debate the Meaning of 'Evangelical'”, The New York Times, nytimes.com, 16 tháng 4 năm 2006.
5. ^ Mead, Walter Russell (2006). “God's Country?”. Foreign Affairs. Council on Foreign Relations. Truy cập 27 tháng 3 năm 2008.
6. ^ a b Defining Evangelicalism - Institute for the Study of American Evangelicalism – Wheaton College
7. ^ Bebbington, D. W. (2008). Evangelicals in Modern Britain: A History from the 1730s to the 1980s, London: Unwin, 1.
8. ^ John C. Green (2004). “The American Religious Landscape and Political Attitudes: A Baseline for 2004”. Ray C. Bliss Institute of Applied Politics. Truy cập 20-03-2008.
9. ^ Donald Scott (2000). “Evangelicalism as a Social Movement”. National Humanities Center, Queens College / City University of New York. Truy cập 20-03-2008.
10. ^ a b “The Introduction of World Evangelical Alliance”. World Evangelical Alliance. Truy cập 4 tháng 3 năm 2008.
11. ^ Eric Landstrom. “Thomas Oden's Paleo-Orthodoxy”.
12. ^ Henry, Carl F.H., (1947), The Uneasy Conscience of Modern Fundamentalism; reprinted, (2003), Eerdmans, Grand Rapids
13. ^ Kenneth Kantzer, The Fundamentalist-Evangelical Split retrieved July 2005
14. ^ The Barna Group
15. ^ George Barna (2004). “Evangelical Christians”. Barna Group. Truy cập 20-03-2008.
Đọc thêm!
Thuật ngữ Phong trào Tin Lành (Evangelicalism) thường được dùng để chỉ một trào lưu thuộc cộng đồng Kháng Cách với các đặc điểm: tập chú vào nỗ lực truyền bá phúc âm, trải nghiệm qui đạo, lời chứng về đức tin cá nhân, và có quan điểm truyền thống về Kinh Thánh.[1]
Từ nguyên
Theo ngữ nghĩa, "Tin Lành" ngụ ý bất cứ niềm xác tín nào xưng nhận Chúa Giê-xu là Cứu Chúa. Thuật từ này có nguồn gốc Hi văn evangelion, nghĩa là "phúc âm" hoặc "tin tức tốt lành". Như vậy, tín hữu Tin Lành đồng nghĩa với tín hữu Cơ Đốc, là người đặt niềm tin của mình trên, được thúc đẩy bởi, và sống theo sự dạy dỗ của thông điệp phúc âm được chép trong Tân Ước.
Thuật từ này cũng thể hiện các đặc trưng của niềm xác tín như nhấn mạnh vào thẩm quyền của Kinh Thánh, sự chết và sự sống lại của Chúa Giê-xu, trải nghiệm qui đạo (được xem là đồng nghĩa với kinh nghiệm được tái sinh trong tâm linh), và tích cực truyền bá phúc âm.[2]
Theo cách dùng ở phương Tây, thuật từ Tin Lành thường được dùng như một từ đồng nghĩa với Kháng Cách (Protestantism), để phân biệt với Công giáo Rôma. Martin Luther gọi hội thánh theo khuynh hướng cải cách là evangelische Kirche (Giáo hội Tin Lành) [3]
Dù vậy, trong lịch sử lâu dài của mình, thuật ngữ này mang một số ý nghĩa khác nhau phụ thuộc vào các biến động trong từng thời điểm:
* Tại Âu châu, kể từ Cuộc Cải cách Kháng cách vào thế kỷ 16, các giáo hội Luther được gọi là các giáo hội Tin Lành, để phân biệt với các giáo hội Cải Cách (Reformed) của Huldrych Zwingli, John Calvin và những người theo họ.
* Kể từ thế kỷ 17, bên trong Giáo hội Anh tồn tại hai trào lưu, một trong số đó có khuynh hướng liên kết với cuộc Cải cách, bị gọi cách chế giễu là Thanh giáo, cũng được gọi với một tên khác là Tin Lành.
* Tại Bắc Mỹ, đặc biệt tại Hoa Kỳ, trong các cuộc Đại Tỉnh thức, thuật ngữ này được dùng để chỉ những người ủng hộ các cuộc phục hưng tôn giáo (revivalism).
* Vào cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, thuật từ này còn được dùng để phân biệt họ với một nhóm khác trong cộng đồng Kháng Cách, Phong trào Tự do (Liberalism).
Trong lịch sử đương đại, thuật từ Tin Lành khởi nguồn từ Bắc Mỹ trong những năm đầu thế kỷ 20. Nhiều người xem thần học Tin Lành là sự chọn lựa dung hòa giữa một bên là khuynh hướng Tân phái của các giáo hội chính lưu, bên kia là thần học Nền tảng theo đuổi các lập trường truyền thống.[4] Do đó, Phong trào Tin Lành thường được miêu tả là “khuynh hướng chủ đạo trong cộng đồng Kháng Cách tại Mỹ, chọn lập trường trung dung giữa những người nền tảng và các nhóm tự do.” [5]
Lịch sử
Từ cuối thế kỷ 18, những cuộc phục hưng khởi phát trong vòng các giáo phái khác nhau được gọi chung là Phong trào Tin Lành.
John Wesley được xem là người có ảnh hưởng lớn trong việc hình thành và phát triển phong trào Tin Lành. Khởi phát từ khi Wesley giong ruỗi trên lưng ngựa đi khắp nước Anh để thuyết giáo, phong trào lan truyền sang các khu định cư tại Mỹ, rồi từ đó phát triển đến nhiều nơi trên thế giới, mặc dù Wesley là một mục sư Anh giáo và ông không có ý định tách rời khỏi Anh giáo.
Ngay sau cuộc Cách mạng Mỹ, giáo hội Giám Lý đầu tiên được thành lập năm 1784, sau khi các chức sắc Anh giáo từ chối phong chức cho các mục sư Mỹ. Những nhà lãnh đạo ban đầu gồm có Francis Asbury, người được George Washington gọi là "Giám mục của nước Mỹ", và Thomas Coke, một nhà lãnh đạo trong công cuộc truyền giáo.
Đến thập niên 1820, đức tin Tin Lành lan tỏa trên khắp nước Mỹ và tạo lập ảnh hưởng đáng kể trên tiến trình hình thành các định chế xã hội cho đất nước này. Các khái niệm về truyền bá phúc âm, phục hưng hội thánh, và các nguyên tắc chứng đạo đều mang dấu ấn của các nhà truyền bá phúc âm như Charles G. Finney. Tín hữu Tin Lành cũng đóng góp tích cực cho nỗ lực cải thiện xã hội Mỹ qua các chương trình cải cách như quảng bá tính tiết độ, các giá trị gia đình, phong trào nữ quyền, các hoạt động từ thiện, và phong trào bãi nô.[6]
Đặc điểm của phong trào này là nhấn mạnh vào trải nghiệm qui đạo của mỗi cá nhân, lòng sùng tín và sự chuyên cần nghiên cứu Kinh Thánh. Họ cũng quan tâm đến các vấn đề đạo đức xã hội như sự tiết độ, các giá trị gia đình, và chống chủ trương sở hữu nô lệ. Họ bác bỏ tính hình thức trong thờ phụng và trong thần học, cung cấp cho tín hữu (lay people) và phụ nữ những vai trò quan trọng trong thờ phụng, truyền bá phúc âm, giảng dạy, và lãnh đạo. Họ thường sẵn lòng cộng tác với các giáo phái khác trong công cuộc truyền bá phúc âm.
Những nhân vật quan trọng khác của phong trào Tin Lành là: Jonathan Edwards, nhà thần học và thuyết giảng ngưòi Mỹ; George Whitefield, nhà thuyết giáo Giám Lý người Anh, và Robert Raikes, người khởi xướng lớp học Trường Chúa Nhật đầu tiên với mục đích giúp ngăn ngừa trẻ em trong những khu phố nghèo sa chân vào cuộc sống tội phạm.[2]
Giáo thuyết
Kinh Thánh được xem là thẩm quyền tối hậu và đáng tin cậy trong đức tin và sống đạo. Những giáo thuyết của cuộc Cải cách Kháng Cách như Duy Kinh Thánh (sola scripture) và Duy Đức Tin (sola fide) được xem là trọng tâm (xem Năm Tín lý Duy nhất). Tính lịch sử của các phép mầu, sự trinh thai, sự đóng đinh, sự phục sinh và sự tái lâm của Chúa Giê-xu được khẳng quyết mặc dù còn có đôi chút khác biệt khi giải thích về ngày tận thế.
Các sử gia và các nhà phê bình thường nêu ra bốn đặc điểm của phong trào Tin Lành:
* Tập chú vào trải nghiệm qui đạo, còn gọi là được cứu rỗi hoặc được tái sinh (Phúc âm Giăng 3: 3, “Nếu một người không được tái sanh, thì không thể thấy Vương quốc của Thiên Chúa”). Do đó, người Tin Lành thường tự nhận mình là tín hữu được tái sinh.
* Kinh Thánh là cội nguồn của thẩm quyền tôn giáo, là sự mặc khải từ Thiên Chúa.
* Quan tâm đến việc truyền bá phúc âm, theo quan điểm của họ, là chia sẻ niềm tin của mình cho người khác - bằng nỗ lực truyền giáo hay bằng cá nhân chứng đạo.
* Tâm điểm đức tin của tín hữu Tin Lành là sự chết của Chúa Cơ Đốc trên thập tự giá để cứu chuộc và tha thứ tội lỗi cho loài người.[7]
Giữa nhiều dị biệt, các tín hữu Tin Lành tìm được sự đồng thuận về bốn xác tín:[8]
* Kinh Thánh là vô ngộ (không sai lầm).
* Sự cứu rỗi đến bởi đức tin đặt vào Chúa Giê-xu, không bởi công đức.
* Chỉ những người đủ hiểu biết (từ bảy tuổi trở lên) mới có thể chấp nhận Chúa Giê-xu và công khai xưng nhận đức tin của mình khi chịu lễ báp têm.
* Mỗi tín hữu Cơ Đốc đều có bổn phận truyền bá phúc âm.
Phát triển
Thế kỷ 19
Có nhiều nhóm khác nhau trong phong trào Tin Lành, một số là nhân tố tích cực trong những phong trào như bãi bỏ chế độ nô lệ, cải thiện lao tù, thiết lập trại mồ côi, xây dựng bệnh viện và thành lập các cơ sở giáo dục.[9]
Năm 1846, tám trăm tín hữu Cơ Đốc đến từ mười quốc gia gặp nhau tại Luân Đôn và thành lập Liên minh Tin Lành (Evangelical Alliance). Họ xem đây là "một sự kiện mới trong lịch sử hội thánh, một tổ chức được thành lập nhằm bày tỏ sự hiệp nhất của các cá nhân đang sinh hoạt trong nhiều giáo hội khác nhau". Dù có đôi chút bất đồng về vấn đề nô lệ, tổ chức này là tác nhân tích cực trong việc hình thành nhiều hội đoàn tin lành cấp quốc gia và khu vực.[10]
Ngày 5 tháng 7 năm 1865, một mục sư Giám Lý, William Booth, thành lập Christian Mission tại Luân Đôn, đến năm 1878, tổ chức này trở thành Cứu Thế Quân (Salvation Army), một tổ chức từ thiện mô phỏng hình thức tổ chức của quân đội, với nhiều đề án xã hội đang được thực hiện tại nhiều nước trên thế giới.
Thế kỷ 20
Liên hiệp Tin Lành Thế giới (World Evangelical Alliance – WEA) được thành lập năm 1951 bởi các tín hữu từ 21 quốc gia, với mục tiêu kiến tạo sự hợp tác toàn cầu cho cộng đồng Tin Lành.
Tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội cũng là một đặc điểm của người Tin Lành hiện đại, họ nhận ra rằng thái độ co cụm để bảo vệ sự tinh tuyền của đức tin và chủ trương thoả hiệp để hội nhập đều không thích hợp, và họ chọn con đường, theo quan điểm của họ, đã được soi sáng trong Kinh Thánh, "ở giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian". Sự lựa chọn này được thể hiện tích cực trong các đề án xoá nạn mù chữ, nhận con nuôi, ngân hàng thực phẩm, các trung tâm chăm sóc trẻ em cũng như các cuộc vận động chống phá thai và chống việc hợp pháp hoá hôn nhân đồng tính.
Nhiều tín hữu Tin Lành thuộc những giáo phái chính lưu (mainstream) tham gia vào các tổ chức đang nỗ lực đem giáo hội trở về với các giá trị căn bản của Cơ Đốc giáo, được thực hành trong thời kỳ hội thánh tiên khởi, được biết đến dưới tên Phong trào Xưng Nhận (Confessing movement). Cùng lúc, Phong trào Chánh Tín (Paleo–Orthodoxy),[11] với mục tiêu tương tự, hoạt động tích cực trong các giáo hội chính lưu, đặc biệt trong các giáo phái Giám Lý, kêu gọi họ trở về với cội nguồn tin lành của mình.
Phong trào Tin Lành khuyến khích tín hữu chuyên cần nghiên cứu Kinh Thánh. Nghi thức thờ phụng của họ thường được tổ chức đơn giản lập nền trên nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước Thiên Chúa.
Bên trong Phong trào Tin Lành vẫn tồn tại những quan điểm khác nhau về Kinh Thánh, giáo nghi và truyền thống giáo hội - một số không quan tâm đến những truyền thống cổ xưa nhưng tập chú vào tính nghệ thuật và sự sáng tạo. Nhưng nhìn chung, tín hữu Tin Lành không tin cậy những định nghĩa về đức tin, thường thay đổi theo những biến thiên của lịch sử, nếu chúng không phù hợp với sự dạy dỗ của Kinh Thánh. Trái với những người quan tâm đến tính hoành tráng của giáo nghi, tín hữu Tin Lành chọn cho mình sự đơn sơ và giản tiện trong giáo nghi nhưng kêu gọi sự tham gia tích cực của tín hữu vào lễ thờ phượng. Trong thờ phượng, tín hữu Tin Lành thường đặt trọng tâm vào sự luận giải Kinh Thánh và tham dự thánh lễ Tiệc Thánh hơn là những chi tiết cầu kỳ của giáo nghi.
Phong trào Nền tảng
Phong trào Nền tảng (Fundamentalism) hình thành vào đầu thế kỷ 20 như một phản ứng có tính bảo thủ bởi những tín hữu Kháng Cách theo truyền thống, nhằm đối kháng với các trào lưu tân phái (modernism) và tự do (liberalism) đang phát triển mạnh mẽ trong các giáo hội của họ. Những trào lưu này nỗ lực thay đổi các xác tín truyền thống của hội thánh sao cho phù hợp với các giá trị mới của một thế giới luôn luôn thay đổi. Vì vậy, dưới cái nhìn của người Nền tảng, những khuynh hướng kể trên là mối đe dọa cho đức tin và xã hội khi họ cố thoả hiệp với tư tưởng của Phong trào Khai sáng (Enlightenment) bằng cách bác bỏ những nguyên lý của cuộc Cải cách Kháng Cách.
Bắt đầu có sự tranh chấp trong vòng các giáo phái Kháng Cách, đặc biệt ở Hoa Kỳ và Canada, giữa các nhóm Nền tảng và Tân phái. Nhiều người Nền tảng rút lui khỏi các giáo phái và các định chế khác chịu ảnh hưởng của tư tưởng tân phái. Những người khác quyết định ở lại và hoạt động bên trong giáo phái của mình để duy trì và phát triển đức tin truyền thống. Những người này tự gọi mình là "Tin Lành Hiện đại".
Phong trào Tin Lành Hiện đại
Trong thập niên 20 và 30 của thế kỷ 20, Phong trào Tin Lành Hiện đại (Neo-Evangelicalism), đến phiên mình, là phản ứng của những người Kháng Cách truyền thống đối với chủ trương biệt lập của phong trào Nền tảng. Năm 1947, Harold Ockenga sử dụng thuật từ "Tin Lành Hiện đại" (Neo-evangelicalism) để phân biệt phong trào này với trào lưu Nền tảng. Lúc ấy có sự bất đồng bên trong phong trào nền tảng về lập trường cần có của hội thánh đối với một thế giới vô tín. Những người Tin Lành khuyến khích tín hữu chọn thái độ tham gia tích cực để góp phần kiến tạo một xã hội tốt đẹp hơn,[12] đồng thời bày tỏ sự quan ngại đối với chủ trương “co cụm để phòng thủ” của các nhóm nền tảng. Theo cách miêu tả của Kenneth Kantzer vào lúc ấy, lập trường nền tảng đã trở thành “một sự phiền toái thay vì là một niềm vinh dự”. [13]
Tín hữu Tin Lành hiện đại xem trào lưu tân phái và tự do trong các giáo hội Kháng Cách là tự chối bỏ xác tín của mình để thoả hiệp với nhân sinh quan và các giá trị của thế gian. Mặt khác, họ cũng cho rằng chủ trương biệt lập và bác bỏ thuyết phúc âm xã hội của người Nền tảng là một thái độ cực đoan. Theo nhận xét của họ, người tân phái là người Tin Lành đã đánh mất cội rễ của đức tin, và người nền tảng là người Tin Lành đã đánh mất lòng nhân ái của Chúa Cơ Đốc. Họ tin rằng phúc âm cần phải được tái khẳng định và tái công bố trong một cung cách mới. Vì vậy, xuất hiện thuật ngữ Neo - mới hoặc được làm cho mới.
Họ tìm cách tham gia vào thế giới hiện đại với thái độ tích cực, không phải để thoả hiệp - vẫn giữ mình khỏi tinh thần thế tục nhưng không tách rời khỏi thế gian – họ chọn con đường trung dung giữa khuynh hướng Tân phái và khuynh hướng Nền tảng.
Ngày nay, với ảnh hưởng rộng lớn trong cộng đồng Kháng Cách, Tin Lành Hiện đại được xem là đồng nghĩa với Phong trào Tin Lành, đại diện cho những tín hữu Cơ Đốc liên kết đức tin của mình với các giá trị truyền thống của hội thánh tiên khởi.
Các tổ chức xuyên giáo phái
Tín hữu Tin Lành, từ các giáo phái khác nhau, thường tìm kiếm sự hợp tác vượt qua ranh giới giáo phái nhằm hỗ trợ cho các nỗ lực truyền giáo và truyền bá phúc âm, lại thường có thái độ e dè đối với các định chế mang tính giáo phái. Kết quả là xuất hiện nhiều tổ chức hoặc hội đoàn, dựa trên giáo hội nhưng không phụ thuộc vào giáo hội, được thành lập với các mục tiêu riêng biệt, được gọi là các tổ chức xuyên giáo phái (parachurch organizations).
Các nhóm này hoạt động đồng bộ (para-) với các giáo hội. Qua nhiều tổ chức khác nhau, một trong những chức năng của họ là đóng vai trò cầu nối giữa giáo hội và nền văn hoá bản địa. Hình mẫu này khởi nguồn từ cuộc Đại Tỉnh thức lần thứ hai trong thế kỷ 19, dần dần được hoàn chỉnh vào hạ bán thế kỷ 20.[2]
Với mô hình các tổ chức không vụ lợi hoặc các hội đoàn tư nhân, hoạt động như một phần của Phong trào Tin Lành mà không nhận sự tài trợ của giáo hội, cũng không dẫm chân vào các lãnh vực truyền thống của giáo hội. Các tổ chức xuyên giáo phái chú trọng vào tính hiệu quả của công việc cũng như tinh thần cộng tác nhằm hoàn thành một số sứ mạng đặc biệt, trên qui mô quốc gia hoặc quốc tế, mà các nhà thờ riêng lẻ không có khả năng thực hiện.
Một số hội đoàn hoặc tổ chức được xem là hình mẫu cho các tổ chức xuyên giáo phái:
* Hiệp hội truyền bá Phúc âm (theo khuôn mẫu của Hiệp hội Billy Graham).
* Các tổ chức truyền bá phúc âm và bồi linh như The Navigators, Campus Crusade for Christ.
* Những nhà xuất bản sách báo và âm nhạc, đài phát thanh, truyền hình, hãng phim và internet.
* Các học viện, trung tâm nghiên cứu, trường trung học và đại học.
* Các nhóm hoạt động chính trị và xã hội.
* Các nhóm tương trợ.
* Các nhóm nghiên cứu Kinh Thánh.
Theo một cuộc khảo sát (Green) thực hiện năm 1992, Phong trào Tin Lành là thành phần đông đảo nhất và năng động nhất trong cộng đồng Cơ Đốc giáo tại Hoa Kỳ và Canada (vượt qua Công giáo La Mã và các nhóm Kháng Cách không Tin Lành khác).
Toàn cầu
Trên toàn cầu, cùng với Phong trào Ngũ Tuần, Tin Lành là phong trào phát triển mạnh nhất và có nhiều ảnh hưởng nhất trong cộng đồng Cơ Đốc giáo. Tốc độ phát triển là đặc biệt nhanh ở châu Phi và Mỹ Latin. Tại những nơi này, phong trào phát triển theo hướng đa dạng vì không phụ thuộc vào các giáo hội tại Âu châu hoặc Bắc Mỹ.
Liên hiệp Tin Lành Thế giới
Liên hiệp Tin Lành Thế giới (World Evangelical Alliance) là một mạng lưới các giáo hội có mặt trên 127 quốc gia, tại mỗi nước đều có liên hiệp Tin Lành cấp quốc gia, với hơn 100 tổ chức quốc tế cùng nhau hội hiệp để lập nên một thiết chế toàn cầu, một tiếng nói và diễn đàn cho hơn 420 triệu tín hữu Tin Lành.[10]
Hoa Kỳ
Nhóm Nghiên cứu Barna[14] chuyên thực hiện các cuộc khảo sát trong cộng đồng Cơ Đốc giáo tại Hoa Kỳ, trong năm 2004 đã phổ biến chín câu hỏi nhằm xác định xem người trả lời có thật sự chấp nhận quan điểm thần học của trào lưu Tin Lành hay không. Bảy trong số các câu hỏi này là:
1. Bạn có phải là tín hữu Cơ Đốc đã được tái sinh?
2. Đức tin là yếu tố rất quan trọng trong cuộc đời bạn?
3. Bạn có tin vào trách nhiệm của mỗi cá nhân phải chia sẻ niềm tin tôn giáo của mình vào Chúa Cơ Đốc với những người không phải tín hữu Cơ Đốc?
4. Bạn có tin vào sự hiện hữu của Satan?
5. Bạn có tin rằng sự cứu rỗi để được hưởng sự sống vĩnh cửu là chỉ có được bởi ân điển, không phải bởi công đức?
6. Bạn có tin Chúa Giê-xu Cơ Đốc không hề phạm tội trong những năm ngài sống trên thế gian?
7. Bạn có tin Thiên Chúa là đấng toàn tri, toàn năng, là thần, là đấng tạo dựng vũ trụ và ngài đang tể trị?[15]
Nhiều người xem đây là những tiêu chí thẩm định đức tin của tín hữu Cơ Đốc thuộc trào lưu Tin Lành.
Theo các cuộc khảo sát của Gallup, năm 1976 có 34% người Mỹ nhận mình là tín hữu Kháng Cách theo khuynh hướng Tin Lành. Tỷ lệ này là 33% trong hai năm 1987 và 1988 (thời điểm bùng nổ những vụ tai tiếng liên quan đến các nhà thuyết giáo Ngũ Tuần). Đến năm 1998 tăng lên 47%. Con số này trong năm 2000 và 2001 lần lượt là 45% và 40%. Dựa trên những kết quả khảo sát kéo dài trong nhiều năm, Gallup ước tính có gần 39% dân số Hoa Kỳ nhận mình là tín hữu Tin Lành.[6]
Chú thích
1. ^ Dictionary.com
2. ^ a b c Larry Eskridge (1995). “Defining Evangelicalism”. Institute for the Study of American Evangelicals. Truy cập 4 tháng 3 năm 2008.
3. ^ Gerstner, John H. (1975). “The Theological Boundaries of Evangelical Faith”, David P. Wells The Evangelicals, John D. Woodbridge, 21–36, Nashville: Abingdon Press. ISBN 0687121817. “Dù có vị trí nổi bật trong Tân Ước, euangellismos - từ nguyên của "Tin Lành" - không được sử dụng rộng rãi cho đến khi xảy ra cuộc Cải cách Kháng Cách. Luther tái khẳng định giáo thuyết của Sứ đồ Phao-lô về euangellismos, xem đó là thông điệp tuyệt đối cần thiết cho sự cứu rỗi. Theo Luther, ánh sáng phúc âm đã bị che giấu dưới chiếc thùng của thẩm quyền giáo hội, truyền thống, và nghi thức. Ý nghĩa thật của thông điệp cứu rỗi là chỉ bởi đức tin mà tội nhân được xưng công chính. Đây là niềm xác tín căn cốt không chỉ cho hội thánh mà cho từng cá nhân tín hữu. Trong lịch sử, Erasmus, Thomas More, và Johannes Eck đã gọi những người chấp nhận giáo thuyết này, với ý nhục mạ, là “người Tin Lành”.”
4. ^ Luo, Michael, “Evangelicals Debate the Meaning of 'Evangelical'”, The New York Times, nytimes.com, 16 tháng 4 năm 2006.
5. ^ Mead, Walter Russell (2006). “God's Country?”. Foreign Affairs. Council on Foreign Relations. Truy cập 27 tháng 3 năm 2008.
6. ^ a b Defining Evangelicalism - Institute for the Study of American Evangelicalism – Wheaton College
7. ^ Bebbington, D. W. (2008). Evangelicals in Modern Britain: A History from the 1730s to the 1980s, London: Unwin, 1.
8. ^ John C. Green (2004). “The American Religious Landscape and Political Attitudes: A Baseline for 2004”. Ray C. Bliss Institute of Applied Politics. Truy cập 20-03-2008.
9. ^ Donald Scott (2000). “Evangelicalism as a Social Movement”. National Humanities Center, Queens College / City University of New York. Truy cập 20-03-2008.
10. ^ a b “The Introduction of World Evangelical Alliance”. World Evangelical Alliance. Truy cập 4 tháng 3 năm 2008.
11. ^ Eric Landstrom. “Thomas Oden's Paleo-Orthodoxy”.
12. ^ Henry, Carl F.H., (1947), The Uneasy Conscience of Modern Fundamentalism; reprinted, (2003), Eerdmans, Grand Rapids
13. ^ Kenneth Kantzer, The Fundamentalist-Evangelical Split retrieved July 2005
14. ^ The Barna Group
15. ^ George Barna (2004). “Evangelical Christians”. Barna Group. Truy cập 20-03-2008.
Đọc thêm!
Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2009
Lịch Sử Hội Thánh Tin Lành Việt Nam
I. Giai đoạn tiên khởi.
Tiến sĩ W. M. Turnbull, Phó Hội trưởng Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp đã nói rằng: Bất cứ nơi nào mà việc truyền giáo bị khóa chặt, nghĩa là một nơi chưa được nghe rao giảng Tin Lành của Đấng Christ, thì sẽ thấy giáo sĩ thuộc Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp đến đóng trại trước ngạch cửa để chờ đợi, hễ có cơ hội là bước vào, câu nói đó rất đúng với trường hợp nước Việt Nam. Tại Đông Dương thuộc Pháp, Việt Nam là mục tiêu đầu tiên của Tiến sĩ A. B. Simpson ngay từ khi ông mới sáng lập Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp năm 1897. Các giáo sĩ của Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp ở miền nam Trung Hoa luôn luôn hướng tầm mắt vào Việt Nam.
Năm 1887, Tiến sĩ A. B. Simpson đã viết trong tờ tạp chí "Word and World" như sau: Miền Bán đảo Đông Nam Á đã bị quên lãng từ lâu. Quốc gia Việt Nam cần được soi sáng Tin Lành của Đấng Christ. Tại sao những người phục vụ Cứu Chúa không đặt Việt Nam ngang hàng với Tây Tạng, thiết lập chiến trường thuộc linh mới, hầu tranh thủ nhiều linh hồn tội nhân về với Ngài.
Mùa hè năm 1893, Tiến sĩ David Leclaccheuz, cộng sự viên của Tiến sĩ Simpson đến thăm Sàigòn. Khi trở về, ông đã tường trình và cho biết cánh cửa tại Việt Nam cũng như toàn xứ Đông Dương thuộc Pháp đã mở cho việc giảng Tin Lành. Qua năm sau, Tiến sĩ Simpson cho biết rằng Sudan, Tây Tạng và Việt Nam là ba địa hạt truyền giáo quan trọng chưa được khai thác để qui sự vinh hiển về cho Cứu Chúa.
Tuy nhiên, mãi đến năm 1897 mới chỉ có một giáo sĩ của Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp được phép bước chân vào Đông Dương thuộc Pháp để thăm viếng và chỉ vỏn vẹn thăm viếng mà thôi, không được truyền giáo. Đó là Giáo sĩ C. H. Reeves, từ Long Châu vượt biên giới Hoa Việt vào miền Bắc rồi đến Lạng Sơn. Khi trở về, ông đã phúc trình với Giáo Hội: "Tôi được các sĩ quan và binh sĩ Pháp tiếp đãi rất lịch sự. Họ ở đây rất đông, nơi nào có độ một trăm người dân thì có một đồn lính. Trong suốt thời gian ở miền Bắc, tôi được các binh sĩ Việt Nam và Pháp hộ tống".
Năm 1889, Giáo sĩ R. A. Jaffray tuy là tân Giáo sĩ ở miền nam Trung Hoa, nhưng lại đóng một vai trò rất đắc lực trong việc mở mang rao giảng Tin Lành tại Đông Dương. Giáo sĩ Jaffray cũng vượt biên giới Hoa Việt theo cách của Giáo sĩ Reeves, đi đường thủy theo sông Hồng Hà xuống tận thủ đô Hà Nội. Nhưng ông cũng chưa đặt được điểm tựa nào cho công việc truyền giáo. Năm 1901, ông về nghỉ hạn ở Mỹ, ông tìm gặp ông bà Lylvan Dayan người Gia Nã Đại thuộc Pháp, với hi vọng đề cử ông bà này sang Việt Nam, vì người nói tiếng Pháp vào xứ thuộc Pháp dễ dàng hơn người nói tiếng Anh. Sau đó Hội Truyền giáo sai phái ông bà Dayan qua Việt Nam. Năm 1902, họ vào hải cảng Hải Phòng với kế hoạch nhằm mở một trụ sở giảng Tin Lành tại Bắc kỳ, nhưng vì tình thế chưa thuận tiện, năm sau họ phải trở lại Trung Hoa.
Vào năm 1905, tỉnh Long Châu, thuộc địa hạt Hoa Nam, được dùng làm trung tâm truyền giáo. Họ hi vọng trạm này có thể dùng làm bàn đạp để đưa Tin Lành vượt biên giới Hoa Việt vào miền bắc Việt Nam. Nhưng về sau Hội Truyền Giáo nhận thấy cách nầy chỉ có thể giảng Tin Lành cho những người di cư sang lập nghiệp ở Trung Hoa, chứ không giảng trực tiếp cho dân tộc Việt Nam được. Vả lại người Pháp cũng không thích để Hội Truyền Giáo đi vào cửa sau bằng cách ấy, nên họ đã cho phép giáo sĩ vào một trong các hải cảng lớn ở Việt Nam.
Đến mùa xuân năm 1911, các Giáo sĩ R. A. Jaffay, Paul M. Hosler và G. Lloyd Huglers đến hải cảng Tourane, ở Trung phần Việt Nam. Họ mua được một cơ sở ở góc đường Khải Định, số 66 và đường Nguyễn Hoàng, số 67 để làm trụ sở truyền giáo, đó là trụ sở đầu tiên của hội. Sau khi hoàn tất công tác, họ trở lại Trung Hoa. Giáo sĩ Jaffray không được phép làm giáo sĩ thường xuyên tại Việt Nam, Giáo sĩ Huglers được gọi về Nữu-ước để lảnh nhiệm vụ cao trọng hơn nên chỉ còn Giáo sĩ Hosler trở lại Đông Dương một mình. Ông khởi sự học tiếng Việt và đồng thời bắt đầu giảng Tin Lành. (Trích quyển Bốn mươi sáu năm chức vụ, hồi ký của Mục sư Lê Văn Thái).
II. Sự thành hình của Hội thánh Tin Lành Việt Nam.
Công việc gần như bị ngưng lại khi người Pháp trục xuất 5 trong số 9 giáo sĩ vào cuối năm 1915. Qua năm 1916, Giáo sĩ R. A. Jaffray, đại diện Hội Truyền Giáo vùng nam Trung Hoa và Đông Dương được quan Tổng Đốc Toàn Quyền hứa cho truyền giáo ở Đà Nẵng, Hà Nội, Hải Phòng và ở miền Nam. Với số giáo sĩ khoảng 12 người, Hội Truyền Giáo đã mở các chi nhánh ở Hà Nội (1916) và Hải Phòng (1918) ở miền Bắc; Sài Gòn (1918), Sa Đéc (1922), Châu Đốc (1922), Cần Thơ (1922), Vỉnh Long (1926) và Biên Hòa (1926) ở miền Nam; Phnom Penh (1923) và Battambang (1923) ở Căm-bô-chia.
Sau 16 năm hoạt động, kết quả đầu tiên gặt hái được vào tháng 3 năm 1927: 74 Hội thánh với 4.236 tín đồ rải rác từ miền Bắc, Trung, Nam Việt Nam và Cam-bô-chia đã kết hợp với nhau thành Hội Tin Lành Đông Pháp (Evangelical Church of French Indochina). Vào năm 1936, khi nội quy của Hội thánh được tu chính lần đầu tiên, danh hiệu được thay đổi là Hội Tin Lành Việt Nam Đông Pháp. Sau đệ nhị thế chiến, danh từ Đông Pháp được bỏ đi. Vào năm 1950, theo quyết nghị của Hội Đồng Tổng Liên, danh xưng được đổi lại là Hội Thánh Tin Lành Việt Nam. Cũng nên chú ý rằng ngay từ đầu, các tín hữu Việt Nam với tinh thần tự lập rất cao, thay vì dùng tên chung là Hội Phúc Âm Liên Hiệp như các quốc gia khác, đã dùng danh xưng là Hội Thánh Tin Lành (Evangelical Church).
Bắt đầu từ năm 1924, mỗi năm đều có Hội đồng tại Tourane để khuyến khích, giúp đỡ sự tăng trưởng thuộc linh của các tín đồ và tôi tớ Chúa người Việt Nam. Năm 1927, Hội đồng cũng nhóm họp ở Tourane từ ngày 5 đến ngày 13 tháng 3 với lớp mãn khoá đầu tiên của Trường Kinh Thánh Tourane (Đà Nẵng). Hội đồng này đã quyết định kết hợp các Hội thánh ở miền Bắc, Trung, Nam và Cam-bô-chia như trên. Có 50 đại biểu, trong đó có 4 chấp sự, đại diện cho 7 Hội thánh tự trị tự lập và 60 Hội thánh chi nhánh. Các đại biểu bàn luận việc soạn thảo nội qui, nâng cao cương vị của Giáo hội, tìm cách để chính quyền thừa nhận. Cùng với 70 người tham dự cả nam lẫn nữ, các đại biểu đã dâng một số tiền tổng cộng là 148 đồng 80 xu cho các chi phí của Hội đồng. Hội đồng cũng quyết định kêu gọi các Hội thánh địa phương dâng hiến 5.000 đồng để xây cất cư xá cho các sinh viên và các cơ sở khác của Trường Kinh Thánh Tourane. Ban chấp hành lâm thời, nhiệm kỳ một năm, gồm Mục sư Hoàng Trọng Thừa, Hội trưởng; Mục sư Trần Dỉnh, Phó Hội trưởng, Mục sư Dương Nhữ Tiếp, Thơ ký; Ông Trần Thành Long, Thủ quỷ; và Mục sư Lê Văn Long, hội viên. Hội đồng cũng đề cử một ban để hoạt động chung với Ban truyền giáo của Giáo hội C&MA, ban truyền giáo này gồm có các Giáo sĩ J. D. Olsen, E. F. Irwin, W. C. Cadman, D. I. Jeffrey và I. R. Stebbins (thân phụ của Giáo sĩ Thomas Stebbins, Tôn Thất Bình).
Năm 1928, Hội đồng tái nhóm, chấp thuận một nội qui đầu tiên của Giáo hội với 37 chương và 156 phần. Trong đó Hội dồng chấp thuận nguyên tắc bốn giáo lý (doctrines) biểu hiệu bởi bốn dấu hiệu: Thập tự giá, Chim bồ câu, Bình nước và Mão triều thiên vẫn còn dùng cho đến ngày nay.
III. Sự bắt bớ đạo Tin Lành.
Điều quan ngại nhất của Ban Chấp Hành là việc giao tiếp của Hội Tin Lành Đông Pháp thời ấy với Triều Đình Việt Nam và chính quyền người Pháp. Nhiều cản trở trong hoạt động của các giáo sĩ Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp (C&MA) và sự cấm chỉ giảng đạo trong thập niên 1920 của Triều Đình Việt Nam đã được vua Bảo Đại tiếp tục theo đuổi. Vào ngày 26 tháng giêng năm 1928, Hội Đồng Cơ Mật của nhà vua đã ra chỉ dụ cho các quan địa phương như sau:
"Theo phần thứ 13 của hòa ước năm 1884, chỉ có Giáo Hội Công Giáo mới có quyền giảng đạo ở Việt Nam mà thôi. Các giám mục, linh mục, giáo chức thuộc Giáo Hội Công Giáo La Mã là những người duy nhất được giảng dạy. Chúng tôi được biết gần đây có một tôn giáo mới, cũng như đạo Cao Đài ở miền Nam. Khi những tôn giáo này bành trướng thêm lên, sẽ có nhiều người lợi dụng, tạo các khó khăn trong đất nước và nhiều người có thể bị lường gạt như trường hợp của Võ Trụ và Trần Cao Vân trong năm qua. Những người này lợi dụng danh nghĩa tôn giáo nhưng sự thật họ chỉ xúi giục dân chúng nổi dậy. Biết bao dân lành đã chịu khổ vì họ! Vì vậy từ nay tôn giáo mới và đạo Cao Đài phải bị cấm truyền giảng tại địa phương hay lưu động ở Việt Nam. Nếu ai bất tuân chỉ dụ này, phải trừng phạt người ấy theo như luật định.
Quan Khâm sứ đã đồng ý về vấn đề này. Hội Đồng Cơ Mật truyền chỉ dụ để quý vị rỏ và thi hành.
Huế, ngày thứ tư, tháng thứ nhất, năm thứ ba của Hoàng đế Bảo Đại. Ấn tín của Hội Đồng Cơ Mật."
Sau đó hai tháng, vào tháng ba năm 1928, quan toàn quyền miền bắc gởi cho Giáo sĩ Cadman thông tư như sau: "Tôi được biết Hội Truyền Bá Phúc Âm Liên Hiệp bổ nhiệm ông trong chức vụ truyền giáo ở nhiều thị trấn miền Bắc và nhất là ở Nam Định. Trái với tinh thần hòa ước năm 1874 và năm 1884 giữa chánh phủ Pháp và Hoàng Đế nước Việt Nam, tôi có nhiệm vụ khuyên ông nên sớm chấm dứt sự giảng đạo của ông."
Tuy nhiên những mục sư ở các thành phố miền Bắc không gặp trở ngại vì Hội Đồng Cơ Mật đã nhượng quyền ở miền Bắc trong nhiều năm và hoạt động truyền giáo Tin Lành ở đây lúc này không được mạnh mẽ lắm. Kế hoạch bắt giữ Mục sư Lê Văn Thái ở Hà Nội khi ông đến làng Gia Thượng, tỉnh Bắc Ninh đã thất bại vì ông Lý trưởng được chỉ thị này là một người mới tin Chúa cho nên ông chỉ cho lính ngăn chận buổi nhóm và trục xuất Mục sư Thái khỏi làng. Dầu vậy Mục sư vẫn trở lại những tuần sau để truyền giảng. Việc chánh quyền địa phương miễn cưỡng ra lệnh cấm dân chúng tham dự chỉ làm cho nhiều người tò mò đến càng đông hơn. Vào một ngày Chúa nhật nọ, khi các tín đồ đang nhóm thờ phượng thì một viên chức người Pháp dẫn quân lính và các dân làng võ trang bao vây giáo đường. Sau khi giảng dạy xong, Mục sư Thái và Giáo sĩ Cadman ra chào vị sĩ quan người Pháp, có lẽ ông này đổi ý nên nói rằng ông muốn chắc chắn rằng chỉ có tín đồ tham dự buổi thờ phượng mà thôi và ông ra lệnh cho các dân làng không phải là tín đồ kể cả các người võ trang giải tán.
Ở miền Trung, không những chỉ dụ trên được gởi đến các viên chức địa phương, mà còn được công bố và dán ở các nơi công cộng, chợ búa, các nhà thờ, giảng đường. Ở Nha Trang chẳng hạn, viên Tổng đốc đã ra một chiếu chỉ tương tợ như trên. Mục sư Phan Đình Liệu, đã bị bắt tại Quảng Nam vào năm 1925, lại bị bắt lần thứ hai bởi vị chỉ huy quân sự người Pháp và giải đến quan Toàn quyền. Ông này thả Mục sư Liệu ra và cho ông trở về Nha Trang. Ông bảo đảm với Mục sư Liệu rằng "người Pháp sẽ không bắt bớ đạo Tin Lành". Tuy nhiên Mục sư Liệu đã bị vào tù lần nữa vào mùa hè năm 1928 vì đã cãi lịnh không chịu gỡ bảng hiệu Hội Tin Lành Việt Nam trước giảng đường ở Nha Trang. Khi ông ra Phan Rang để giảng, ông bị bắt giải đến Quan Toàn Quyền và được khuyên nên vô trong Nam để có thể giảng đạo tự do hơn. Trong buổi hiệp nguyện ở Nha Trang Thành (tỉnh Khánh Hòa), Mục sư Liệu lại bị bắt lần thứ tư, sáu tín đồ cũng bị đánh đập và lưu giữ. Họ được thả ra sau khi Mục sư Liệu chấp nhận tất cả trách nhiệm của buổi nhóm. Sau khi giam giữ ông 2 tuần mà không xét xử, quan địa phương ra lệnh trục xuất ông ra Quảng Nam. Sau khi ở Quảng Nam một thời gian ngắn, Mục sư Liệu đi Mỹ Tho để dự Hội Đồng Tổng Liên. Ông không dự được vì khi đến Nha Trang, ông bị bắt vì đã rao giảng Tin Lành, ông bị kết án 6 tháng tù khổ sai. Mục sư Liệu dùng thời gian này để dịch các tài liệu Cơ đốc từ tiếng Tàu và ông đã giúp được 2 người lính và 12 tội nhân trở về cùng Chúa. Ông vào Nam để đi đây đi đó giảng Tin Lành cho đến năm 1935, ông trở lại miền Trung khi việc cấm chỉ này không còn nữa.
Ở Quảng Ngãi, hai nhà truyền giáo trẻ tuổi là Mục sư Ông Văn Huyên và Đặng Ngọc Cầu đã bị bắt ở đảo Lý Sơn giải về quê ở Quảng Nam. Các người này bị kết án 3 tháng tù khổ sai vì đã cãi lệnh Triều đình. Họ được phóng thích sau khi đã đóng nộp tiền phạt. Khi các nhà truyền giáo và các giáo sĩ lưu động bị bắt giam, tín đồ "bị hăm dọa và được lệnh đốt Kinh Thánh". Giáo sĩ Travis ở miền nam Trung phần tường trình rằng nhiều người giấu Kinh Thánh, nhiều người khác yếu đuối hơn đã đốt quyển sách này, một số khác nữa viện lẽ ấy bỏ quyển sách mà họ đã tình cờ mua". Ở miền trung Trung phần, chính quyền vào nhà dân chúng tịch thâu Kinh Thánh, bắt tín đồ phải ký giấy bỏ đạo. Cùng với quý vị mục sư, số tín đồ bị bắt không phải là ít. Ở Tam kỳ, tỉnh Quảng Nam, dầu rằng những người theo đạo bị bắt bớ rất nhiều, ông Lý trưởng đã theo đạo và đã tường trình tốt đẹp về Tin Lành mỗi khi ông được triệu hỏi bởi các quan trên, vì thế đã giúp cho các con cái tôi tớ Chúa tránh nhiều sự bắt bớ.
Chỉ dụ của Hội Đồng Cơ Mật của nhà vua ngày 26 tháng giêng năm 1928 đã gây nhiều khó khăn cho cộng đồng Tin Lành ở Việt Nam và đã tạo tiếng vang ở Pháp. Mục sư Calas của Hội thánh Tin Lành Pháp ở Hà Nội và là đại diện của Hội Kinh Thánh Đông Nam Á đã mạnh dạn phản kháng với chính quyền rằng ông không được thông báo kịp thời về những việc bắt bớ tín đồ, việc cản trở truyền giáo và những sự việc đáng tiếc khác vì không có sự liên lạc giửa các nhà thờ nhỏ ở các địa phương hẻo lánh với ông. Trên thực tế, hầu như không có hợp tác gì giữa hai nhóm Tin Lành người Việt Nam và người Pháp.
Khi Mục sư Lê Văn Thái đến đề lao Khánh Hòa thăm Mục sư Phan Đình Liệu và tặng Mục sư Liệu chiếc lò dầu lửa (rề-sô), bà Giáo sĩ Cadman đứng bên kia đường chụp được tấm hình. Sau đó, bà viết bài tường thuật gởi cho một nghị sĩ ở Quốc hội Pháp và cho đăng hình lên các báo ở ngoại quốc kèm theo tấm hình làm bằng cớ rằng Tin Lành bị bắt bớ, mục sư bị tù đày tại Việt Nam... Nhân dịp Pierre Pasquier, Quan Thống đốc Toàn quyền Pháp mới nhậm chức vào tháng giêng 1929, các vị lãnh đạo Tin Lành Pháp cũng đã lưu ý ông về vấn đề này. Cùng lúc đó, Hiệp Hội Tin Lành Pháp đã tạo áp lực với Quốc Hội đòi hỏi sự tự do tín ngưỡng ở vùng Đông nam Á trong lúc nước Pháp đang có khuynh hướng chính trị không muốn chính quyền can thiệp vào tôn giáo. Mãi đến tháng 12 năm 1929, quan nhiếp chánh của Hoàng đế và Khâm sứ Jabouille đã cùng ký một sắc lệnh rằng:
Các mục sư Tin Lành Pháp không bị hạn chế trong việc thờ phượng và truyền giảng Tin Lành.
Một giấy phép sơ khởi sẽ được cấp cho các hội truyền giáo ngoại quốc thuộc mọi tín ngưỡng, và các hàng giáo phẩm ngoại quốc thuộc mọi tín ngưỡng.
Đơn xin phép sẽ do các đương sự đệ nạp cho Tòa Khâm Sứ và được xét tại cuộc họp của Viện Cơ Mật để đệ trình lên Hoàng Thượng duyệt xét, hay quan Phụ Chánh duyệt xét, nếu Hoàng Thượng còn vị thành niên. Quyết định sẽ được trao cho Tòa Khâm Sứ ban hành.
Trên thực tế, sắc lệnh này cho phép các nhà truyền giáo và người phụ tá địa phương hoạt động ở khu vực mình mà thôi nếu họ được cấp giấy phép. Giấy phép này không phải là dễ xin, nhất là khi đổi đến nơi khác. Một thí dụ điển hình là khi một truyền đạo đến Quảng Ngãi, ông được cấp giấy phép giảng dạy ở đó. Tuy nhiên sau gần một năm, ông phải về trường học tiếp, người thay thế ông là một Mục sư thực thụ đã được tấn phong không được phép giảng dạy, viện lý lẽ là có hoạt động chính trị trong vùng. Ông chỉ được cho phép nhóm họp khi có giáo sĩ ngoại quốc đến mà thôi. Vì không có giáo sĩ ở Quảng Ngãi, giáo sĩ ở Tourane đã phải phụ trách nhiều Hội thánh chung quanh, ông không thể nào di chuyển 120 cây số để đến Quảng Ngãi mỗi Chúa Nhật được. Khi không có Giáo sĩ hiện diện, cảnh sát được phái đến ở trước nhà thờ để được chắc chắn rằng không có sinh hoạt thờ phượng ở đó. Tình trạng được thay đổi khi có một nhân viên ngoại giao cao cấp của Pháp qua đời, gia đình muốn được an táng theo nghi lễ Tin Lành vì ông là người có đạo nhưng không có mục sư trong vùng nên quan Tổng đốc phải đề nghị cho phép một mục sư đến lo việc Hội thánh. Từ đó về sau, chính quyền Việt Pháp địa phương mới dễ dãi cho.
Vào năm 1943, khi Mục sư Nguyễn Xuân Diệm ở Thăng Bình tỉnh Quảng Nam được sự chấp thuận của quan Tổng đốc, được Quan Tổng Đốc Toàn quyền phê chuẩn thuận, lại phải qua sự điều tra của Bộ Nghi Lễ rồi mới được sự chấp thuận của Hoàng Đế. Sau đó các quan địa phương được lần lượt thông báo xuống từ Thủ Tướng, đến thượng thư Bộ Nghi lễ, đến quan Tổng Đốc, rồi mới tới các quận trưởng quận Thăng Bình và Tam Kỳ với chỉ thị phải bí mật theo dõi mục sư và rút giấy phép lại nếu ông mục sư vi phạm các điều luật. Vào năm 1944, Mục sư Diệm xin phép mở nhà thờ chi nhánh ở Tiên Quả và Thượng Thanh quận Tam Kỳ, lần này viên Khâm sứ miền Trung thay mặt chính phủ ký giấy chấp thuận, chuyển xuống Tổng đốc Quảng Nam và Quảng Ngãi để tường với chỉ thị bí mật theo dõi và báo cáo các vi phạm luật lệ. Hệ thống quan liêu để xin giấy phép này được tiếp tục áp dụng cho đến Cách mạng tháng tám năm 1945.
Trên lãnh vực quốc gia, Ban chấp hành Hội Tin Lành Việt Nam đã cố gắng đòi hỏi để được sự chấp nhận của chính phủ như là một giáo hội ngang hàng với Công Giáo nhưng đã thất bại ít nhất 3 lần. Năm 1942, để tỏ thái độ thiện cảm với Hội Thánh Việt Nam sau khi miền nam bị Nhật chiếm, Quan Toàn quyền Jean Decoux gởi một bức thơ cho Muc sư Hội trưởng Lê Đình Tươi nhìn nhận thành phần Ban Quản Trị Tài Sản Hội Thánh Tin Lành Việt Nam. Hội Tin Lành Việt Nam chưa từng được chính quyền Việt hay Pháp thừa nhận như đã thừa nhận Giáo Hội Công Giáo từ năm 1884, tuy vậy những sự bắt bớ đạo Tin Lành không chi so sánh với sự bắt bớ của Công Giáo dưới thời vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức. Những sự thử thách này đã khiến cho cả đạo Công Giáo lẫn Tin Lành thêm vững đức tin, khiến nhiều người biết đến và giúp cho sự bành trướng của tôn giáo thêm mạnh mẽ.
IV. Các khó khăn khác và sự tự trị, tự lập.
Rút tỉa kinh nghiệm ở các nước khác, Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp đã cố gây dựng Hội Thánh Việt Nam để có thể đạt đến tình trạng tự trị tự lập càng sớm càng tốt. Đa số tín đồ Việt Nam là những người bình dân, một số nhỏ là công chức. Năm 1928, chỉ có 10 trong số 80 Hội thánh tự trị tự lập, số này tăng lên gấp đôi vào năm 1930 và gấp bốn lần vào năm 1932. Vào Thế Chiến Thứ Hai, 75% hội thánh đạt đến tự trị tự lập, các mục sư của các hội thánh còn lại được tín đồ trợ cấp rất ít, phải cần sự giúp đở của Hội Truyền Giáo. Vào năm 1942 khi mật vụ của Nhật bắt giam các giáo sĩ ở Mỹ Tho, tất cả các Hội thánh đều tự túc với chương trình tương trợ giữa các hội thánh địa phương và các Địa hạt trong giai đoạn nầy.
Trong Đệ Nhị Thế Chiến, tình hình tài chánh suy giảm, các viên chức Hội Truyền Giáo cho biết là Hội không có khả năng giúp đỡ các hội thánh đang thiếu hụt được, họ khuyên quý mục sư hãy nhờ cậy Chúa trong đức tin, nếu họ muốn, họ có thể đóng cửa nhà thờ và trở về nghề cũ. Tuy nhiên đại diện của Hội Truyền Giáo miền Nam tường trình rằng không một hội thánh nào phải đóng cửa vì có một ngân quỷ trong đó các hội thánh tự lập đã giúp các hội thánh khác đang gặp khó khăn.
Ở miền Bắc, vào năm 1942, có khoảng một ngàn tín đồ đã chịu phép báp-têm, 28 mục sư và truyền đạo với 27 nhà thờ và 30 chi nhánh. Trong đó chỉ có 4 nhà thờ tự lập. Giáo hội đã phải đóng cửa 11 nhà thờ và có thể phải đóng cửa trên 80 % các nơi nhóm họp vì có nhiều người tị nạn từ miền nam Trung quốc khiến ngân quỷ giáo hội bị thiếu hụt. Vào tháng hai năm 1942, Mục sư Lê Văn Thái, Chủ nhiệm Bắc hạt, được mời tham dự kỳ Hội đồng Địa hạt miền Nam tại Cần Thơ thay thế cho Mục sư Hội trưởng Lê Đình Tươi bị bệnh. Ông đã từ chối lời mời vì tình trạng khẩn trương ở đây. Nhưng trong giấc chiêm bao, ông được khải thị về sự yêu thương và tương trợ của các con cái Chúa, ông liền nhận lời. Vào Nam, ông được các tín hữu, tôi tớ Chúa giúp đỡ từ chiếc áo choàng, đôi bông tai, đến đôi giày, đồng hồ, viết máy và tiền mặt... y như điều ông thấy trước trong giấc chiêm bao. Trên đường về Bắc, ông có ghé dự Hội đồng Địa hạt miền Trung và Trường Kinh Thánh Tourane (Đà Nẵng). Nơi nào ông đến, ông cũng được mọi người hết lòng chia xẻ và giúp đỡ. Khi trở về Hà Nội, Mục sư Thái mang bốn va-ly chứa đầy tặng vật. Hội Thánh Hà Nội liền phát động chiến dịch mua lại các tặng vật để gởi trả cho người dâng. Việc nầy đã được tín hữu ở đây và các vùng phụ cận hưởng ứng nhiệt liệt. Các tín hữu tranh nhau mua những món đồ tầm thường với giá rất cao, mong sao hành động của mình xứng với lòng hy sinh tốt đẹp của các tín hữu miền Trung và Nam. Nhờ việc bán đấu giá lạ lùng nầy mà Bắc hạt có đủ tiền để trang trải những nhu cầu cấp bách lúc đó. Vì thế những tín đồ miền Trung và Nam đã dâng hiến đều được các kỷ vật gởi trả lại cho mình. Một Giáo sĩ đã viết lại sự tương trợ của các con cái Chúa trong thời gian này như sau: "Dầu rằng các tín đồ rất nghèo và rất muốn lưu giữ các kỷ vật của mình, vì thế những sự dâng hiến và giúp đỡ này rất đáng phâm phục. Giống như những tín đồ ở Ma-xê-đoan, họ đã tự ý quyên tiền theo sức mình, hoặc cũng quá sức nữa... (II Cô-rinh-tô 8:3)"
Ở miền Trung, Hội thánh đã chịu ảnh hưởng nặng nề nhất trong thời kỳ chiến tranh: có một số nhà thờ phải đóng cửa và nhiều mục sư phải trở lại nghề cũ để lo sinh kế cho gia đình. Nhiều mục sư kiên trì trong chức vụ phải mắc nợ lâu dài và gia đình lâm vào cảnh đói kém.
Trong cuộc thế chiến thứ hai này, các giáo sĩ được lệnh di tản về nước hay qua Phi-luật-tân. Tuy nhiên trong số 74 vị ở vùng Đông Nam Á, có 68 người liều mình ở lại, họ được tòa đại sứ Thụy sĩ giúp đỡ. Nhiều giáo sĩ lợi dụng thời gian bị bắt để soạn các bộ sách rất có giá trị cho chúng ta như quyển Kinh Thánh Tự Điển của Giáo sĩ Cadman, quyển Thần Đạo Học và những sách khác được Giáo sĩ Olsen nhuận chánh. Sau khi lật đổ chính quyền Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945, người Nhật bắt đầu đối xử tàn tệ với các nhà truyền giáo. Giáo sĩ Franklin Grobb là người duy nhất đã qua đời trong lúc bị giam giữ vì họ không cho phép vợ ông mang ông đến bệnh viện phía bên kia đường đối diện trại giam để trị chứng viêm ruột dư và màn bụng cấp tính. Sau khi người Nhật đầu hàng, tất cả các Giáo sĩ đều được trở về nước ngoại trừ ông bà E. F. Irwin, ông bà W. C. Cadman và ông D. I. Jeffrey. Đến tháng 11 năm 1945, chỉ có gia đình Giáo sĩ Cadman ở lại. Sau khi bà về với Chúa vào tháng 4 năm 1946, Giáo sĩ Cadman là giáo sĩ độc nhất tại Việt Nam trong 10 tháng. Ông nói: "Các anh em trong Chúa ở đây đang gặp hiểm nguy, chúng ta không thể bỏ họ đơn cô, chúng tôi quyết định ở lại với họ".
Trong thời gian nạn đói năm 1944-45, có gần 2 triệu đồng bào, đa số ở miền Bắc, phải chết vì không có thực phẩm. Tuy nhiên, không có một tín đồ nào bị chết đói mặc dầu họ rất nghèo và hết lòng cung ứng cho mục sư của họ. Mục sư Thái cho biết trong thời gian này sự dâng hiến (cộng chung với sự giúp đỡ của các anh em miền Trung và miền Nam) cho Địa hạt miền Bắc đã tăng lên gấp 4 lần.
Vì chủ trương không tham gia chính trị của Giáo Hội, nhiều tín đồ đã bị bắt bớ vì sự nghi kỵ của hai bên nhất là trong thời gian chiến tranh. Vào năm 1948, số giáo sĩ ở miền Bắc tăng lên đến 5 người, số nhà giảng, buổi thờ phượng và số người chịu phép báp-têm đều gia tăng. Các hội thánh miền Trung gần trận tuyến phải đóng cửa, mục sư và tín đồ di tản. Các hội thánh còn lại vẫn trung tín hoạt động. Số tín đồ được gia tăng như ở Đà Nẵng, có 67 người gia nhập Hội thánh trong năm 1950. Ở trong Nam, có gần 30 nhà thờ bị đóng cửa, nhiều nơi bị san bằng hay bị chiếm đóng. Nhiều mục sư vì thế phải bị thiếu thốn, nợ nần có khi phải tìm việc khác mưu sinh.
V. Giai đoạn phục hồi và tăng trưởng.
Sau trận chiến ở Điện Biên Phủ và việc ký hiệp định Genève, Việt Nam bị chia ra làm hai miền. Hiến pháp năm 1960 của miền Bắc khẳng định những nhân quyền căn bản của nhân dân như trong hiến pháp năm 1946: "Nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được quyền tự do tín ngưỡng; mọi người đều có quyền theo đạo hoặc không theo đạo". Hiến pháp của miền Nam thừa nhận mọi người đều có quyền tự do tín ngưỡng, hành đạo và theo đạo miễn là sự tự do này không đi ngược lại với luân thường đạo đức.
Giáo hội miền Bắc được đổi tên là "Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Miền Bắc" gồm vài ngàn tín đồ với hai chục hội thánh, 13 mục sư và truyền đạo. Giáo hội miền Nam vẩn giữ danh hiệu Hội Thánh Tin Lành Việt Nam vì trên 90 phần trăm tín hữu ở trong Nam. Vào năm 1962, Địa hạt miền Trung được chia ra làm Bắc Trung phần trụ sở ở Đà Nẵng và Nam Trung phần trụ sở ở Nha Trang. Đến năm 1969 Địa hạt miền Nam được chia ra làm Đông Nam phần với văn phòng ở Sài Gòn và Tây Nam phần ở Vĩnh Long. Năm 1960, Địa hạt Thượng du được thành lập để cung ứng nhu cầu đặc biệt cho đồng bào thiểu số.
Trong kỳ Hội Đồng Tổng Liên năm 1955, mặc dù có một nhóm người tố cáo muốn lật đổ Mục sư Hội trưởng Lê Văn Thái, Hội Đồng cũng đã quyết định những việc quan trọng sau đây:
Hội Đồng chấp thuận liên hợp với những tổ chức truyền giáo đồng chung niềm tin để đẩy mạnh việc truyền giảng trong nước. Cơ quan đầu tiên được tiếp xúc là Hội Cứu Thế Quân (the Salvation Army), sau đó là những cơ quan truyền giáo như: The Navigator (1955), The Overseas Crusades (1956), Hội dịch Kinh Thánh Wycliffe (1957), Cơ Đốc Truyền Giáo Hội hay The Worldwide Evangelization Crusade (1957), Hội Truyền Giáo Mennonite (1957), Giáo Hội Báp-Tít Nam Phương (1959), Hội Ái Hữu Sinh Viên Cơ Đốc (1959), Giáo Hội Đấng Christ (1960), The Scripture Union (1962) và các cơ quan nhỏ khác.
Lần đầu tiên Hội Đồng cứu xét việc bổ nhậm phụ nữ để giảng dạy.
Gởi sinh viên ra hải ngoại để được huấn luyện về thần học hay các ngành chuyên môn khác.
Hội Đồng cũng quyết định đẩy mạnh công tác xã hội đã được đề ra từ năm 1932. Với sự giúp đỡ của nhiều cơ quan, Giáo Hội cũng đã trợ cấp cho nhiều hội thánh xây cất lại. Theo thống kê năm 1971, tổng cộng Giáo Hội có 6 cô nhi viện và một nhà dành cho quả phụ.
Thành lập Đoàn Tuyên úy với Mục sư Tuyên úy Đoàn Mười là vị sĩ quan đầu tiên.
Thành lập trường học cho đồng bào thiểu số và sau này các Hội thánh lớn như Khánh hội, Sài gòn cùng mở các trường trung học, trường Ánh Sáng là trường thành công nhất ở Đà Nẵng dùng cơ sở củ của Trường Kinh Thánh. Sau đó có trường dạy nghề Tuyên Đức.
Vào năm 1957, Hội Đồng cũng quyết định mở một bệnh viện Tin Lành ở Sàigòn. Dự án này không thực hiện được. Tuy vậy Mục sư Phạm Xuân Tín, với sự giúp đỡ của Hội Mennonite, đã mở một Chẩn Y Viện Tin Lành ở Nha Trang vào ngày 9 tháng 7 năm 1961. Sau đó một Trại dưỡng bệnh và một Trường đào tạo y tá được thêm vào. Vào năm 1965, Bệnh viện Tin Lành Pleiku được mở ra với sự tài trợ của Hội Mennonite. Cũng nên biết rằng Trại cùi Tin Lành Ban-mê-thuột đã được thiết lập vào năm 1951, Chẩn Y Viện Đà Lạt đã hoạt động trước đó cũng được bành trướng vào năm 1954. Khi Giáo sĩ Cadman về với Chúa vào ngày 7 tháng 12 năm 1948, ông dâng tất cả di sản của ông cho Hội thánh Tin Lành Việt Nam. Mục sư Lê Văn Thái phải vận động chính phủ giảm miễn thuế trên món tiền này để xây cất Cô nhi viện Hòn Chồng, trên mảnh đất 18 mẫu với sự trợ giúp của Hội Bảo Trợ Nhi Đồng Quốc Tế. Cơ sở này được khánh thành vào ngày 4 tháng 9 năm 1953 với các cô nhi con mục sư, truyền đạo (27 em) và con tín hữu (11 em). Sau đó ông bắt đầu mỡ trường trung tiểu học Bết-lê-hem và trường dạy nghề cũng trong khuôn viên của Cô nhi viện. Cũng nên biết là Giáo sĩ Cadman là một trong những nhà truyền giáo tiên phong ở Việt Nam, ông bà có một người con gái độc nhất qua đời lúc 12 tuổi được an táng ở nghĩa trang thành phố Hà Nội, bà về với Chúa và được an táng ở nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi Saigòn, còn ông thì được Tổng Liên Hội an táng ở nghĩa trang thành phố Đà Lạt, phía dưới mộ bia của ông có đề "Người Trung Tín Cho Đến Chết"
Sau 19 năm phục vụ Giáo hội dưới chức vụ Hội trưởng, qua thời Nhật chiếm đóng, Giáo sĩ bị giam cầm và sự tranh đấu dành độc lập tôn giáo đối với chính quyền miền Bắc và miền Nam nhất là những năm đầu của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Mục sư Lê Văn Thái từ nhiệm vào năm 1960, mặc dù có nhiều đại biểu yêu cầu ông ở lại. Mục sư Ông Văn Huyên cũng xin từ chức sau 30 năm làm Thư ký Giáo hội. Hội Đồng bầu Mục sư Đoàn Văn Miêng vào chức vụ Hội trưởng với sự phụ tá của Mục sư Phạm Xuân Tín.
Để thích ứng cho thời bình với khải thị bành trướng tầm hoạt động, Hội Thánh Tin Lành Việt Nam gia tăng các chương trình huấn luyện để đào tạo mục sư cũng như các người hầu việc khác:
Trường Kinh Thánh Đà Nẵng: Hội thánh Đà Nẵng mở lớp học Kinh Thánh tại tư thất các giáo sĩ mỗi ngày vào giờ nghỉ trưa bắt đầu từ năm 1919. Vào năm 1921, Trường Kinh Thánh Đà Nẵng được thành lập và nơi nầy đã trở thành trung tâm đẩy mạnh việc truyền giáo đến mọi nẻo đường trong xứ cũng như một phần lảnh thổ Cam-bô-chia và Lào. Số sinh viên bị giảm xuống thấp nhất vào niên khóa 1953-1954 với 18 người vì có lệnh động viên. Sau đó nhiều năm, số sinh viên dần dần gia tăng trở lại.
Thánh Kinh Thần Học Viện Nha Trang: Được khánh thành vào tháng 9 năm 1960, trong năm đầu tiên có 85 sinh viên nội trú với 55 truyền đạo. Năm 1961-1962, có đến 110 sinh viên và 55 truyền đạo.
Trường Kinh Thánh Đà-lạt và Ban-mê-thuột: Được thành lập để lo cho việc truyền giáo cho đồng bào thiểu số. Vào giữa thập niên 1950, trường Kinh Thánh Pleiku được mở cho người Jarai, nhưng vì ít người tham dự cho nên các sinh viên được chuyển xuống Ban-mê-thuột để học và nơi này được dùng để huấn luyện cho các Chấp sự Hội thánh.
Thánh Kinh Tiểu Học Đường: Thánh Kinh Tiểu Học Đường (short term bible schools) đã có từ trước nhưng mãi đến năm 1958 mới được thông dụng và tổ chức đều đặn.
Vào năm 1955, Việt Nam có 3 trường Kinh Thánh, con số này tăng lên 6 trường vào năm 1958 , đến năm 1964, có tất cả 9 trường với tổng số sinh viên cao nhất là 214 vào năm 1962.
Năm 1951, Đài Viễn Đông tại Ma-ni-la bắt đầu chương trình phát thanh Tin Lành bằng Việt ngữ, sau đó chính phủ Việt Nam cũng cho phép phát thanh Tin Lành trên các đài địa phương.
Chương trình chứng đạo cá nhân cũng được đẩy mạnh, năm 1955, các chứng đạo viên đã tiếp xúc được trên 93.000 người, có gần 5.000 người cầu nguyện tin Chúa trên toàn quốc. Việc chứng đạo trong các trung tâm cải huấn Phan Rang, Phan Thiết, Chí Hòa, các tỉnh miền Nam và đảo Côn Sơn cũng đã mang nhiều tội nhân trở lại cùng Chúa.
Năm 1959, Giáo sĩ Sutherland thành lập Trung Tâm Thanh Niên Cơ Đốc tại Sài-gòn, sau đó các trung tâm ở Huế, Đà Nẵng, Tuy Hòa, Nha Trang, Biên Hòa, Cần Thơ cũng được mở ra. Thanh niên làm việc chung với các giáo sĩ, mục sư, rao giảng Tin Lành qua việc dạy Anh ngữ, chiếu phim tôn giáo, hội họp, làm chứng... Nhiều mục sư đã dùng thuyền để rao giảng dọc theo sông Cửu Long và các hệ thống sông ngòi miền Nam.
Khi chính phủ khởi xướng các Chương Trình Dinh Điền, nhiều gia đình tín đồ bị định cư cũng lợi dụng cơ hội nầy để làm chứng đạo cho các người định cư khác. Hội thánh cũng tổ chức các buổi truyền giảng tại các trung tâm tị nạn. Nhà in Tin Lành trong lúc nầy cũng nổ lực in các văn phẩm Cơ đốc, truyền đạo đơn, các báo định kỳ như Thánh Kinh Báo (Thánh Kinh Nguyệt San), Đuốc Thiêng và Hừng Đông (Rạng Đông) đã mang đến cho tín đồ mọi nơi thức ăn tinh thần nuôi dưởng đời sống thuộc linh.
Số người cầu nguyện tin Chúa từ năm 1911 đến 1927 là 11.699 người, từ năm 1928 đến năm 1941 có 41.402 người, từ năm 1942 đến năm 1953 có 49.753 người, từ năm 1954 đến năm 1965 có 117.349 người, và từ năm 1966 đến năm 1970 có 69.385 người.
So với các quốc gia khác ở vùng Đông Nam Á, việc truyền giáo được bắt đầu vào năm 1813 ở Miến Điện, năm 1898 tại Phi Luật Tân, năm 1828 tại Thái Lan. Nam Dương và Mã Lai là hai quốc gia được biết đến Tin Lành từ thế kỷ thứ 17: Vào năm 1965, Việt Nam có 1.000.000 tín đồ Công giáo, 120.000 tín đồ Tin Lành (gồm tất cả các hệ phái), trong khi đó ở Cam-bô-chia có 734 tín đồ, Lào có 5.000 người, Thái Lan có 44.000 người, Mã Lai có 104.000 người, Nam Dương có 6.800.000 người, Phi Luật Tân có 1.243.000 người, và Miến Điện có 600.000 người.
VI. Kết luận.
Sau nhiều năm vận động, Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp đã được cho phép mỡ một văn phòng ở Tourane để lo cho việc giảng đạo cho các nước thuộc địa Pháp vùng Đông Nam Á vào năm 1911. Để thỏa mãn nhu cầu học hỏi Kinh Thánh của những người khao khát lời Chúa, Trường Kinh Thánh Tourane được thành lập vào năm 1921. Giáo hội cũng đã bầu ban chấp hành đầu tiên của Tổng Liên Hội và lễ mãn khóa đầu tiên của trường Kinh Thánh Đà Nẵng vào năm 1927. Năm sau, nội quy đầu tiên được chấp thuận làm căn bản cho các Hội thánh địa phương đến cấp trung ương. Các Hội thánh địa phương cố gắng hoạt động để tăng trưởng và trở thành độc lập trong ba bước: tự lập, tự trị và tự bành trướng. Trong khoản thời gian yên ổn tương đối từ năm 1927-1941, Giáo hội đã đạt được sự phát triển nhanh chóng mọi mặt, Hội Thánh Tin Lành Việt Nam được tăng trưởng và càng được tự trị với Hội Truyền Giáo. Giáo hội cũng gởi giáo sĩ lên miền thượng du giảng đạo song song với các giáo sĩ C&MA.
Vào năm 1938, Mục sư Tiến sĩ Tống Thượng Tiết đến viếng Việt Nam và đã gây sự phục hưng trong nước, việc chứng đạo cá nhân được đẩy mạnh cho đến Thế Chiến Thứ Hai. Sự bành trướng của Giáo hội mạnh nhất ở miền Nam. Ở miền Trung dưới quyền của triều đình Việt Nam, hội thánh phát triển trung bình, nhiều tín đồ bị khó khăn và bắt bớ, ngoại trừ vùng tỉnh Quảng Nam đã phát triển mạnh mẽ, cung ứng nhiều mục sư cho toàn quốc. Ở miền Bắc, vì truyền thống gia đình và xã hội, với cùng một số nhân viên và ngân khoản, kết quả ở đây khiêm nhượng nhất.
Trong lúc thế giới được hưởng hòa bình sau khi Nhật và Đức đầu hàng, Việt Nam lại sa vào chiến tranh dành độc lập và sau đó là nội chiến tàn khốc. Nhiều mục sư và hàng trăm tín đồ bị giết, nhiều nhà thờ bị thiêu hủy và hàng ngàn tín đồ khác bị giam cầm. Sự tổn thất do chiến tranh gây ra đã làm nền tảng của giáo hội bị rung chuyển. Dưới sự lãnh đạo khéo léo của Mục sư Hội trưởng Lê Văn Thái, Giáo Hội đã dần dần phục hồi. Số tín đồ dần dần gia tăng bằng số trước Thế Chiến vào năm 1952. Hiệp định Genève năm 1954 trên nguyên tắc chấm dứt chiến tranh nhưng trên thực tế đã đưa đất nước đến những khủng hoảng chính trị, quân sự và kinh tế cho đến ngày nay.
Hương Mai
==================================
Lịch sử Giáo Hội
Cơ Đốc Phục Lâm An Thất Nhật Việt Nam
(1929-1989)
Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm An Thất Nhật Địa Hạt Việt Nam thuộc Liên Hiệp Hội Cơ Đốc Phục Lâm Đông Nam Á, Tổng Hội Viễn Đông của Toàn Cầu Tổng Hội Cơ Đốc Phục Lâm (General Conference of Seventh Day Adventists).
Với lòng kính yêu Chúa và thương xót tội nhơn nhiệt tình, Liên Hiệp Hội Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm An Thất Nhật Nam Hoa, nay là Liên Hiệp Hội Mã Lai, tức Liên Hiệp Hội Đông Nam Á ngày nay, từ năm 1915 đến năm 1927 đã liên tục cử các Thư Báo Truyền Đạo (nhân viên truyền bá giáo lý bằng cách bán, tặng sách đạo). Dương Thượng Thiên người Đài Loan, Tan Kia Ou người Trung Hoa, Giáo sĩ R. N. Milne người Mỹ đã đến các vùng Hải Phòng, Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Lạng Sơn, Sàigòn, Chợ Lớn... để truyền bá Tin Lành Cứu Rỗi. Trong thời gian ấy có một số người ở Sàigòn, Chợ Lớn, chú ý nghe và chấp nhận giáo lý Cơ Đốc Phục Lâm song mãi đến năm 1927, Liên Hiệp Hội Mã Lai (Liên Hiệp Hội Đông Nam Á ngày nay) mới cử hai Giáo sĩ R. H. Wentland và Fred Lloyd Pickett đến truyền giáo, học tiếng Việt và chánh thức mở Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm đầu tiên tại Sàigòn vào đầu tháng 12 năm 1929. Và cũng từ đó lịch sử Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm An Thất Nhật Địa Hạt Việt Nam lại gắn liền với lịch sử của đất nước, qua các cuộc thế thăng trầm suốt 60 năm qua. Lịch sử Hội Thánh có thể được chia làm sáu giai đoạn:
I. Thời kỳ phôi thai (1929-1937):
Trong thời kỳ này, các giáo sĩ nước ngoài cùng các tín đồ đầu tiên của Cơ Đốc Phục Lâm Thành Phố Sàigòn như Julien, Jean Fabre và Trần Ngọc Tế, Lê Văn Được, Bùi Văn Tiến, Nguyễn Văn Nhâm, Sính Văn Cham đã hết lòng lo lắng việc mở mang công việc Chúa.
Sau khi được Thống Đốc Nam Kỳ ký giấy phép cho giảng đạo và phát hành sách chứng đạo tháng 4 năm 1932, các vị Tín Đồ đầu tiên này đã quyên tiền để in sách chứng đạo, tổ chức chiến dịch giảng đạo công cộng và cá nhân.
Kết quả các Hội thánh miền Tây như Cần Thơ, Long Xuyên, Ô Môn; miền Trung như Đà Nẵng, Đại Lộc (QN-ĐN), được thành lập.
Hội thánh ngày một tăng trưởng về số lượng cũng như về đời sống thuộc linh để chuẩn bị cho thời kỳ phát triển đang mở ra cho Giáo Hội.
II. Thời kỳ phát triển (1937-1941):
Để đáp ứng nhu cầu truyền giáo và tự trị địa phương, Liên Hiệp Hội Mã Lai, tức Liên Hiệp Hội Đông Nam Á ngày nay, trong một Hội Đồng Địa Hạt đầu tiên của Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm tại Đà Nẵng vào tháng 3 năm 1937, đã bầu Giáo sĩ F. L. Pickett làm Hội Trưởng, cùng một số giáo sĩ và tín hữu Việt Nam là nhân viên của Giáo Hội, trụ sở đầu tiên tại Đà Nẵng. Vừa thi hành chức vụ trọn năm, thì Giáo sĩ Hội Trưởng Pickett sau một cơn bạo bệnh đã ngủ yên trong Chúa ngày 1 tháng 4 năm 1938, xác được cất trong nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, Sàigòn, nay dời về nghĩa trang Gò Dưa Thủ Đức. Giáo sĩ R. H. Howlett Thư Ký Giáo Hội, lên giữ chức quyền Hội trưởng. Thời kỳ nầy tất cả các Hội thánh ở ba miền Trung, Nam, Bắc đều phát triển mạnh trên các lãnh vực:
Xây cất nhà thờ Vàm Nhon, Đà Nẵng, Đức Mỹ, Đại Lộc (QN-ĐN), Hà Nội, Di Linh;
Mở mang trường học như Vàm Nhon, Long Xuyên, Chợ Lớn, Đà Nẵng (Trường tiểu học Long Xuyên là một trong hai trường được ghi nhận trong quyển niên giám Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm thế giới SDA Yearbook 1939),
Phát triển về y tế ở Cần Thơ, trường Sa Bát và trạm y tế Hội thánh Di Linh, Hà Nội.
Năm 1939, Giáo Hội cũng thành lập ấn quán Thời Triệu để in sách giáo dục và truyền đơn chứng đạo, giai đoạn nầy nhà in còn trong thời kỳ phôi thai, chỉ chú trọng đến việc đúc chữ, làm hộp chữ, đào tạo ấn công như sắp chữ chạy máy in.
Quan trọng nhất trong thời kỳ nầy là đã thành lập được một trường Thánh Kinh Thần Học tại Gia Định, trường thu nhận sinh viên từ ba miền, có 19 khóa sinh tốt nghiệp truyền đạo và được bổ nhiệm vào các chức vụ: Chủ tọa Hội thánh, cán bộ ngành giáo dục, cán bộ ngành in và Thư báo Truyền đạo. Vào cuối thời kỳ nầy, tình hình chính trị đột biến trên toàn bán đảo Đông Dương, Nhựt vào chiếm đóng Sàigòn, vì thế giáo sĩ nước ngoài phải rời Việt Nam, và lịch sử Giáo Hội, cũng như lịch sử Việt Nam, bước vào giai đoạn khó khăn của hiểm họa chiến tranh thế giới lần thứ hai.
III. Thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai (1942-1946):
Đây là thời kỳ khó khăn của Giáo Hội trong nước cũng như Giáo Hội Thế Giới. Vì sự chiếm đóng Việt Nam cũng như Mã Lai và Singapore (là nơi có trụ sở Liên Hiệp Hội Cơ Đốc) của quân đội Nhật Bản, nên các trục lộ giao thông bị cắt đứt, nhiều Chi Hội địa phương mất liên lạc với Hội Sở Trung Ương đặc biệt là các Hội thánh miền Bắc, miền Trung, cao nguyên trung phần, một số nhà thờ bị tàn phá, các mục sư truyền đạo phải tự lo sinh kế. Nhiều Hội thánh mất người chăn, các Hội thánh Lôi Cầu, Hà Nội, Đà Nẵng, Đức Mỹ và Di Linh cũng rơi vào tình trạng đó. Bi đát hơn nữa là hai Hội thánh Mặc Cần Dưng và Long Xuyên bị giải tán.
Trong thời kỳ nầy thành phần lảnh đạo Giáo Hội có sự thay đổi. Mặc dầu Giáo sĩ Robert Bentz (người Pháp) được bầu làm Hội Trưởng, việc điều hành công việc nhà Chúa trong Giáo Hội là do ông Trần Ngọc Tế với chức vụ Giáo Vụ Việt Nam đảm nhiệm.
Sự hoạt động của Giáo Hội hạn chế trong vòng Sàigòn, Chợ Lớn. Hội thánh Chợ Lớn được thành lập, dần dần lan ra miền Trung, Hội thánh Đức Mỹ (QN-ĐN) được tái nhóm họp và Thánh đường được kiến thiết. Rồi đến miền Bắc, Hội thánh Lôi Cầu, Hà Nội được tái nhóm và xây dựng nhà thờ.
Giáo Hội đặt trọng tâm vào việc huấn luyện cán bộ truyền giáo, trường Kinh Thánh tái hoạt động, và việc xuất bản sách báo cho Thư Báo Truyền Đạo. Tổ chức y tế của Giáo Hội trong thời kỳ nầy (Bảo Sanh viện Kiện Khương) cùng với Hội thánh Hoa Kiều Chợ Lớn đã đóng một vai trò quan trọng trong sự cung cấp tài chánh cho Giáo Hội.
IV. Thời kỳ chiến tranh giành độc lập (1946-1954):
Trong suốt thời kỳ chiến tranh chống Pháp, Giáo Hội chú trọng đến việc củng cố tổ chức nội bộ và tạo mãi một số bất động sản để làm trụ sở.
Tại Sàigòn, Giáo Hội mua biệt thự hai tầng ở ngã tư Phú Nhuận (góc đường Phan Đăng Lưu - Phan Đình Phùng bây giờ) làm tư thất Hội Trưởng và văn phòng Trung Ương Giáo Hội, cơ sở nầy sử dụng đến ngày hôm nay.
Ngoài ra Giáo Hội còn khởi công xây cất nhà thờ Phú Nhuận làm nhà thờ chính tiện việc nhóm lại của con cái Chúa trong vùng. Thời Triệu Ấn Quán cũng được xây cất để thích hợp cho việc in các ấn phẩm cần đến trong chương trình Thư Báo Truyền Đạo. Giáo Hội còn mua đất làm nhà thờ cho các nơi như Đà Lạt, Bàn Cờ, Hội thánh người thiểu số ở Đà Lạt, Hội thánh Đa Kao, Bàn Cờ, Sàigòn, thời gian nầy nhà thờ Đà Nẵng cũng được trùng tu một cách khang trang.
Những công tác giáo dục, Thánh Kinh hàm thụ, chương trình phát thanh Tiếng Nói Hy Vọng, được xúc tiến trong thời kỳ nầy.
V. Giai đoạn đất nước phân qua (1954-1975):
Sau khi đất nước phân qua, Hội thánh hai miền bị cô lập với nhau không thể liên lạc được. Cơ quan Trung Ương đặt tại Giáo Hội miền Nam nên miền Bắc không thể giao tiếp. Liên Hiệp Hội Đông Nam Á chính thức đặt tên cho Giáo Hội miền Nam là Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm An Thất Nhật Việt Nam. Thời gian nầy Giáo Hội có thể truyền giáo trên toàn lãnh thổ miền Nam.
Giáo Hội lo trùng tu các nhà thờ, trường học, cơ quan y tế, từ thiện đã bị đổ nát trong chiến tranh như những nhà thờ Đức Mỹ (Đại Lộc QN - ĐN), Trung Đạo (QN- ĐN), nhà thờ và trường học Vàm Nhon, kiến thiết các cơ sở:
Nhà thờ và trường học Cần Thơ, Thủ Đức
Nhà thờ Biên Hòa
Trường học Đà Lạt, Đà Nẵng (và tư thất hiệu trưởng), Phú Hòa, Hòa Duân
Nhà thờ và trường học Tiêng Liêng, Đam-rông, Rơ Chai, Darahoa, Đa-me, Kambuotte, Tam Kỳ, Sơn Chà, Trung Đạo (QN - ĐN),
Nhà thờ Quảng Ngải, Hoa Cường, Phú Hòa và tư thất mục sư
Trung tâm huấn luyện Cơ Đốc gồm có: Trường Thần Đạo Cơ Đốc, trường tiểu học Cơ Đốc, cơ sở nội trú, tư thất giáo chức, tư thất giám thị, trường điều dưỡng.
Bệnh viện Cơ Đốc và cư ốc cho nhân viên y tế (Sàigòn)
Tu sửa và trang bị máy móc tối tân cho nhà in Thời Triệu.
Phát thanh trong giai đoạn nầy là một phương tiện truyền bá niềm tin phúc âm duy nhất cho đồng bào miền Bắc, và góp phần xây dựng đời sống đức tin cho tín đồ miền Nam. Chương trình Tiếng Nói Hy Vọng phần Việt Ngữ phát thanh mỗi tuần một lần trên bốn đài Đà Lạt, Sàigòn, Nha Trang và Huế. Đầu thập niên 1960, mười đài trên toàn quốc phát thanh chương trình Tiếng Nói Hy Vọng hằng tuần, đây là chương trình được thính giả mến chuộng nhất trong các chương trình phát thanh tôn giáo.
Trường Sa Bát nhánh được tận dụng như một phương tiện truyền giáo hữu hiệu với sự tham gia tích cực của nhân viên các ngành và hàng giáo hữu. Riêng ở Sàigòn và vùng ngoại ô, có lúc có 20 trường Sa Bát nhánh được điều hành cùng một lúc. Một trường Sa Bát nhánh độc đáo nhất, khổng lồ nhất thế giới là trường Sa Bát nhánh tại làng cô nhi Phật Giáo Long Thành (Đồng Nai), học viên là 1.000 trẻ mồ côi với tăng nhi trong làng.
Chương trình nuôi cô nhi trong nhà cũng được phát động từ đầu năm 1970 do tổ chức từ thiện tư nhân tín đồ Cơ Đốc Phục Lâm Úc Châu tài trợ. Đây là chương trình bảo trợ những cô nhi còn cha hoặc mẹ, hoặc ông bà chú bác, hoặc thân nhân ruột thịt bằng lòng nuôi dưỡng trẻ mồ côi tại nhà, tiền nuôi dưỡng được giao cho thân nhân để để cấp dưỡng cô nhi. Các em thường được khuyến khích đi học ở các trường của Giáo Hội trong địa phương và được cấp thêm học bổng để sung vào tiền trợ cấp hằng tháng. Trẻ cô nhi và người nuôi dưỡng thường được mời tham gia trường Sa Bát nhánh gần nhà. Mục sư, truyền đạo chủ tọa các Hội thánh thường được mời làm đại diện chương trình tại địa phương. Có khoảng 400 cô nhi được bảo trợ trong chương trình nầy.
Các đoàn bố đạo trung ương và địa phương hoạt động rất tích cực, không hề nghỉ ngơi. Họ đi xe, đi bộ, đi ghe trên các sông rạch vào thành phố, các làng mạc nông thôn, các vùng cao nguyên hẻo lánh để truyền bá phúc âm, gây dựng Hội thánh. Đoàn Thư Báo Truyền Đạo được các nhà hảo tâm nước ngoài giúp năm chiếc thuyền để len lỏi trên các sông rạch chằng chịt miền Hậu Giang để phân phát sách báo chứng đạo do nhà in Thời Triệu xuất bản. Lực lượng Thư Báo Truyền Đạo nầy được đánh giá là lực lượng Thư Báo hùng hậu nhất trong Liên Hiệp Hội Đông Nam Á, vì tổng số nhân viên lên đến 104 người, hoạt động liên tục không hề mệt mỏi trên khắp nọi nơi.
Trường Thánh Kinh ngày một lớn mạnh, số lượng chiêu sinh mỗi năm một tăng, trong suốt thời kỳ nầy trường liên tục mở khóa dạy. Nhiều Mục sinh tốt nghiệp, được cử về chủ tọa các Hội thánh, giữ các bộ phận chuyên môn ở văn phòng địa hạt, ngành giáo dục, ngành y tế và phần lớn là sung vào Đoàn Thư Báo Truyền Đạo của Giáo Hội. Ngoài Thánh Kinh Thần Học Viện, Giáo Hội còn mở trường trung tiểu học ở những nơi có các Hội thánh hoạt động để hổ trợ chương trình truyền giáo cho các Hội thánh ấy. Ngoài hai trường trung học Cơ Đốc Sàigòn và chi nhánh Đại Học Đường Đông Nam Á, toàn thể Hội thánh trong Giáo Hội có 18 trường trung tiểu học được Bộ Quốc Gia Giáo Dục cho phép hoạt động như sau: Trường Chợ Lớn, Vàm Nhon, Đà Nẵng Cần Thơ, Tam Kỳ, Phú Hòa, Đà Lạt, Vĩng Bình, Sơn Chà (QN-ĐN), Thủ Đức (78/8 xã Phước bình), Đại Lộc (Hòa Duân-QNĐN), Rơ Chai, Darahoa, Đa-me, Đam-rông, Pang Tang, Tiêng Liêng, Kamboutte.
Giai đoạn nầy kéo dài hai thập niên, dài nhất trong các thời kỳ lịch sử của Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm Việt Nam và cũng là giai đoạn cực thịnh của Giáo Hội nhờ những điều kiện tương đối thuận lợi trong việc đi lại và rao giảng.
Khi đất nước phân đôi vào năm 1954, miền Nam chỉ có 4 Hội thánh là Phú Nhuận, Chợ Lớn, Đà Lạt và Đà Nẵng. Đến năm 1975, Giáo Hội miền Nam đã có 43 Hội thánh nhóm họp để thờ phượng Đức Chúa Trời: Đà Nẵng, Đại Lộc Đức Mỹ, Trung Đạo Đại Lộc, Quảng Huế Đại Lộc, Hòa Duân Đại Lộc, Phú Hoà, Sơn Chà, Hòa Cường, Hòa Khánh, Tam Kỳ thuộc tỉnh QN-ĐN. Quảng Ngải, Qui Nhơn, Nha Trang (1973), Đà Lạt, Ea-Yong B Đarlac, Đang Cang Đarlac, Ea-Kar Đarlac, Biên Hòa, Chợ Đệm, Cần Thơ, Vàm Nhon, Lạc Thiện Đắc Lắc, Pang Tang Đắc Lắc, Đam-rông Lâm Đồng, Krông Bach, Darohoa Lâm Đồng, Tiêng Liêng Lâm Đồng, Krong Lanh, Đa-me Lâm Đồng, Rơ Chai Lâm Đồng, Kamboutte Lâm Đồng, Kadeun, Bobla, Sré Bor. Phú Nhuận, Cách Mạng Đất Mới, Chợ Lớn, Thủ Đức, Sa Đéc, Vĩnh Bình, Gò Công, Tu Tra Đơn Dương, Long Thành (30-8-1991).
VI. Giai Đoạn thống nhất đất nước (1975-1991):
Năm 1975, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa hoàn toàn sụp đổ, đất nước được thống nhất. Một số mục sư trong hàng ngũ lãnh đạo đã cùng làn sóng người di tản khỏi Việt Nam để lại nhiều khó khăn cho Hội thánh và Giáo Hội. Để đáp ứng nhu cầu mới, ngày 25-4-1975, Ban Quản Trị Giáo Hội Việt Nam tổ chức Đại Hội Đại Biểu Giáo Dân toàn miền Nam để bầu bổ sung vào các chức viên của Ban Trị Sự, để làm việc cho đến đầu năm 1976.
Đại Hội Đồng Đại Biểu chính thức theo quy định củ Giáo Hội được triệu tập tổ chức ngày 10-1-1976, tại nhà thờ Phú Nhuận. Trong Hội Đồng nầy nhiều biểu quyết đã được thông qua trong đó có những điểm chính như sau:
Bổ nhiệm mục sư về chủ tọa các Hội thánh đang thiếu người chăn
Liên hệ với chính quyền địa phương có nhà thờ hiện chính quyền, các cơ quan, đoàn thể đang sử dụng vào công việc sớm bàn giao lại Hội thánh để có nơi con cái Chúa nhóm họp
Xin chính quyền và vận động ngân quỹ để trùng tu các nhà thờ bị tàn phá vừa qua trong cả nước
Gởi văn thư xin chính quyền cho phép Giáo Hội hoạt động tôn giáo trên toàn quốc
Hội thánh nào chưa bổ dụng được chủ tọa thì trưởng lảo và Ban Trị Sự Hội thánh đó tạm thời điều hành công việc nhóm họp và dạy lẽ đạo
Bầu Ban Trị Sự mới.
Từ 1976 đến 1991, Giáo Hội hoạt động trong phạm vi miền Nam, chưa có thể ra thăm chính thức các Hội thánh miền Bắc để có thể có một Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm thống nhất.
Các Hội thánh hoạt động riêng lẻ, chưa có thể tổ chức Hội Đồng hay họp bàn từng khu vực. Có nhiều Hội thánh vẫn sinh hoạt với một chương trình đầy đủ với Ban trường Sa Bát, Ban Chứng Đạo, Ban Từ thiện, Gia đình trẻ. Trong lúc ấy nhiều Hội thánh vì nhà thờ chưa có (dự định xây cất chưa được thực hiện thì giải phóng), hoặc hư hỏng chưa được trùng tu, hoặc các cơ quan chính quyền địa phương mượn làm kho, nhà trẻ, văn phòng hợp tác xã chưa trả lại nên phải nhóm ở các nhà riêng tín hữu. Chương trình nhóm họp gồm hát Thánh Ca Tôn Vinh Chúa, học lời Chúa qua sự làm chứng của các trưởng lão hay chức viên của Ban Trị Sự.
Giáo Hội hy vọng một ngày gần đây được chính quyền cho phép các nhà thờ được xây cất, trùng tu để Giáo Hữu có nơi nhóm lại Thờ Phượng Đức Chúa Trời cho thỏa lòng ước mong như Hội thánh Sa Đéc đã được chính quyền cho phép sinh hoạt lại ngày 31-1-1989, Hội thánh Cần Thơ, Vàm Nhon được mở cửa 1989, và một địa điểm mới nhất là Hội thánh Long Thành (xã Phước Thái) Đồng Nai, được giấy phép Ban Tôn Giáo Đồng Nai ngày 30-8-1991 cho nhóm lại.
Tài liệu Hội Thánh
=================================
Sơ Lược Lịch Sử Truyền Giáo Của
Giáo Hội Báp Tít Nam Phương Tại Miền Nam Việt Nam
Từ Năm 1959 Đến Năm 1975
Các giáo sĩ Báp-tít Nam Phương đến Việt Nam truyền giáo từ năm 1959 đến năm 1975. Gia đình giáo sĩ đầu tiên đến Việt Nam học ngôn ngữ, tập quán, phong tục để có thể truyền giáo cho người Việt Nam là gia đình ông bà giáo sĩ Herman Hayes. Kế đến là các ông bà giáo sĩ William Roberson, Samuel Longbottom, Lewis Myers, Samuel James, Robert Davis, Ron Merrell, Earl Beengs, Peyton Moore, Robert Compher, Walter Routh, Jim Gayle, James Kellum, Joe Turman, David Wigger, Gene Tunnell, Ken Goad. Ông bà Jim Humphries đến Việt Nam hầu việc Chúa trong tư cách tuyên úy. Ngoài ra, còn có nhiều thanh niên, thiếu nữ độc thân đến để hổ trợ cho công tác truyền giáo với nhiệm kỳ hai năm trong đó có David Lincohnhocker, George Pickle, Mary Kay Johnson, Rosalie Beck, Karen Russey Gross.
Các giáo sĩ cùng với gia đình đến Việt Nam truyền giáo để chu toàn mạnh lịnh của Chúa trong Ma-thi-ơ 28:18-20 Đức Chúa Jêsus đến gần, phán cùng môn đồ như vầy: Hết cả quyền phép ở trên trời và dưới đất đã giao cho ta. Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhơn danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp-têm cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế.
Những hội thánh được thành lập bao gồm Hội Thánh Ân Điển, Hội Thánh Bình An tại Sài Gòn, Hội Thánh Đức Tin, Chi Hội Hàng Xanh tại Gia Định, Hội Thánh Phú Thọ Hòa, Hội Thánh Bình Tiên tại Chợ Lớn. Tại Miền Trung, ngay tại Đà Nẵng có Hội Thánh Hy Vọng với nơi nhóm lại thật khang trang và cách tổ chức rất qui củ. Công việc Chúa tại nơi này phần lớn do Ông Bà Giáo Sĩ Lewis Myers gầy dựng với các tín hữu đầy lòng sốt sắng, nhiệt thành. Tại Quảng Ngãi có nhiều nhóm tín hữu nhóm lại dưới sự hướng dẫn và huấn luyện của Ông Bà Giáo Sĩ Walter Routh. Tại Huế Ông Bà Giáo Sĩ Robert Davis thành lập được một hội thánh ngay tại thành nội với sự nhóm lại rất trang nghiêm. Qui Nhơn là nơi Ông Bà Giáo Sĩ Robert Compher hầu việc Chúa. Hội Thánh nơi này có nơi nhóm lại rất tốt do Ông Bà Giáo Sĩ Robert Compher cùng các tuyên úy và các tín hữu Việt Nam góp công xây cất. Hội Thánh tại Nha Trang do Mục Su Nguyễn Xuân Cảnh đảm nhiệm với sự hỗ trợ của các giáo sĩ. Chi Hội ở Phước Hải là địa điểm truyền giáo khá gần Nha Trang. Ông Bà Giáo Sĩ Jim Gayles đến hầu việc Chúa tại Cam Ranh. Tại đây có Giáo Sư Nguyễn Xuân Hà nguyên là Thanh Tra Trung học Cam Ranh và là người lãnh đạo đầy khả năng. Dưới sự hướng dẫn của ông và sự hỗ trợ của các giáo sĩ và các tuyên úy, một Cô Nhi Viện được thành lập. Vào cuối Tháng Tư năm 1975, các em cô nhi tại Cô Nhi Viện này được đưa vào Miền Nam và sau đó được đưa sang Hoa Kỳ. Tại Đà Lạt có Hội Thánh Đức Tin được thành lập với một số gia đình tín hữu. Đây là nơi các giáo sĩ được đưa đến để học Việt Ngữ trước khi đảm nhận nhiệm sở. Tại Cần Thơ Ông Bà Giáo Sĩ Herman Hayes là người đã gầy dựng và tiếp tục truyền giáo cho đến khi phải rời khỏi Việt Nam. Vào năm 1969 có một chương trình truyền giảng được phát động từ những nơi được kể đến trên đây. Số người tin Chúa qua chương trình truyền giảng này tuy ít như chính chương trình này đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong công tác truyền giáo của Giáo Hội Báp Tít Nam Phương.
Trụ sở của Cơ Quan Truyền Giáo tọa lạc tại 111 Chi Lăng, Phú Nhuận. Trong 5 năm đầu thập niên 1970, trụ sở này là văn phòng trung ương của Hội Truyền Giáo. Phần trong cùng của cơ sở được dùng làm nơi cư ngụ cho hai gia đình giáo sĩ. Phần trước là Phòng Sách gắn liền với Cơ Quan Tu Thư Và Ấn Loát do Giáo Sĩ William Roberson làm Giám Đốc. Cùng làm việc với ông có Ông Lê Văn Hòa đặc trách về tu thư và Ông Trịnh Ngọc Thanh đặc trách về ấn loát cùng các nhân viên khác.
Công tác xã hội do Tiến Sĩ Gene V. Tunnell hướng dẫn. Công tác y tế do Bà Giáo Sĩ Rachel James đảm trách. Từ những xe y tế lưu động nhiều bệnh nhân được chẩn bệnh và phát thuốc miễn phí. Chương trình Học Kinh Thánh Hàm Thụ Và Phát Thanh do Giáo Sĩ Peyton Moore chuẩn bị với sự cọng tác của Mục Sư Đỗ Văn Dũng.
Viện Thần Học Báp-tít Việt Nam được thành lập ở Thủ Đức và sau đó được dời về 33-B Nguyễn Văn Trương, Gia Định. Người đã gầy dựng, chăm sóc và mang hết tâm tình, năng lực phục vụ trong tư cách Viện Trưởng từ thuở ban đầu cho đến khi Viện Thần Học phải đóng cửa làTiến Sĩ Samuel James. Giáo ban của Viện Thần Học gồm các giáo sĩ trong nước cũng như ngoài nước. Tiến Sĩ Leo Crisman là người đã tận tụy gầy dựng một thư viện trên 3,000 cuốn sách rất giá trị. Những người đã hoàn tất học trình cử nhân thần học của Viện Thần Học Báp-tít Việt Nam là các mục sư Lê Quốc Chánh, Đỗ Vĩnh Thành, Trương Văn Hy, Đào Văn Chinh, Đỗ Văn Dũng và Dư Kiện Sanh. Song song với việc đào tạo người hầu việc Chúa trong học trình cử nhân thần học, Viện Thần Học còn có chương trình huấn luyện nữ giáo viên. Chương trình huấn luyện này do Cô Olive Allen và các bà giáo sĩ đảm trách. Từ đầu năm 1974 đến tháng 4 năm 1975 Viện Thần Học còn phát triển chương trình huấn luyện cho các lãnh đạo được những hội thánh quanh vùng cử đến tham dự. Trong khoảng đầu năm 1975 Mục Sư Đào Văn Chinh là người đảm nhận chức vụ Xử Lý Thường Vụ Viện Trưởng Viện Thần Học Báp Tít Việt Nam cho đến khi cơ sở của viện phải trao cho tân chánh quyền.
Mục sư Đào Văn Chinh
========================
Lịch sử Hội Truyền Giáo Tin Lành Mennonite tại Việt Nam.
Hội Truyền Giáo Tin Lành Mennonite tại Việt Nam bắt đầu hoạt động vào năm 1957 khi ông bà Giáo sĩ James và Arlene Stauffer đến Sàigòn dưới sự bảo trợ của Hội Đồng Mennonite tại Lancaster, Pennylvania. Ông bà làm việc dưới Đoàn Truyền Giáo và Xã Hội Mennonite Đông Phương (Eastern Mennonite Board of Missions and Charities). Sau nhiều năm hoạt động, đến năm 1961, có nhiều tín đồ được làm phép báp-têm. Một Trung Tâm Sinh Viên của Hội Mennonite được tạo mãi ở đối diện với Bệnh Viện Bình Dân, Sàigòn. Trung Tâm nầy được dùng cho tín đồ họp mặt, thông công. Tại đây cũng có một phòng đọc sách, thư viện và các lớp dạy anh ngữ đã được tổ chức để giúp đỡ các sinh viên học sinh.
Sau đó, các hoạt động truyền giáo được mở rộng ra đến Gia Định (1964), Cần Thơ (1970), và hai trung tâm khác ở Sàigòn được thành lập. Hội Thánh đầu tiên được thành lập là Hội Thánh Gia Định, nay là quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh. Hội Thánh Gia Định, qua các hoạt động y tế, xã hội, giáo dục đã giúp đỡ dân chúng trong vùng một cách đắc lực. Sau Tết Mậu Thân, Hội Truyền Giáo đã giúp đỡ hằng trăm gia đình sửa chửa, xây lại nhà cửa. Vào tháng 3 năm 1969, Mục sư Trần Xuân Quang được phong chức, ngôi nhà thờ mới được xây dựng và dâng hiến vào năm 1973, trong đó có Trường Tiểu Học Rạng Đông. Nhiều tín đồ hoạt động mạnh trong việc truyền giáo và xã hội giúp đỡ đồng bào địa phương.
Vào năm 1964, chính phủ thừa nhận Hội Truyền Giáo Tin Lành Mennonite. Đến năm 1973, các Hội Thánh họp với nhau và thành lập Giáo Hội Tin Lành, hệ phái Mê-nô-nít. Giáo Hội Tin Lành Mê-nô-nít được tự trị, không lệ thuộc vào Hội Truyền Giáo lúc đó.
Sau khi đất nước thống nhất, tài sản của Hội Thánh và Hội Truyền Giáo bị chính quyền trưng dụng. Một số tín đồ rời Việt Nam, nhiều người khác trở về quê, những người còn lại đến nhóm các Hội Thánh Tin Lành Việt Nam hoặc Báp Tít ở Thành Phố Hồ Chí Minh.
Ngày nay, có nhiều nhóm tín hữu Mennonite trong nhiều nơi ở Việt Nam. Nhiều tín hữu được giao phó các chức vụ lãnh đạo hội thánh ở Philadelphia, Sacramento và Honolulu.
Hội Truyền Giáo Mennonite thật ra đã bắt đầu hoạt động xã hội từ năm 1954 khi Ủy Ban Trung Ương Mennonite (Mennonite Central Committee hay MCC) đến miền Nam để giúp đỡ người tị nạn. Đây là cơ quan cứu trợ và phát triển của tất cả các Hội thánh Mennonite ở Canada và Hoa Kỳ. Sau đó MCC chú tâm vào công tác y tế và nông nghiệp trên vùng cao nguyên. Các chuyên viên của MCC như y tá, bác sĩ, kỷ sư nông nghiệp... cộng tác chặt chẽ với Hội Thánh Tin Lành Việt Nam làm việc tại Bệnh Viện Cùi Ban Mê Thuộc (từ năm 1955) và Bệnh Viện Tin Lành Hòn Chồng Nha Trang (từ năm 1960).
Vào năm 1966, MCC thành lập Tổ Chức Xã Hội Tin Lành (Vietnam Christian Service hay VNCS) với sự cộng tác của Church World Service và Lutheran World Relief. Các nhân viên từ Ấn Độ, Nhật Bản, Thụy Sĩ, Mỹ, Gia Nã Đại cùng làm việc với nhau để giúp đỡ xã hội, y tế, giáo dục và nông nghiệp ở các nơi như Pleiku, Quãng Ngải, Tam Kỳ. Di Linh, Huế và Sàigòn.
Các nhân viên Mennonite tình nguyện đến giúp Việt Nam nhằm mục đích hòa bình, ở Việt Nam hay Mỹ. MCC luôn cố gắng giúp nạn nhân chiến tranh ở miền Nam lẫn miền Bắc, từ năm 1966, Hội thỉnh thoảng gởi đồ cứu trợ cho miền Bắc. Sau chiến tranh, MCC tiếp tục tìm cách giúp đỡ dân chúng Việt Nam và đã mở một văn phòng tại Hà Nội vào năm 1990.
Giáo sĩ Luke S. Martin
Đọc thêm!
Tiến sĩ W. M. Turnbull, Phó Hội trưởng Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp đã nói rằng: Bất cứ nơi nào mà việc truyền giáo bị khóa chặt, nghĩa là một nơi chưa được nghe rao giảng Tin Lành của Đấng Christ, thì sẽ thấy giáo sĩ thuộc Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp đến đóng trại trước ngạch cửa để chờ đợi, hễ có cơ hội là bước vào, câu nói đó rất đúng với trường hợp nước Việt Nam. Tại Đông Dương thuộc Pháp, Việt Nam là mục tiêu đầu tiên của Tiến sĩ A. B. Simpson ngay từ khi ông mới sáng lập Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp năm 1897. Các giáo sĩ của Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp ở miền nam Trung Hoa luôn luôn hướng tầm mắt vào Việt Nam.
Năm 1887, Tiến sĩ A. B. Simpson đã viết trong tờ tạp chí "Word and World" như sau: Miền Bán đảo Đông Nam Á đã bị quên lãng từ lâu. Quốc gia Việt Nam cần được soi sáng Tin Lành của Đấng Christ. Tại sao những người phục vụ Cứu Chúa không đặt Việt Nam ngang hàng với Tây Tạng, thiết lập chiến trường thuộc linh mới, hầu tranh thủ nhiều linh hồn tội nhân về với Ngài.
Mùa hè năm 1893, Tiến sĩ David Leclaccheuz, cộng sự viên của Tiến sĩ Simpson đến thăm Sàigòn. Khi trở về, ông đã tường trình và cho biết cánh cửa tại Việt Nam cũng như toàn xứ Đông Dương thuộc Pháp đã mở cho việc giảng Tin Lành. Qua năm sau, Tiến sĩ Simpson cho biết rằng Sudan, Tây Tạng và Việt Nam là ba địa hạt truyền giáo quan trọng chưa được khai thác để qui sự vinh hiển về cho Cứu Chúa.
Tuy nhiên, mãi đến năm 1897 mới chỉ có một giáo sĩ của Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp được phép bước chân vào Đông Dương thuộc Pháp để thăm viếng và chỉ vỏn vẹn thăm viếng mà thôi, không được truyền giáo. Đó là Giáo sĩ C. H. Reeves, từ Long Châu vượt biên giới Hoa Việt vào miền Bắc rồi đến Lạng Sơn. Khi trở về, ông đã phúc trình với Giáo Hội: "Tôi được các sĩ quan và binh sĩ Pháp tiếp đãi rất lịch sự. Họ ở đây rất đông, nơi nào có độ một trăm người dân thì có một đồn lính. Trong suốt thời gian ở miền Bắc, tôi được các binh sĩ Việt Nam và Pháp hộ tống".
Năm 1889, Giáo sĩ R. A. Jaffray tuy là tân Giáo sĩ ở miền nam Trung Hoa, nhưng lại đóng một vai trò rất đắc lực trong việc mở mang rao giảng Tin Lành tại Đông Dương. Giáo sĩ Jaffray cũng vượt biên giới Hoa Việt theo cách của Giáo sĩ Reeves, đi đường thủy theo sông Hồng Hà xuống tận thủ đô Hà Nội. Nhưng ông cũng chưa đặt được điểm tựa nào cho công việc truyền giáo. Năm 1901, ông về nghỉ hạn ở Mỹ, ông tìm gặp ông bà Lylvan Dayan người Gia Nã Đại thuộc Pháp, với hi vọng đề cử ông bà này sang Việt Nam, vì người nói tiếng Pháp vào xứ thuộc Pháp dễ dàng hơn người nói tiếng Anh. Sau đó Hội Truyền giáo sai phái ông bà Dayan qua Việt Nam. Năm 1902, họ vào hải cảng Hải Phòng với kế hoạch nhằm mở một trụ sở giảng Tin Lành tại Bắc kỳ, nhưng vì tình thế chưa thuận tiện, năm sau họ phải trở lại Trung Hoa.
Vào năm 1905, tỉnh Long Châu, thuộc địa hạt Hoa Nam, được dùng làm trung tâm truyền giáo. Họ hi vọng trạm này có thể dùng làm bàn đạp để đưa Tin Lành vượt biên giới Hoa Việt vào miền bắc Việt Nam. Nhưng về sau Hội Truyền Giáo nhận thấy cách nầy chỉ có thể giảng Tin Lành cho những người di cư sang lập nghiệp ở Trung Hoa, chứ không giảng trực tiếp cho dân tộc Việt Nam được. Vả lại người Pháp cũng không thích để Hội Truyền Giáo đi vào cửa sau bằng cách ấy, nên họ đã cho phép giáo sĩ vào một trong các hải cảng lớn ở Việt Nam.
Đến mùa xuân năm 1911, các Giáo sĩ R. A. Jaffay, Paul M. Hosler và G. Lloyd Huglers đến hải cảng Tourane, ở Trung phần Việt Nam. Họ mua được một cơ sở ở góc đường Khải Định, số 66 và đường Nguyễn Hoàng, số 67 để làm trụ sở truyền giáo, đó là trụ sở đầu tiên của hội. Sau khi hoàn tất công tác, họ trở lại Trung Hoa. Giáo sĩ Jaffray không được phép làm giáo sĩ thường xuyên tại Việt Nam, Giáo sĩ Huglers được gọi về Nữu-ước để lảnh nhiệm vụ cao trọng hơn nên chỉ còn Giáo sĩ Hosler trở lại Đông Dương một mình. Ông khởi sự học tiếng Việt và đồng thời bắt đầu giảng Tin Lành. (Trích quyển Bốn mươi sáu năm chức vụ, hồi ký của Mục sư Lê Văn Thái).
II. Sự thành hình của Hội thánh Tin Lành Việt Nam.
Công việc gần như bị ngưng lại khi người Pháp trục xuất 5 trong số 9 giáo sĩ vào cuối năm 1915. Qua năm 1916, Giáo sĩ R. A. Jaffray, đại diện Hội Truyền Giáo vùng nam Trung Hoa và Đông Dương được quan Tổng Đốc Toàn Quyền hứa cho truyền giáo ở Đà Nẵng, Hà Nội, Hải Phòng và ở miền Nam. Với số giáo sĩ khoảng 12 người, Hội Truyền Giáo đã mở các chi nhánh ở Hà Nội (1916) và Hải Phòng (1918) ở miền Bắc; Sài Gòn (1918), Sa Đéc (1922), Châu Đốc (1922), Cần Thơ (1922), Vỉnh Long (1926) và Biên Hòa (1926) ở miền Nam; Phnom Penh (1923) và Battambang (1923) ở Căm-bô-chia.
Sau 16 năm hoạt động, kết quả đầu tiên gặt hái được vào tháng 3 năm 1927: 74 Hội thánh với 4.236 tín đồ rải rác từ miền Bắc, Trung, Nam Việt Nam và Cam-bô-chia đã kết hợp với nhau thành Hội Tin Lành Đông Pháp (Evangelical Church of French Indochina). Vào năm 1936, khi nội quy của Hội thánh được tu chính lần đầu tiên, danh hiệu được thay đổi là Hội Tin Lành Việt Nam Đông Pháp. Sau đệ nhị thế chiến, danh từ Đông Pháp được bỏ đi. Vào năm 1950, theo quyết nghị của Hội Đồng Tổng Liên, danh xưng được đổi lại là Hội Thánh Tin Lành Việt Nam. Cũng nên chú ý rằng ngay từ đầu, các tín hữu Việt Nam với tinh thần tự lập rất cao, thay vì dùng tên chung là Hội Phúc Âm Liên Hiệp như các quốc gia khác, đã dùng danh xưng là Hội Thánh Tin Lành (Evangelical Church).
Bắt đầu từ năm 1924, mỗi năm đều có Hội đồng tại Tourane để khuyến khích, giúp đỡ sự tăng trưởng thuộc linh của các tín đồ và tôi tớ Chúa người Việt Nam. Năm 1927, Hội đồng cũng nhóm họp ở Tourane từ ngày 5 đến ngày 13 tháng 3 với lớp mãn khoá đầu tiên của Trường Kinh Thánh Tourane (Đà Nẵng). Hội đồng này đã quyết định kết hợp các Hội thánh ở miền Bắc, Trung, Nam và Cam-bô-chia như trên. Có 50 đại biểu, trong đó có 4 chấp sự, đại diện cho 7 Hội thánh tự trị tự lập và 60 Hội thánh chi nhánh. Các đại biểu bàn luận việc soạn thảo nội qui, nâng cao cương vị của Giáo hội, tìm cách để chính quyền thừa nhận. Cùng với 70 người tham dự cả nam lẫn nữ, các đại biểu đã dâng một số tiền tổng cộng là 148 đồng 80 xu cho các chi phí của Hội đồng. Hội đồng cũng quyết định kêu gọi các Hội thánh địa phương dâng hiến 5.000 đồng để xây cất cư xá cho các sinh viên và các cơ sở khác của Trường Kinh Thánh Tourane. Ban chấp hành lâm thời, nhiệm kỳ một năm, gồm Mục sư Hoàng Trọng Thừa, Hội trưởng; Mục sư Trần Dỉnh, Phó Hội trưởng, Mục sư Dương Nhữ Tiếp, Thơ ký; Ông Trần Thành Long, Thủ quỷ; và Mục sư Lê Văn Long, hội viên. Hội đồng cũng đề cử một ban để hoạt động chung với Ban truyền giáo của Giáo hội C&MA, ban truyền giáo này gồm có các Giáo sĩ J. D. Olsen, E. F. Irwin, W. C. Cadman, D. I. Jeffrey và I. R. Stebbins (thân phụ của Giáo sĩ Thomas Stebbins, Tôn Thất Bình).
Năm 1928, Hội đồng tái nhóm, chấp thuận một nội qui đầu tiên của Giáo hội với 37 chương và 156 phần. Trong đó Hội dồng chấp thuận nguyên tắc bốn giáo lý (doctrines) biểu hiệu bởi bốn dấu hiệu: Thập tự giá, Chim bồ câu, Bình nước và Mão triều thiên vẫn còn dùng cho đến ngày nay.
III. Sự bắt bớ đạo Tin Lành.
Điều quan ngại nhất của Ban Chấp Hành là việc giao tiếp của Hội Tin Lành Đông Pháp thời ấy với Triều Đình Việt Nam và chính quyền người Pháp. Nhiều cản trở trong hoạt động của các giáo sĩ Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp (C&MA) và sự cấm chỉ giảng đạo trong thập niên 1920 của Triều Đình Việt Nam đã được vua Bảo Đại tiếp tục theo đuổi. Vào ngày 26 tháng giêng năm 1928, Hội Đồng Cơ Mật của nhà vua đã ra chỉ dụ cho các quan địa phương như sau:
"Theo phần thứ 13 của hòa ước năm 1884, chỉ có Giáo Hội Công Giáo mới có quyền giảng đạo ở Việt Nam mà thôi. Các giám mục, linh mục, giáo chức thuộc Giáo Hội Công Giáo La Mã là những người duy nhất được giảng dạy. Chúng tôi được biết gần đây có một tôn giáo mới, cũng như đạo Cao Đài ở miền Nam. Khi những tôn giáo này bành trướng thêm lên, sẽ có nhiều người lợi dụng, tạo các khó khăn trong đất nước và nhiều người có thể bị lường gạt như trường hợp của Võ Trụ và Trần Cao Vân trong năm qua. Những người này lợi dụng danh nghĩa tôn giáo nhưng sự thật họ chỉ xúi giục dân chúng nổi dậy. Biết bao dân lành đã chịu khổ vì họ! Vì vậy từ nay tôn giáo mới và đạo Cao Đài phải bị cấm truyền giảng tại địa phương hay lưu động ở Việt Nam. Nếu ai bất tuân chỉ dụ này, phải trừng phạt người ấy theo như luật định.
Quan Khâm sứ đã đồng ý về vấn đề này. Hội Đồng Cơ Mật truyền chỉ dụ để quý vị rỏ và thi hành.
Huế, ngày thứ tư, tháng thứ nhất, năm thứ ba của Hoàng đế Bảo Đại. Ấn tín của Hội Đồng Cơ Mật."
Sau đó hai tháng, vào tháng ba năm 1928, quan toàn quyền miền bắc gởi cho Giáo sĩ Cadman thông tư như sau: "Tôi được biết Hội Truyền Bá Phúc Âm Liên Hiệp bổ nhiệm ông trong chức vụ truyền giáo ở nhiều thị trấn miền Bắc và nhất là ở Nam Định. Trái với tinh thần hòa ước năm 1874 và năm 1884 giữa chánh phủ Pháp và Hoàng Đế nước Việt Nam, tôi có nhiệm vụ khuyên ông nên sớm chấm dứt sự giảng đạo của ông."
Tuy nhiên những mục sư ở các thành phố miền Bắc không gặp trở ngại vì Hội Đồng Cơ Mật đã nhượng quyền ở miền Bắc trong nhiều năm và hoạt động truyền giáo Tin Lành ở đây lúc này không được mạnh mẽ lắm. Kế hoạch bắt giữ Mục sư Lê Văn Thái ở Hà Nội khi ông đến làng Gia Thượng, tỉnh Bắc Ninh đã thất bại vì ông Lý trưởng được chỉ thị này là một người mới tin Chúa cho nên ông chỉ cho lính ngăn chận buổi nhóm và trục xuất Mục sư Thái khỏi làng. Dầu vậy Mục sư vẫn trở lại những tuần sau để truyền giảng. Việc chánh quyền địa phương miễn cưỡng ra lệnh cấm dân chúng tham dự chỉ làm cho nhiều người tò mò đến càng đông hơn. Vào một ngày Chúa nhật nọ, khi các tín đồ đang nhóm thờ phượng thì một viên chức người Pháp dẫn quân lính và các dân làng võ trang bao vây giáo đường. Sau khi giảng dạy xong, Mục sư Thái và Giáo sĩ Cadman ra chào vị sĩ quan người Pháp, có lẽ ông này đổi ý nên nói rằng ông muốn chắc chắn rằng chỉ có tín đồ tham dự buổi thờ phượng mà thôi và ông ra lệnh cho các dân làng không phải là tín đồ kể cả các người võ trang giải tán.
Ở miền Trung, không những chỉ dụ trên được gởi đến các viên chức địa phương, mà còn được công bố và dán ở các nơi công cộng, chợ búa, các nhà thờ, giảng đường. Ở Nha Trang chẳng hạn, viên Tổng đốc đã ra một chiếu chỉ tương tợ như trên. Mục sư Phan Đình Liệu, đã bị bắt tại Quảng Nam vào năm 1925, lại bị bắt lần thứ hai bởi vị chỉ huy quân sự người Pháp và giải đến quan Toàn quyền. Ông này thả Mục sư Liệu ra và cho ông trở về Nha Trang. Ông bảo đảm với Mục sư Liệu rằng "người Pháp sẽ không bắt bớ đạo Tin Lành". Tuy nhiên Mục sư Liệu đã bị vào tù lần nữa vào mùa hè năm 1928 vì đã cãi lịnh không chịu gỡ bảng hiệu Hội Tin Lành Việt Nam trước giảng đường ở Nha Trang. Khi ông ra Phan Rang để giảng, ông bị bắt giải đến Quan Toàn Quyền và được khuyên nên vô trong Nam để có thể giảng đạo tự do hơn. Trong buổi hiệp nguyện ở Nha Trang Thành (tỉnh Khánh Hòa), Mục sư Liệu lại bị bắt lần thứ tư, sáu tín đồ cũng bị đánh đập và lưu giữ. Họ được thả ra sau khi Mục sư Liệu chấp nhận tất cả trách nhiệm của buổi nhóm. Sau khi giam giữ ông 2 tuần mà không xét xử, quan địa phương ra lệnh trục xuất ông ra Quảng Nam. Sau khi ở Quảng Nam một thời gian ngắn, Mục sư Liệu đi Mỹ Tho để dự Hội Đồng Tổng Liên. Ông không dự được vì khi đến Nha Trang, ông bị bắt vì đã rao giảng Tin Lành, ông bị kết án 6 tháng tù khổ sai. Mục sư Liệu dùng thời gian này để dịch các tài liệu Cơ đốc từ tiếng Tàu và ông đã giúp được 2 người lính và 12 tội nhân trở về cùng Chúa. Ông vào Nam để đi đây đi đó giảng Tin Lành cho đến năm 1935, ông trở lại miền Trung khi việc cấm chỉ này không còn nữa.
Ở Quảng Ngãi, hai nhà truyền giáo trẻ tuổi là Mục sư Ông Văn Huyên và Đặng Ngọc Cầu đã bị bắt ở đảo Lý Sơn giải về quê ở Quảng Nam. Các người này bị kết án 3 tháng tù khổ sai vì đã cãi lệnh Triều đình. Họ được phóng thích sau khi đã đóng nộp tiền phạt. Khi các nhà truyền giáo và các giáo sĩ lưu động bị bắt giam, tín đồ "bị hăm dọa và được lệnh đốt Kinh Thánh". Giáo sĩ Travis ở miền nam Trung phần tường trình rằng nhiều người giấu Kinh Thánh, nhiều người khác yếu đuối hơn đã đốt quyển sách này, một số khác nữa viện lẽ ấy bỏ quyển sách mà họ đã tình cờ mua". Ở miền trung Trung phần, chính quyền vào nhà dân chúng tịch thâu Kinh Thánh, bắt tín đồ phải ký giấy bỏ đạo. Cùng với quý vị mục sư, số tín đồ bị bắt không phải là ít. Ở Tam kỳ, tỉnh Quảng Nam, dầu rằng những người theo đạo bị bắt bớ rất nhiều, ông Lý trưởng đã theo đạo và đã tường trình tốt đẹp về Tin Lành mỗi khi ông được triệu hỏi bởi các quan trên, vì thế đã giúp cho các con cái tôi tớ Chúa tránh nhiều sự bắt bớ.
Chỉ dụ của Hội Đồng Cơ Mật của nhà vua ngày 26 tháng giêng năm 1928 đã gây nhiều khó khăn cho cộng đồng Tin Lành ở Việt Nam và đã tạo tiếng vang ở Pháp. Mục sư Calas của Hội thánh Tin Lành Pháp ở Hà Nội và là đại diện của Hội Kinh Thánh Đông Nam Á đã mạnh dạn phản kháng với chính quyền rằng ông không được thông báo kịp thời về những việc bắt bớ tín đồ, việc cản trở truyền giáo và những sự việc đáng tiếc khác vì không có sự liên lạc giửa các nhà thờ nhỏ ở các địa phương hẻo lánh với ông. Trên thực tế, hầu như không có hợp tác gì giữa hai nhóm Tin Lành người Việt Nam và người Pháp.
Khi Mục sư Lê Văn Thái đến đề lao Khánh Hòa thăm Mục sư Phan Đình Liệu và tặng Mục sư Liệu chiếc lò dầu lửa (rề-sô), bà Giáo sĩ Cadman đứng bên kia đường chụp được tấm hình. Sau đó, bà viết bài tường thuật gởi cho một nghị sĩ ở Quốc hội Pháp và cho đăng hình lên các báo ở ngoại quốc kèm theo tấm hình làm bằng cớ rằng Tin Lành bị bắt bớ, mục sư bị tù đày tại Việt Nam... Nhân dịp Pierre Pasquier, Quan Thống đốc Toàn quyền Pháp mới nhậm chức vào tháng giêng 1929, các vị lãnh đạo Tin Lành Pháp cũng đã lưu ý ông về vấn đề này. Cùng lúc đó, Hiệp Hội Tin Lành Pháp đã tạo áp lực với Quốc Hội đòi hỏi sự tự do tín ngưỡng ở vùng Đông nam Á trong lúc nước Pháp đang có khuynh hướng chính trị không muốn chính quyền can thiệp vào tôn giáo. Mãi đến tháng 12 năm 1929, quan nhiếp chánh của Hoàng đế và Khâm sứ Jabouille đã cùng ký một sắc lệnh rằng:
Các mục sư Tin Lành Pháp không bị hạn chế trong việc thờ phượng và truyền giảng Tin Lành.
Một giấy phép sơ khởi sẽ được cấp cho các hội truyền giáo ngoại quốc thuộc mọi tín ngưỡng, và các hàng giáo phẩm ngoại quốc thuộc mọi tín ngưỡng.
Đơn xin phép sẽ do các đương sự đệ nạp cho Tòa Khâm Sứ và được xét tại cuộc họp của Viện Cơ Mật để đệ trình lên Hoàng Thượng duyệt xét, hay quan Phụ Chánh duyệt xét, nếu Hoàng Thượng còn vị thành niên. Quyết định sẽ được trao cho Tòa Khâm Sứ ban hành.
Trên thực tế, sắc lệnh này cho phép các nhà truyền giáo và người phụ tá địa phương hoạt động ở khu vực mình mà thôi nếu họ được cấp giấy phép. Giấy phép này không phải là dễ xin, nhất là khi đổi đến nơi khác. Một thí dụ điển hình là khi một truyền đạo đến Quảng Ngãi, ông được cấp giấy phép giảng dạy ở đó. Tuy nhiên sau gần một năm, ông phải về trường học tiếp, người thay thế ông là một Mục sư thực thụ đã được tấn phong không được phép giảng dạy, viện lý lẽ là có hoạt động chính trị trong vùng. Ông chỉ được cho phép nhóm họp khi có giáo sĩ ngoại quốc đến mà thôi. Vì không có giáo sĩ ở Quảng Ngãi, giáo sĩ ở Tourane đã phải phụ trách nhiều Hội thánh chung quanh, ông không thể nào di chuyển 120 cây số để đến Quảng Ngãi mỗi Chúa Nhật được. Khi không có Giáo sĩ hiện diện, cảnh sát được phái đến ở trước nhà thờ để được chắc chắn rằng không có sinh hoạt thờ phượng ở đó. Tình trạng được thay đổi khi có một nhân viên ngoại giao cao cấp của Pháp qua đời, gia đình muốn được an táng theo nghi lễ Tin Lành vì ông là người có đạo nhưng không có mục sư trong vùng nên quan Tổng đốc phải đề nghị cho phép một mục sư đến lo việc Hội thánh. Từ đó về sau, chính quyền Việt Pháp địa phương mới dễ dãi cho.
Vào năm 1943, khi Mục sư Nguyễn Xuân Diệm ở Thăng Bình tỉnh Quảng Nam được sự chấp thuận của quan Tổng đốc, được Quan Tổng Đốc Toàn quyền phê chuẩn thuận, lại phải qua sự điều tra của Bộ Nghi Lễ rồi mới được sự chấp thuận của Hoàng Đế. Sau đó các quan địa phương được lần lượt thông báo xuống từ Thủ Tướng, đến thượng thư Bộ Nghi lễ, đến quan Tổng Đốc, rồi mới tới các quận trưởng quận Thăng Bình và Tam Kỳ với chỉ thị phải bí mật theo dõi mục sư và rút giấy phép lại nếu ông mục sư vi phạm các điều luật. Vào năm 1944, Mục sư Diệm xin phép mở nhà thờ chi nhánh ở Tiên Quả và Thượng Thanh quận Tam Kỳ, lần này viên Khâm sứ miền Trung thay mặt chính phủ ký giấy chấp thuận, chuyển xuống Tổng đốc Quảng Nam và Quảng Ngãi để tường với chỉ thị bí mật theo dõi và báo cáo các vi phạm luật lệ. Hệ thống quan liêu để xin giấy phép này được tiếp tục áp dụng cho đến Cách mạng tháng tám năm 1945.
Trên lãnh vực quốc gia, Ban chấp hành Hội Tin Lành Việt Nam đã cố gắng đòi hỏi để được sự chấp nhận của chính phủ như là một giáo hội ngang hàng với Công Giáo nhưng đã thất bại ít nhất 3 lần. Năm 1942, để tỏ thái độ thiện cảm với Hội Thánh Việt Nam sau khi miền nam bị Nhật chiếm, Quan Toàn quyền Jean Decoux gởi một bức thơ cho Muc sư Hội trưởng Lê Đình Tươi nhìn nhận thành phần Ban Quản Trị Tài Sản Hội Thánh Tin Lành Việt Nam. Hội Tin Lành Việt Nam chưa từng được chính quyền Việt hay Pháp thừa nhận như đã thừa nhận Giáo Hội Công Giáo từ năm 1884, tuy vậy những sự bắt bớ đạo Tin Lành không chi so sánh với sự bắt bớ của Công Giáo dưới thời vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức. Những sự thử thách này đã khiến cho cả đạo Công Giáo lẫn Tin Lành thêm vững đức tin, khiến nhiều người biết đến và giúp cho sự bành trướng của tôn giáo thêm mạnh mẽ.
IV. Các khó khăn khác và sự tự trị, tự lập.
Rút tỉa kinh nghiệm ở các nước khác, Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp đã cố gây dựng Hội Thánh Việt Nam để có thể đạt đến tình trạng tự trị tự lập càng sớm càng tốt. Đa số tín đồ Việt Nam là những người bình dân, một số nhỏ là công chức. Năm 1928, chỉ có 10 trong số 80 Hội thánh tự trị tự lập, số này tăng lên gấp đôi vào năm 1930 và gấp bốn lần vào năm 1932. Vào Thế Chiến Thứ Hai, 75% hội thánh đạt đến tự trị tự lập, các mục sư của các hội thánh còn lại được tín đồ trợ cấp rất ít, phải cần sự giúp đở của Hội Truyền Giáo. Vào năm 1942 khi mật vụ của Nhật bắt giam các giáo sĩ ở Mỹ Tho, tất cả các Hội thánh đều tự túc với chương trình tương trợ giữa các hội thánh địa phương và các Địa hạt trong giai đoạn nầy.
Trong Đệ Nhị Thế Chiến, tình hình tài chánh suy giảm, các viên chức Hội Truyền Giáo cho biết là Hội không có khả năng giúp đỡ các hội thánh đang thiếu hụt được, họ khuyên quý mục sư hãy nhờ cậy Chúa trong đức tin, nếu họ muốn, họ có thể đóng cửa nhà thờ và trở về nghề cũ. Tuy nhiên đại diện của Hội Truyền Giáo miền Nam tường trình rằng không một hội thánh nào phải đóng cửa vì có một ngân quỷ trong đó các hội thánh tự lập đã giúp các hội thánh khác đang gặp khó khăn.
Ở miền Bắc, vào năm 1942, có khoảng một ngàn tín đồ đã chịu phép báp-têm, 28 mục sư và truyền đạo với 27 nhà thờ và 30 chi nhánh. Trong đó chỉ có 4 nhà thờ tự lập. Giáo hội đã phải đóng cửa 11 nhà thờ và có thể phải đóng cửa trên 80 % các nơi nhóm họp vì có nhiều người tị nạn từ miền nam Trung quốc khiến ngân quỷ giáo hội bị thiếu hụt. Vào tháng hai năm 1942, Mục sư Lê Văn Thái, Chủ nhiệm Bắc hạt, được mời tham dự kỳ Hội đồng Địa hạt miền Nam tại Cần Thơ thay thế cho Mục sư Hội trưởng Lê Đình Tươi bị bệnh. Ông đã từ chối lời mời vì tình trạng khẩn trương ở đây. Nhưng trong giấc chiêm bao, ông được khải thị về sự yêu thương và tương trợ của các con cái Chúa, ông liền nhận lời. Vào Nam, ông được các tín hữu, tôi tớ Chúa giúp đỡ từ chiếc áo choàng, đôi bông tai, đến đôi giày, đồng hồ, viết máy và tiền mặt... y như điều ông thấy trước trong giấc chiêm bao. Trên đường về Bắc, ông có ghé dự Hội đồng Địa hạt miền Trung và Trường Kinh Thánh Tourane (Đà Nẵng). Nơi nào ông đến, ông cũng được mọi người hết lòng chia xẻ và giúp đỡ. Khi trở về Hà Nội, Mục sư Thái mang bốn va-ly chứa đầy tặng vật. Hội Thánh Hà Nội liền phát động chiến dịch mua lại các tặng vật để gởi trả cho người dâng. Việc nầy đã được tín hữu ở đây và các vùng phụ cận hưởng ứng nhiệt liệt. Các tín hữu tranh nhau mua những món đồ tầm thường với giá rất cao, mong sao hành động của mình xứng với lòng hy sinh tốt đẹp của các tín hữu miền Trung và Nam. Nhờ việc bán đấu giá lạ lùng nầy mà Bắc hạt có đủ tiền để trang trải những nhu cầu cấp bách lúc đó. Vì thế những tín đồ miền Trung và Nam đã dâng hiến đều được các kỷ vật gởi trả lại cho mình. Một Giáo sĩ đã viết lại sự tương trợ của các con cái Chúa trong thời gian này như sau: "Dầu rằng các tín đồ rất nghèo và rất muốn lưu giữ các kỷ vật của mình, vì thế những sự dâng hiến và giúp đỡ này rất đáng phâm phục. Giống như những tín đồ ở Ma-xê-đoan, họ đã tự ý quyên tiền theo sức mình, hoặc cũng quá sức nữa... (II Cô-rinh-tô 8:3)"
Ở miền Trung, Hội thánh đã chịu ảnh hưởng nặng nề nhất trong thời kỳ chiến tranh: có một số nhà thờ phải đóng cửa và nhiều mục sư phải trở lại nghề cũ để lo sinh kế cho gia đình. Nhiều mục sư kiên trì trong chức vụ phải mắc nợ lâu dài và gia đình lâm vào cảnh đói kém.
Trong cuộc thế chiến thứ hai này, các giáo sĩ được lệnh di tản về nước hay qua Phi-luật-tân. Tuy nhiên trong số 74 vị ở vùng Đông Nam Á, có 68 người liều mình ở lại, họ được tòa đại sứ Thụy sĩ giúp đỡ. Nhiều giáo sĩ lợi dụng thời gian bị bắt để soạn các bộ sách rất có giá trị cho chúng ta như quyển Kinh Thánh Tự Điển của Giáo sĩ Cadman, quyển Thần Đạo Học và những sách khác được Giáo sĩ Olsen nhuận chánh. Sau khi lật đổ chính quyền Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945, người Nhật bắt đầu đối xử tàn tệ với các nhà truyền giáo. Giáo sĩ Franklin Grobb là người duy nhất đã qua đời trong lúc bị giam giữ vì họ không cho phép vợ ông mang ông đến bệnh viện phía bên kia đường đối diện trại giam để trị chứng viêm ruột dư và màn bụng cấp tính. Sau khi người Nhật đầu hàng, tất cả các Giáo sĩ đều được trở về nước ngoại trừ ông bà E. F. Irwin, ông bà W. C. Cadman và ông D. I. Jeffrey. Đến tháng 11 năm 1945, chỉ có gia đình Giáo sĩ Cadman ở lại. Sau khi bà về với Chúa vào tháng 4 năm 1946, Giáo sĩ Cadman là giáo sĩ độc nhất tại Việt Nam trong 10 tháng. Ông nói: "Các anh em trong Chúa ở đây đang gặp hiểm nguy, chúng ta không thể bỏ họ đơn cô, chúng tôi quyết định ở lại với họ".
Trong thời gian nạn đói năm 1944-45, có gần 2 triệu đồng bào, đa số ở miền Bắc, phải chết vì không có thực phẩm. Tuy nhiên, không có một tín đồ nào bị chết đói mặc dầu họ rất nghèo và hết lòng cung ứng cho mục sư của họ. Mục sư Thái cho biết trong thời gian này sự dâng hiến (cộng chung với sự giúp đỡ của các anh em miền Trung và miền Nam) cho Địa hạt miền Bắc đã tăng lên gấp 4 lần.
Vì chủ trương không tham gia chính trị của Giáo Hội, nhiều tín đồ đã bị bắt bớ vì sự nghi kỵ của hai bên nhất là trong thời gian chiến tranh. Vào năm 1948, số giáo sĩ ở miền Bắc tăng lên đến 5 người, số nhà giảng, buổi thờ phượng và số người chịu phép báp-têm đều gia tăng. Các hội thánh miền Trung gần trận tuyến phải đóng cửa, mục sư và tín đồ di tản. Các hội thánh còn lại vẫn trung tín hoạt động. Số tín đồ được gia tăng như ở Đà Nẵng, có 67 người gia nhập Hội thánh trong năm 1950. Ở trong Nam, có gần 30 nhà thờ bị đóng cửa, nhiều nơi bị san bằng hay bị chiếm đóng. Nhiều mục sư vì thế phải bị thiếu thốn, nợ nần có khi phải tìm việc khác mưu sinh.
V. Giai đoạn phục hồi và tăng trưởng.
Sau trận chiến ở Điện Biên Phủ và việc ký hiệp định Genève, Việt Nam bị chia ra làm hai miền. Hiến pháp năm 1960 của miền Bắc khẳng định những nhân quyền căn bản của nhân dân như trong hiến pháp năm 1946: "Nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được quyền tự do tín ngưỡng; mọi người đều có quyền theo đạo hoặc không theo đạo". Hiến pháp của miền Nam thừa nhận mọi người đều có quyền tự do tín ngưỡng, hành đạo và theo đạo miễn là sự tự do này không đi ngược lại với luân thường đạo đức.
Giáo hội miền Bắc được đổi tên là "Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Miền Bắc" gồm vài ngàn tín đồ với hai chục hội thánh, 13 mục sư và truyền đạo. Giáo hội miền Nam vẩn giữ danh hiệu Hội Thánh Tin Lành Việt Nam vì trên 90 phần trăm tín hữu ở trong Nam. Vào năm 1962, Địa hạt miền Trung được chia ra làm Bắc Trung phần trụ sở ở Đà Nẵng và Nam Trung phần trụ sở ở Nha Trang. Đến năm 1969 Địa hạt miền Nam được chia ra làm Đông Nam phần với văn phòng ở Sài Gòn và Tây Nam phần ở Vĩnh Long. Năm 1960, Địa hạt Thượng du được thành lập để cung ứng nhu cầu đặc biệt cho đồng bào thiểu số.
Trong kỳ Hội Đồng Tổng Liên năm 1955, mặc dù có một nhóm người tố cáo muốn lật đổ Mục sư Hội trưởng Lê Văn Thái, Hội Đồng cũng đã quyết định những việc quan trọng sau đây:
Hội Đồng chấp thuận liên hợp với những tổ chức truyền giáo đồng chung niềm tin để đẩy mạnh việc truyền giảng trong nước. Cơ quan đầu tiên được tiếp xúc là Hội Cứu Thế Quân (the Salvation Army), sau đó là những cơ quan truyền giáo như: The Navigator (1955), The Overseas Crusades (1956), Hội dịch Kinh Thánh Wycliffe (1957), Cơ Đốc Truyền Giáo Hội hay The Worldwide Evangelization Crusade (1957), Hội Truyền Giáo Mennonite (1957), Giáo Hội Báp-Tít Nam Phương (1959), Hội Ái Hữu Sinh Viên Cơ Đốc (1959), Giáo Hội Đấng Christ (1960), The Scripture Union (1962) và các cơ quan nhỏ khác.
Lần đầu tiên Hội Đồng cứu xét việc bổ nhậm phụ nữ để giảng dạy.
Gởi sinh viên ra hải ngoại để được huấn luyện về thần học hay các ngành chuyên môn khác.
Hội Đồng cũng quyết định đẩy mạnh công tác xã hội đã được đề ra từ năm 1932. Với sự giúp đỡ của nhiều cơ quan, Giáo Hội cũng đã trợ cấp cho nhiều hội thánh xây cất lại. Theo thống kê năm 1971, tổng cộng Giáo Hội có 6 cô nhi viện và một nhà dành cho quả phụ.
Thành lập Đoàn Tuyên úy với Mục sư Tuyên úy Đoàn Mười là vị sĩ quan đầu tiên.
Thành lập trường học cho đồng bào thiểu số và sau này các Hội thánh lớn như Khánh hội, Sài gòn cùng mở các trường trung học, trường Ánh Sáng là trường thành công nhất ở Đà Nẵng dùng cơ sở củ của Trường Kinh Thánh. Sau đó có trường dạy nghề Tuyên Đức.
Vào năm 1957, Hội Đồng cũng quyết định mở một bệnh viện Tin Lành ở Sàigòn. Dự án này không thực hiện được. Tuy vậy Mục sư Phạm Xuân Tín, với sự giúp đỡ của Hội Mennonite, đã mở một Chẩn Y Viện Tin Lành ở Nha Trang vào ngày 9 tháng 7 năm 1961. Sau đó một Trại dưỡng bệnh và một Trường đào tạo y tá được thêm vào. Vào năm 1965, Bệnh viện Tin Lành Pleiku được mở ra với sự tài trợ của Hội Mennonite. Cũng nên biết rằng Trại cùi Tin Lành Ban-mê-thuột đã được thiết lập vào năm 1951, Chẩn Y Viện Đà Lạt đã hoạt động trước đó cũng được bành trướng vào năm 1954. Khi Giáo sĩ Cadman về với Chúa vào ngày 7 tháng 12 năm 1948, ông dâng tất cả di sản của ông cho Hội thánh Tin Lành Việt Nam. Mục sư Lê Văn Thái phải vận động chính phủ giảm miễn thuế trên món tiền này để xây cất Cô nhi viện Hòn Chồng, trên mảnh đất 18 mẫu với sự trợ giúp của Hội Bảo Trợ Nhi Đồng Quốc Tế. Cơ sở này được khánh thành vào ngày 4 tháng 9 năm 1953 với các cô nhi con mục sư, truyền đạo (27 em) và con tín hữu (11 em). Sau đó ông bắt đầu mỡ trường trung tiểu học Bết-lê-hem và trường dạy nghề cũng trong khuôn viên của Cô nhi viện. Cũng nên biết là Giáo sĩ Cadman là một trong những nhà truyền giáo tiên phong ở Việt Nam, ông bà có một người con gái độc nhất qua đời lúc 12 tuổi được an táng ở nghĩa trang thành phố Hà Nội, bà về với Chúa và được an táng ở nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi Saigòn, còn ông thì được Tổng Liên Hội an táng ở nghĩa trang thành phố Đà Lạt, phía dưới mộ bia của ông có đề "Người Trung Tín Cho Đến Chết"
Sau 19 năm phục vụ Giáo hội dưới chức vụ Hội trưởng, qua thời Nhật chiếm đóng, Giáo sĩ bị giam cầm và sự tranh đấu dành độc lập tôn giáo đối với chính quyền miền Bắc và miền Nam nhất là những năm đầu của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Mục sư Lê Văn Thái từ nhiệm vào năm 1960, mặc dù có nhiều đại biểu yêu cầu ông ở lại. Mục sư Ông Văn Huyên cũng xin từ chức sau 30 năm làm Thư ký Giáo hội. Hội Đồng bầu Mục sư Đoàn Văn Miêng vào chức vụ Hội trưởng với sự phụ tá của Mục sư Phạm Xuân Tín.
Để thích ứng cho thời bình với khải thị bành trướng tầm hoạt động, Hội Thánh Tin Lành Việt Nam gia tăng các chương trình huấn luyện để đào tạo mục sư cũng như các người hầu việc khác:
Trường Kinh Thánh Đà Nẵng: Hội thánh Đà Nẵng mở lớp học Kinh Thánh tại tư thất các giáo sĩ mỗi ngày vào giờ nghỉ trưa bắt đầu từ năm 1919. Vào năm 1921, Trường Kinh Thánh Đà Nẵng được thành lập và nơi nầy đã trở thành trung tâm đẩy mạnh việc truyền giáo đến mọi nẻo đường trong xứ cũng như một phần lảnh thổ Cam-bô-chia và Lào. Số sinh viên bị giảm xuống thấp nhất vào niên khóa 1953-1954 với 18 người vì có lệnh động viên. Sau đó nhiều năm, số sinh viên dần dần gia tăng trở lại.
Thánh Kinh Thần Học Viện Nha Trang: Được khánh thành vào tháng 9 năm 1960, trong năm đầu tiên có 85 sinh viên nội trú với 55 truyền đạo. Năm 1961-1962, có đến 110 sinh viên và 55 truyền đạo.
Trường Kinh Thánh Đà-lạt và Ban-mê-thuột: Được thành lập để lo cho việc truyền giáo cho đồng bào thiểu số. Vào giữa thập niên 1950, trường Kinh Thánh Pleiku được mở cho người Jarai, nhưng vì ít người tham dự cho nên các sinh viên được chuyển xuống Ban-mê-thuột để học và nơi này được dùng để huấn luyện cho các Chấp sự Hội thánh.
Thánh Kinh Tiểu Học Đường: Thánh Kinh Tiểu Học Đường (short term bible schools) đã có từ trước nhưng mãi đến năm 1958 mới được thông dụng và tổ chức đều đặn.
Vào năm 1955, Việt Nam có 3 trường Kinh Thánh, con số này tăng lên 6 trường vào năm 1958 , đến năm 1964, có tất cả 9 trường với tổng số sinh viên cao nhất là 214 vào năm 1962.
Năm 1951, Đài Viễn Đông tại Ma-ni-la bắt đầu chương trình phát thanh Tin Lành bằng Việt ngữ, sau đó chính phủ Việt Nam cũng cho phép phát thanh Tin Lành trên các đài địa phương.
Chương trình chứng đạo cá nhân cũng được đẩy mạnh, năm 1955, các chứng đạo viên đã tiếp xúc được trên 93.000 người, có gần 5.000 người cầu nguyện tin Chúa trên toàn quốc. Việc chứng đạo trong các trung tâm cải huấn Phan Rang, Phan Thiết, Chí Hòa, các tỉnh miền Nam và đảo Côn Sơn cũng đã mang nhiều tội nhân trở lại cùng Chúa.
Năm 1959, Giáo sĩ Sutherland thành lập Trung Tâm Thanh Niên Cơ Đốc tại Sài-gòn, sau đó các trung tâm ở Huế, Đà Nẵng, Tuy Hòa, Nha Trang, Biên Hòa, Cần Thơ cũng được mở ra. Thanh niên làm việc chung với các giáo sĩ, mục sư, rao giảng Tin Lành qua việc dạy Anh ngữ, chiếu phim tôn giáo, hội họp, làm chứng... Nhiều mục sư đã dùng thuyền để rao giảng dọc theo sông Cửu Long và các hệ thống sông ngòi miền Nam.
Khi chính phủ khởi xướng các Chương Trình Dinh Điền, nhiều gia đình tín đồ bị định cư cũng lợi dụng cơ hội nầy để làm chứng đạo cho các người định cư khác. Hội thánh cũng tổ chức các buổi truyền giảng tại các trung tâm tị nạn. Nhà in Tin Lành trong lúc nầy cũng nổ lực in các văn phẩm Cơ đốc, truyền đạo đơn, các báo định kỳ như Thánh Kinh Báo (Thánh Kinh Nguyệt San), Đuốc Thiêng và Hừng Đông (Rạng Đông) đã mang đến cho tín đồ mọi nơi thức ăn tinh thần nuôi dưởng đời sống thuộc linh.
Số người cầu nguyện tin Chúa từ năm 1911 đến 1927 là 11.699 người, từ năm 1928 đến năm 1941 có 41.402 người, từ năm 1942 đến năm 1953 có 49.753 người, từ năm 1954 đến năm 1965 có 117.349 người, và từ năm 1966 đến năm 1970 có 69.385 người.
So với các quốc gia khác ở vùng Đông Nam Á, việc truyền giáo được bắt đầu vào năm 1813 ở Miến Điện, năm 1898 tại Phi Luật Tân, năm 1828 tại Thái Lan. Nam Dương và Mã Lai là hai quốc gia được biết đến Tin Lành từ thế kỷ thứ 17: Vào năm 1965, Việt Nam có 1.000.000 tín đồ Công giáo, 120.000 tín đồ Tin Lành (gồm tất cả các hệ phái), trong khi đó ở Cam-bô-chia có 734 tín đồ, Lào có 5.000 người, Thái Lan có 44.000 người, Mã Lai có 104.000 người, Nam Dương có 6.800.000 người, Phi Luật Tân có 1.243.000 người, và Miến Điện có 600.000 người.
VI. Kết luận.
Sau nhiều năm vận động, Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp đã được cho phép mỡ một văn phòng ở Tourane để lo cho việc giảng đạo cho các nước thuộc địa Pháp vùng Đông Nam Á vào năm 1911. Để thỏa mãn nhu cầu học hỏi Kinh Thánh của những người khao khát lời Chúa, Trường Kinh Thánh Tourane được thành lập vào năm 1921. Giáo hội cũng đã bầu ban chấp hành đầu tiên của Tổng Liên Hội và lễ mãn khóa đầu tiên của trường Kinh Thánh Đà Nẵng vào năm 1927. Năm sau, nội quy đầu tiên được chấp thuận làm căn bản cho các Hội thánh địa phương đến cấp trung ương. Các Hội thánh địa phương cố gắng hoạt động để tăng trưởng và trở thành độc lập trong ba bước: tự lập, tự trị và tự bành trướng. Trong khoản thời gian yên ổn tương đối từ năm 1927-1941, Giáo hội đã đạt được sự phát triển nhanh chóng mọi mặt, Hội Thánh Tin Lành Việt Nam được tăng trưởng và càng được tự trị với Hội Truyền Giáo. Giáo hội cũng gởi giáo sĩ lên miền thượng du giảng đạo song song với các giáo sĩ C&MA.
Vào năm 1938, Mục sư Tiến sĩ Tống Thượng Tiết đến viếng Việt Nam và đã gây sự phục hưng trong nước, việc chứng đạo cá nhân được đẩy mạnh cho đến Thế Chiến Thứ Hai. Sự bành trướng của Giáo hội mạnh nhất ở miền Nam. Ở miền Trung dưới quyền của triều đình Việt Nam, hội thánh phát triển trung bình, nhiều tín đồ bị khó khăn và bắt bớ, ngoại trừ vùng tỉnh Quảng Nam đã phát triển mạnh mẽ, cung ứng nhiều mục sư cho toàn quốc. Ở miền Bắc, vì truyền thống gia đình và xã hội, với cùng một số nhân viên và ngân khoản, kết quả ở đây khiêm nhượng nhất.
Trong lúc thế giới được hưởng hòa bình sau khi Nhật và Đức đầu hàng, Việt Nam lại sa vào chiến tranh dành độc lập và sau đó là nội chiến tàn khốc. Nhiều mục sư và hàng trăm tín đồ bị giết, nhiều nhà thờ bị thiêu hủy và hàng ngàn tín đồ khác bị giam cầm. Sự tổn thất do chiến tranh gây ra đã làm nền tảng của giáo hội bị rung chuyển. Dưới sự lãnh đạo khéo léo của Mục sư Hội trưởng Lê Văn Thái, Giáo Hội đã dần dần phục hồi. Số tín đồ dần dần gia tăng bằng số trước Thế Chiến vào năm 1952. Hiệp định Genève năm 1954 trên nguyên tắc chấm dứt chiến tranh nhưng trên thực tế đã đưa đất nước đến những khủng hoảng chính trị, quân sự và kinh tế cho đến ngày nay.
Hương Mai
==================================
Lịch sử Giáo Hội
Cơ Đốc Phục Lâm An Thất Nhật Việt Nam
(1929-1989)
Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm An Thất Nhật Địa Hạt Việt Nam thuộc Liên Hiệp Hội Cơ Đốc Phục Lâm Đông Nam Á, Tổng Hội Viễn Đông của Toàn Cầu Tổng Hội Cơ Đốc Phục Lâm (General Conference of Seventh Day Adventists).
Với lòng kính yêu Chúa và thương xót tội nhơn nhiệt tình, Liên Hiệp Hội Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm An Thất Nhật Nam Hoa, nay là Liên Hiệp Hội Mã Lai, tức Liên Hiệp Hội Đông Nam Á ngày nay, từ năm 1915 đến năm 1927 đã liên tục cử các Thư Báo Truyền Đạo (nhân viên truyền bá giáo lý bằng cách bán, tặng sách đạo). Dương Thượng Thiên người Đài Loan, Tan Kia Ou người Trung Hoa, Giáo sĩ R. N. Milne người Mỹ đã đến các vùng Hải Phòng, Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Lạng Sơn, Sàigòn, Chợ Lớn... để truyền bá Tin Lành Cứu Rỗi. Trong thời gian ấy có một số người ở Sàigòn, Chợ Lớn, chú ý nghe và chấp nhận giáo lý Cơ Đốc Phục Lâm song mãi đến năm 1927, Liên Hiệp Hội Mã Lai (Liên Hiệp Hội Đông Nam Á ngày nay) mới cử hai Giáo sĩ R. H. Wentland và Fred Lloyd Pickett đến truyền giáo, học tiếng Việt và chánh thức mở Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm đầu tiên tại Sàigòn vào đầu tháng 12 năm 1929. Và cũng từ đó lịch sử Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm An Thất Nhật Địa Hạt Việt Nam lại gắn liền với lịch sử của đất nước, qua các cuộc thế thăng trầm suốt 60 năm qua. Lịch sử Hội Thánh có thể được chia làm sáu giai đoạn:
I. Thời kỳ phôi thai (1929-1937):
Trong thời kỳ này, các giáo sĩ nước ngoài cùng các tín đồ đầu tiên của Cơ Đốc Phục Lâm Thành Phố Sàigòn như Julien, Jean Fabre và Trần Ngọc Tế, Lê Văn Được, Bùi Văn Tiến, Nguyễn Văn Nhâm, Sính Văn Cham đã hết lòng lo lắng việc mở mang công việc Chúa.
Sau khi được Thống Đốc Nam Kỳ ký giấy phép cho giảng đạo và phát hành sách chứng đạo tháng 4 năm 1932, các vị Tín Đồ đầu tiên này đã quyên tiền để in sách chứng đạo, tổ chức chiến dịch giảng đạo công cộng và cá nhân.
Kết quả các Hội thánh miền Tây như Cần Thơ, Long Xuyên, Ô Môn; miền Trung như Đà Nẵng, Đại Lộc (QN-ĐN), được thành lập.
Hội thánh ngày một tăng trưởng về số lượng cũng như về đời sống thuộc linh để chuẩn bị cho thời kỳ phát triển đang mở ra cho Giáo Hội.
II. Thời kỳ phát triển (1937-1941):
Để đáp ứng nhu cầu truyền giáo và tự trị địa phương, Liên Hiệp Hội Mã Lai, tức Liên Hiệp Hội Đông Nam Á ngày nay, trong một Hội Đồng Địa Hạt đầu tiên của Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm tại Đà Nẵng vào tháng 3 năm 1937, đã bầu Giáo sĩ F. L. Pickett làm Hội Trưởng, cùng một số giáo sĩ và tín hữu Việt Nam là nhân viên của Giáo Hội, trụ sở đầu tiên tại Đà Nẵng. Vừa thi hành chức vụ trọn năm, thì Giáo sĩ Hội Trưởng Pickett sau một cơn bạo bệnh đã ngủ yên trong Chúa ngày 1 tháng 4 năm 1938, xác được cất trong nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, Sàigòn, nay dời về nghĩa trang Gò Dưa Thủ Đức. Giáo sĩ R. H. Howlett Thư Ký Giáo Hội, lên giữ chức quyền Hội trưởng. Thời kỳ nầy tất cả các Hội thánh ở ba miền Trung, Nam, Bắc đều phát triển mạnh trên các lãnh vực:
Xây cất nhà thờ Vàm Nhon, Đà Nẵng, Đức Mỹ, Đại Lộc (QN-ĐN), Hà Nội, Di Linh;
Mở mang trường học như Vàm Nhon, Long Xuyên, Chợ Lớn, Đà Nẵng (Trường tiểu học Long Xuyên là một trong hai trường được ghi nhận trong quyển niên giám Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm thế giới SDA Yearbook 1939),
Phát triển về y tế ở Cần Thơ, trường Sa Bát và trạm y tế Hội thánh Di Linh, Hà Nội.
Năm 1939, Giáo Hội cũng thành lập ấn quán Thời Triệu để in sách giáo dục và truyền đơn chứng đạo, giai đoạn nầy nhà in còn trong thời kỳ phôi thai, chỉ chú trọng đến việc đúc chữ, làm hộp chữ, đào tạo ấn công như sắp chữ chạy máy in.
Quan trọng nhất trong thời kỳ nầy là đã thành lập được một trường Thánh Kinh Thần Học tại Gia Định, trường thu nhận sinh viên từ ba miền, có 19 khóa sinh tốt nghiệp truyền đạo và được bổ nhiệm vào các chức vụ: Chủ tọa Hội thánh, cán bộ ngành giáo dục, cán bộ ngành in và Thư báo Truyền đạo. Vào cuối thời kỳ nầy, tình hình chính trị đột biến trên toàn bán đảo Đông Dương, Nhựt vào chiếm đóng Sàigòn, vì thế giáo sĩ nước ngoài phải rời Việt Nam, và lịch sử Giáo Hội, cũng như lịch sử Việt Nam, bước vào giai đoạn khó khăn của hiểm họa chiến tranh thế giới lần thứ hai.
III. Thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai (1942-1946):
Đây là thời kỳ khó khăn của Giáo Hội trong nước cũng như Giáo Hội Thế Giới. Vì sự chiếm đóng Việt Nam cũng như Mã Lai và Singapore (là nơi có trụ sở Liên Hiệp Hội Cơ Đốc) của quân đội Nhật Bản, nên các trục lộ giao thông bị cắt đứt, nhiều Chi Hội địa phương mất liên lạc với Hội Sở Trung Ương đặc biệt là các Hội thánh miền Bắc, miền Trung, cao nguyên trung phần, một số nhà thờ bị tàn phá, các mục sư truyền đạo phải tự lo sinh kế. Nhiều Hội thánh mất người chăn, các Hội thánh Lôi Cầu, Hà Nội, Đà Nẵng, Đức Mỹ và Di Linh cũng rơi vào tình trạng đó. Bi đát hơn nữa là hai Hội thánh Mặc Cần Dưng và Long Xuyên bị giải tán.
Trong thời kỳ nầy thành phần lảnh đạo Giáo Hội có sự thay đổi. Mặc dầu Giáo sĩ Robert Bentz (người Pháp) được bầu làm Hội Trưởng, việc điều hành công việc nhà Chúa trong Giáo Hội là do ông Trần Ngọc Tế với chức vụ Giáo Vụ Việt Nam đảm nhiệm.
Sự hoạt động của Giáo Hội hạn chế trong vòng Sàigòn, Chợ Lớn. Hội thánh Chợ Lớn được thành lập, dần dần lan ra miền Trung, Hội thánh Đức Mỹ (QN-ĐN) được tái nhóm họp và Thánh đường được kiến thiết. Rồi đến miền Bắc, Hội thánh Lôi Cầu, Hà Nội được tái nhóm và xây dựng nhà thờ.
Giáo Hội đặt trọng tâm vào việc huấn luyện cán bộ truyền giáo, trường Kinh Thánh tái hoạt động, và việc xuất bản sách báo cho Thư Báo Truyền Đạo. Tổ chức y tế của Giáo Hội trong thời kỳ nầy (Bảo Sanh viện Kiện Khương) cùng với Hội thánh Hoa Kiều Chợ Lớn đã đóng một vai trò quan trọng trong sự cung cấp tài chánh cho Giáo Hội.
IV. Thời kỳ chiến tranh giành độc lập (1946-1954):
Trong suốt thời kỳ chiến tranh chống Pháp, Giáo Hội chú trọng đến việc củng cố tổ chức nội bộ và tạo mãi một số bất động sản để làm trụ sở.
Tại Sàigòn, Giáo Hội mua biệt thự hai tầng ở ngã tư Phú Nhuận (góc đường Phan Đăng Lưu - Phan Đình Phùng bây giờ) làm tư thất Hội Trưởng và văn phòng Trung Ương Giáo Hội, cơ sở nầy sử dụng đến ngày hôm nay.
Ngoài ra Giáo Hội còn khởi công xây cất nhà thờ Phú Nhuận làm nhà thờ chính tiện việc nhóm lại của con cái Chúa trong vùng. Thời Triệu Ấn Quán cũng được xây cất để thích hợp cho việc in các ấn phẩm cần đến trong chương trình Thư Báo Truyền Đạo. Giáo Hội còn mua đất làm nhà thờ cho các nơi như Đà Lạt, Bàn Cờ, Hội thánh người thiểu số ở Đà Lạt, Hội thánh Đa Kao, Bàn Cờ, Sàigòn, thời gian nầy nhà thờ Đà Nẵng cũng được trùng tu một cách khang trang.
Những công tác giáo dục, Thánh Kinh hàm thụ, chương trình phát thanh Tiếng Nói Hy Vọng, được xúc tiến trong thời kỳ nầy.
V. Giai đoạn đất nước phân qua (1954-1975):
Sau khi đất nước phân qua, Hội thánh hai miền bị cô lập với nhau không thể liên lạc được. Cơ quan Trung Ương đặt tại Giáo Hội miền Nam nên miền Bắc không thể giao tiếp. Liên Hiệp Hội Đông Nam Á chính thức đặt tên cho Giáo Hội miền Nam là Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm An Thất Nhật Việt Nam. Thời gian nầy Giáo Hội có thể truyền giáo trên toàn lãnh thổ miền Nam.
Giáo Hội lo trùng tu các nhà thờ, trường học, cơ quan y tế, từ thiện đã bị đổ nát trong chiến tranh như những nhà thờ Đức Mỹ (Đại Lộc QN - ĐN), Trung Đạo (QN- ĐN), nhà thờ và trường học Vàm Nhon, kiến thiết các cơ sở:
Nhà thờ và trường học Cần Thơ, Thủ Đức
Nhà thờ Biên Hòa
Trường học Đà Lạt, Đà Nẵng (và tư thất hiệu trưởng), Phú Hòa, Hòa Duân
Nhà thờ và trường học Tiêng Liêng, Đam-rông, Rơ Chai, Darahoa, Đa-me, Kambuotte, Tam Kỳ, Sơn Chà, Trung Đạo (QN - ĐN),
Nhà thờ Quảng Ngải, Hoa Cường, Phú Hòa và tư thất mục sư
Trung tâm huấn luyện Cơ Đốc gồm có: Trường Thần Đạo Cơ Đốc, trường tiểu học Cơ Đốc, cơ sở nội trú, tư thất giáo chức, tư thất giám thị, trường điều dưỡng.
Bệnh viện Cơ Đốc và cư ốc cho nhân viên y tế (Sàigòn)
Tu sửa và trang bị máy móc tối tân cho nhà in Thời Triệu.
Phát thanh trong giai đoạn nầy là một phương tiện truyền bá niềm tin phúc âm duy nhất cho đồng bào miền Bắc, và góp phần xây dựng đời sống đức tin cho tín đồ miền Nam. Chương trình Tiếng Nói Hy Vọng phần Việt Ngữ phát thanh mỗi tuần một lần trên bốn đài Đà Lạt, Sàigòn, Nha Trang và Huế. Đầu thập niên 1960, mười đài trên toàn quốc phát thanh chương trình Tiếng Nói Hy Vọng hằng tuần, đây là chương trình được thính giả mến chuộng nhất trong các chương trình phát thanh tôn giáo.
Trường Sa Bát nhánh được tận dụng như một phương tiện truyền giáo hữu hiệu với sự tham gia tích cực của nhân viên các ngành và hàng giáo hữu. Riêng ở Sàigòn và vùng ngoại ô, có lúc có 20 trường Sa Bát nhánh được điều hành cùng một lúc. Một trường Sa Bát nhánh độc đáo nhất, khổng lồ nhất thế giới là trường Sa Bát nhánh tại làng cô nhi Phật Giáo Long Thành (Đồng Nai), học viên là 1.000 trẻ mồ côi với tăng nhi trong làng.
Chương trình nuôi cô nhi trong nhà cũng được phát động từ đầu năm 1970 do tổ chức từ thiện tư nhân tín đồ Cơ Đốc Phục Lâm Úc Châu tài trợ. Đây là chương trình bảo trợ những cô nhi còn cha hoặc mẹ, hoặc ông bà chú bác, hoặc thân nhân ruột thịt bằng lòng nuôi dưỡng trẻ mồ côi tại nhà, tiền nuôi dưỡng được giao cho thân nhân để để cấp dưỡng cô nhi. Các em thường được khuyến khích đi học ở các trường của Giáo Hội trong địa phương và được cấp thêm học bổng để sung vào tiền trợ cấp hằng tháng. Trẻ cô nhi và người nuôi dưỡng thường được mời tham gia trường Sa Bát nhánh gần nhà. Mục sư, truyền đạo chủ tọa các Hội thánh thường được mời làm đại diện chương trình tại địa phương. Có khoảng 400 cô nhi được bảo trợ trong chương trình nầy.
Các đoàn bố đạo trung ương và địa phương hoạt động rất tích cực, không hề nghỉ ngơi. Họ đi xe, đi bộ, đi ghe trên các sông rạch vào thành phố, các làng mạc nông thôn, các vùng cao nguyên hẻo lánh để truyền bá phúc âm, gây dựng Hội thánh. Đoàn Thư Báo Truyền Đạo được các nhà hảo tâm nước ngoài giúp năm chiếc thuyền để len lỏi trên các sông rạch chằng chịt miền Hậu Giang để phân phát sách báo chứng đạo do nhà in Thời Triệu xuất bản. Lực lượng Thư Báo Truyền Đạo nầy được đánh giá là lực lượng Thư Báo hùng hậu nhất trong Liên Hiệp Hội Đông Nam Á, vì tổng số nhân viên lên đến 104 người, hoạt động liên tục không hề mệt mỏi trên khắp nọi nơi.
Trường Thánh Kinh ngày một lớn mạnh, số lượng chiêu sinh mỗi năm một tăng, trong suốt thời kỳ nầy trường liên tục mở khóa dạy. Nhiều Mục sinh tốt nghiệp, được cử về chủ tọa các Hội thánh, giữ các bộ phận chuyên môn ở văn phòng địa hạt, ngành giáo dục, ngành y tế và phần lớn là sung vào Đoàn Thư Báo Truyền Đạo của Giáo Hội. Ngoài Thánh Kinh Thần Học Viện, Giáo Hội còn mở trường trung tiểu học ở những nơi có các Hội thánh hoạt động để hổ trợ chương trình truyền giáo cho các Hội thánh ấy. Ngoài hai trường trung học Cơ Đốc Sàigòn và chi nhánh Đại Học Đường Đông Nam Á, toàn thể Hội thánh trong Giáo Hội có 18 trường trung tiểu học được Bộ Quốc Gia Giáo Dục cho phép hoạt động như sau: Trường Chợ Lớn, Vàm Nhon, Đà Nẵng Cần Thơ, Tam Kỳ, Phú Hòa, Đà Lạt, Vĩng Bình, Sơn Chà (QN-ĐN), Thủ Đức (78/8 xã Phước bình), Đại Lộc (Hòa Duân-QNĐN), Rơ Chai, Darahoa, Đa-me, Đam-rông, Pang Tang, Tiêng Liêng, Kamboutte.
Giai đoạn nầy kéo dài hai thập niên, dài nhất trong các thời kỳ lịch sử của Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm Việt Nam và cũng là giai đoạn cực thịnh của Giáo Hội nhờ những điều kiện tương đối thuận lợi trong việc đi lại và rao giảng.
Khi đất nước phân đôi vào năm 1954, miền Nam chỉ có 4 Hội thánh là Phú Nhuận, Chợ Lớn, Đà Lạt và Đà Nẵng. Đến năm 1975, Giáo Hội miền Nam đã có 43 Hội thánh nhóm họp để thờ phượng Đức Chúa Trời: Đà Nẵng, Đại Lộc Đức Mỹ, Trung Đạo Đại Lộc, Quảng Huế Đại Lộc, Hòa Duân Đại Lộc, Phú Hoà, Sơn Chà, Hòa Cường, Hòa Khánh, Tam Kỳ thuộc tỉnh QN-ĐN. Quảng Ngải, Qui Nhơn, Nha Trang (1973), Đà Lạt, Ea-Yong B Đarlac, Đang Cang Đarlac, Ea-Kar Đarlac, Biên Hòa, Chợ Đệm, Cần Thơ, Vàm Nhon, Lạc Thiện Đắc Lắc, Pang Tang Đắc Lắc, Đam-rông Lâm Đồng, Krông Bach, Darohoa Lâm Đồng, Tiêng Liêng Lâm Đồng, Krong Lanh, Đa-me Lâm Đồng, Rơ Chai Lâm Đồng, Kamboutte Lâm Đồng, Kadeun, Bobla, Sré Bor. Phú Nhuận, Cách Mạng Đất Mới, Chợ Lớn, Thủ Đức, Sa Đéc, Vĩnh Bình, Gò Công, Tu Tra Đơn Dương, Long Thành (30-8-1991).
VI. Giai Đoạn thống nhất đất nước (1975-1991):
Năm 1975, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa hoàn toàn sụp đổ, đất nước được thống nhất. Một số mục sư trong hàng ngũ lãnh đạo đã cùng làn sóng người di tản khỏi Việt Nam để lại nhiều khó khăn cho Hội thánh và Giáo Hội. Để đáp ứng nhu cầu mới, ngày 25-4-1975, Ban Quản Trị Giáo Hội Việt Nam tổ chức Đại Hội Đại Biểu Giáo Dân toàn miền Nam để bầu bổ sung vào các chức viên của Ban Trị Sự, để làm việc cho đến đầu năm 1976.
Đại Hội Đồng Đại Biểu chính thức theo quy định củ Giáo Hội được triệu tập tổ chức ngày 10-1-1976, tại nhà thờ Phú Nhuận. Trong Hội Đồng nầy nhiều biểu quyết đã được thông qua trong đó có những điểm chính như sau:
Bổ nhiệm mục sư về chủ tọa các Hội thánh đang thiếu người chăn
Liên hệ với chính quyền địa phương có nhà thờ hiện chính quyền, các cơ quan, đoàn thể đang sử dụng vào công việc sớm bàn giao lại Hội thánh để có nơi con cái Chúa nhóm họp
Xin chính quyền và vận động ngân quỹ để trùng tu các nhà thờ bị tàn phá vừa qua trong cả nước
Gởi văn thư xin chính quyền cho phép Giáo Hội hoạt động tôn giáo trên toàn quốc
Hội thánh nào chưa bổ dụng được chủ tọa thì trưởng lảo và Ban Trị Sự Hội thánh đó tạm thời điều hành công việc nhóm họp và dạy lẽ đạo
Bầu Ban Trị Sự mới.
Từ 1976 đến 1991, Giáo Hội hoạt động trong phạm vi miền Nam, chưa có thể ra thăm chính thức các Hội thánh miền Bắc để có thể có một Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm thống nhất.
Các Hội thánh hoạt động riêng lẻ, chưa có thể tổ chức Hội Đồng hay họp bàn từng khu vực. Có nhiều Hội thánh vẫn sinh hoạt với một chương trình đầy đủ với Ban trường Sa Bát, Ban Chứng Đạo, Ban Từ thiện, Gia đình trẻ. Trong lúc ấy nhiều Hội thánh vì nhà thờ chưa có (dự định xây cất chưa được thực hiện thì giải phóng), hoặc hư hỏng chưa được trùng tu, hoặc các cơ quan chính quyền địa phương mượn làm kho, nhà trẻ, văn phòng hợp tác xã chưa trả lại nên phải nhóm ở các nhà riêng tín hữu. Chương trình nhóm họp gồm hát Thánh Ca Tôn Vinh Chúa, học lời Chúa qua sự làm chứng của các trưởng lão hay chức viên của Ban Trị Sự.
Giáo Hội hy vọng một ngày gần đây được chính quyền cho phép các nhà thờ được xây cất, trùng tu để Giáo Hữu có nơi nhóm lại Thờ Phượng Đức Chúa Trời cho thỏa lòng ước mong như Hội thánh Sa Đéc đã được chính quyền cho phép sinh hoạt lại ngày 31-1-1989, Hội thánh Cần Thơ, Vàm Nhon được mở cửa 1989, và một địa điểm mới nhất là Hội thánh Long Thành (xã Phước Thái) Đồng Nai, được giấy phép Ban Tôn Giáo Đồng Nai ngày 30-8-1991 cho nhóm lại.
Tài liệu Hội Thánh
=================================
Sơ Lược Lịch Sử Truyền Giáo Của
Giáo Hội Báp Tít Nam Phương Tại Miền Nam Việt Nam
Từ Năm 1959 Đến Năm 1975
Các giáo sĩ Báp-tít Nam Phương đến Việt Nam truyền giáo từ năm 1959 đến năm 1975. Gia đình giáo sĩ đầu tiên đến Việt Nam học ngôn ngữ, tập quán, phong tục để có thể truyền giáo cho người Việt Nam là gia đình ông bà giáo sĩ Herman Hayes. Kế đến là các ông bà giáo sĩ William Roberson, Samuel Longbottom, Lewis Myers, Samuel James, Robert Davis, Ron Merrell, Earl Beengs, Peyton Moore, Robert Compher, Walter Routh, Jim Gayle, James Kellum, Joe Turman, David Wigger, Gene Tunnell, Ken Goad. Ông bà Jim Humphries đến Việt Nam hầu việc Chúa trong tư cách tuyên úy. Ngoài ra, còn có nhiều thanh niên, thiếu nữ độc thân đến để hổ trợ cho công tác truyền giáo với nhiệm kỳ hai năm trong đó có David Lincohnhocker, George Pickle, Mary Kay Johnson, Rosalie Beck, Karen Russey Gross.
Các giáo sĩ cùng với gia đình đến Việt Nam truyền giáo để chu toàn mạnh lịnh của Chúa trong Ma-thi-ơ 28:18-20 Đức Chúa Jêsus đến gần, phán cùng môn đồ như vầy: Hết cả quyền phép ở trên trời và dưới đất đã giao cho ta. Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhơn danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp-têm cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế.
Những hội thánh được thành lập bao gồm Hội Thánh Ân Điển, Hội Thánh Bình An tại Sài Gòn, Hội Thánh Đức Tin, Chi Hội Hàng Xanh tại Gia Định, Hội Thánh Phú Thọ Hòa, Hội Thánh Bình Tiên tại Chợ Lớn. Tại Miền Trung, ngay tại Đà Nẵng có Hội Thánh Hy Vọng với nơi nhóm lại thật khang trang và cách tổ chức rất qui củ. Công việc Chúa tại nơi này phần lớn do Ông Bà Giáo Sĩ Lewis Myers gầy dựng với các tín hữu đầy lòng sốt sắng, nhiệt thành. Tại Quảng Ngãi có nhiều nhóm tín hữu nhóm lại dưới sự hướng dẫn và huấn luyện của Ông Bà Giáo Sĩ Walter Routh. Tại Huế Ông Bà Giáo Sĩ Robert Davis thành lập được một hội thánh ngay tại thành nội với sự nhóm lại rất trang nghiêm. Qui Nhơn là nơi Ông Bà Giáo Sĩ Robert Compher hầu việc Chúa. Hội Thánh nơi này có nơi nhóm lại rất tốt do Ông Bà Giáo Sĩ Robert Compher cùng các tuyên úy và các tín hữu Việt Nam góp công xây cất. Hội Thánh tại Nha Trang do Mục Su Nguyễn Xuân Cảnh đảm nhiệm với sự hỗ trợ của các giáo sĩ. Chi Hội ở Phước Hải là địa điểm truyền giáo khá gần Nha Trang. Ông Bà Giáo Sĩ Jim Gayles đến hầu việc Chúa tại Cam Ranh. Tại đây có Giáo Sư Nguyễn Xuân Hà nguyên là Thanh Tra Trung học Cam Ranh và là người lãnh đạo đầy khả năng. Dưới sự hướng dẫn của ông và sự hỗ trợ của các giáo sĩ và các tuyên úy, một Cô Nhi Viện được thành lập. Vào cuối Tháng Tư năm 1975, các em cô nhi tại Cô Nhi Viện này được đưa vào Miền Nam và sau đó được đưa sang Hoa Kỳ. Tại Đà Lạt có Hội Thánh Đức Tin được thành lập với một số gia đình tín hữu. Đây là nơi các giáo sĩ được đưa đến để học Việt Ngữ trước khi đảm nhận nhiệm sở. Tại Cần Thơ Ông Bà Giáo Sĩ Herman Hayes là người đã gầy dựng và tiếp tục truyền giáo cho đến khi phải rời khỏi Việt Nam. Vào năm 1969 có một chương trình truyền giảng được phát động từ những nơi được kể đến trên đây. Số người tin Chúa qua chương trình truyền giảng này tuy ít như chính chương trình này đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong công tác truyền giáo của Giáo Hội Báp Tít Nam Phương.
Trụ sở của Cơ Quan Truyền Giáo tọa lạc tại 111 Chi Lăng, Phú Nhuận. Trong 5 năm đầu thập niên 1970, trụ sở này là văn phòng trung ương của Hội Truyền Giáo. Phần trong cùng của cơ sở được dùng làm nơi cư ngụ cho hai gia đình giáo sĩ. Phần trước là Phòng Sách gắn liền với Cơ Quan Tu Thư Và Ấn Loát do Giáo Sĩ William Roberson làm Giám Đốc. Cùng làm việc với ông có Ông Lê Văn Hòa đặc trách về tu thư và Ông Trịnh Ngọc Thanh đặc trách về ấn loát cùng các nhân viên khác.
Công tác xã hội do Tiến Sĩ Gene V. Tunnell hướng dẫn. Công tác y tế do Bà Giáo Sĩ Rachel James đảm trách. Từ những xe y tế lưu động nhiều bệnh nhân được chẩn bệnh và phát thuốc miễn phí. Chương trình Học Kinh Thánh Hàm Thụ Và Phát Thanh do Giáo Sĩ Peyton Moore chuẩn bị với sự cọng tác của Mục Sư Đỗ Văn Dũng.
Viện Thần Học Báp-tít Việt Nam được thành lập ở Thủ Đức và sau đó được dời về 33-B Nguyễn Văn Trương, Gia Định. Người đã gầy dựng, chăm sóc và mang hết tâm tình, năng lực phục vụ trong tư cách Viện Trưởng từ thuở ban đầu cho đến khi Viện Thần Học phải đóng cửa làTiến Sĩ Samuel James. Giáo ban của Viện Thần Học gồm các giáo sĩ trong nước cũng như ngoài nước. Tiến Sĩ Leo Crisman là người đã tận tụy gầy dựng một thư viện trên 3,000 cuốn sách rất giá trị. Những người đã hoàn tất học trình cử nhân thần học của Viện Thần Học Báp-tít Việt Nam là các mục sư Lê Quốc Chánh, Đỗ Vĩnh Thành, Trương Văn Hy, Đào Văn Chinh, Đỗ Văn Dũng và Dư Kiện Sanh. Song song với việc đào tạo người hầu việc Chúa trong học trình cử nhân thần học, Viện Thần Học còn có chương trình huấn luyện nữ giáo viên. Chương trình huấn luyện này do Cô Olive Allen và các bà giáo sĩ đảm trách. Từ đầu năm 1974 đến tháng 4 năm 1975 Viện Thần Học còn phát triển chương trình huấn luyện cho các lãnh đạo được những hội thánh quanh vùng cử đến tham dự. Trong khoảng đầu năm 1975 Mục Sư Đào Văn Chinh là người đảm nhận chức vụ Xử Lý Thường Vụ Viện Trưởng Viện Thần Học Báp Tít Việt Nam cho đến khi cơ sở của viện phải trao cho tân chánh quyền.
Mục sư Đào Văn Chinh
========================
Lịch sử Hội Truyền Giáo Tin Lành Mennonite tại Việt Nam.
Hội Truyền Giáo Tin Lành Mennonite tại Việt Nam bắt đầu hoạt động vào năm 1957 khi ông bà Giáo sĩ James và Arlene Stauffer đến Sàigòn dưới sự bảo trợ của Hội Đồng Mennonite tại Lancaster, Pennylvania. Ông bà làm việc dưới Đoàn Truyền Giáo và Xã Hội Mennonite Đông Phương (Eastern Mennonite Board of Missions and Charities). Sau nhiều năm hoạt động, đến năm 1961, có nhiều tín đồ được làm phép báp-têm. Một Trung Tâm Sinh Viên của Hội Mennonite được tạo mãi ở đối diện với Bệnh Viện Bình Dân, Sàigòn. Trung Tâm nầy được dùng cho tín đồ họp mặt, thông công. Tại đây cũng có một phòng đọc sách, thư viện và các lớp dạy anh ngữ đã được tổ chức để giúp đỡ các sinh viên học sinh.
Sau đó, các hoạt động truyền giáo được mở rộng ra đến Gia Định (1964), Cần Thơ (1970), và hai trung tâm khác ở Sàigòn được thành lập. Hội Thánh đầu tiên được thành lập là Hội Thánh Gia Định, nay là quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh. Hội Thánh Gia Định, qua các hoạt động y tế, xã hội, giáo dục đã giúp đỡ dân chúng trong vùng một cách đắc lực. Sau Tết Mậu Thân, Hội Truyền Giáo đã giúp đỡ hằng trăm gia đình sửa chửa, xây lại nhà cửa. Vào tháng 3 năm 1969, Mục sư Trần Xuân Quang được phong chức, ngôi nhà thờ mới được xây dựng và dâng hiến vào năm 1973, trong đó có Trường Tiểu Học Rạng Đông. Nhiều tín đồ hoạt động mạnh trong việc truyền giáo và xã hội giúp đỡ đồng bào địa phương.
Vào năm 1964, chính phủ thừa nhận Hội Truyền Giáo Tin Lành Mennonite. Đến năm 1973, các Hội Thánh họp với nhau và thành lập Giáo Hội Tin Lành, hệ phái Mê-nô-nít. Giáo Hội Tin Lành Mê-nô-nít được tự trị, không lệ thuộc vào Hội Truyền Giáo lúc đó.
Sau khi đất nước thống nhất, tài sản của Hội Thánh và Hội Truyền Giáo bị chính quyền trưng dụng. Một số tín đồ rời Việt Nam, nhiều người khác trở về quê, những người còn lại đến nhóm các Hội Thánh Tin Lành Việt Nam hoặc Báp Tít ở Thành Phố Hồ Chí Minh.
Ngày nay, có nhiều nhóm tín hữu Mennonite trong nhiều nơi ở Việt Nam. Nhiều tín hữu được giao phó các chức vụ lãnh đạo hội thánh ở Philadelphia, Sacramento và Honolulu.
Hội Truyền Giáo Mennonite thật ra đã bắt đầu hoạt động xã hội từ năm 1954 khi Ủy Ban Trung Ương Mennonite (Mennonite Central Committee hay MCC) đến miền Nam để giúp đỡ người tị nạn. Đây là cơ quan cứu trợ và phát triển của tất cả các Hội thánh Mennonite ở Canada và Hoa Kỳ. Sau đó MCC chú tâm vào công tác y tế và nông nghiệp trên vùng cao nguyên. Các chuyên viên của MCC như y tá, bác sĩ, kỷ sư nông nghiệp... cộng tác chặt chẽ với Hội Thánh Tin Lành Việt Nam làm việc tại Bệnh Viện Cùi Ban Mê Thuộc (từ năm 1955) và Bệnh Viện Tin Lành Hòn Chồng Nha Trang (từ năm 1960).
Vào năm 1966, MCC thành lập Tổ Chức Xã Hội Tin Lành (Vietnam Christian Service hay VNCS) với sự cộng tác của Church World Service và Lutheran World Relief. Các nhân viên từ Ấn Độ, Nhật Bản, Thụy Sĩ, Mỹ, Gia Nã Đại cùng làm việc với nhau để giúp đỡ xã hội, y tế, giáo dục và nông nghiệp ở các nơi như Pleiku, Quãng Ngải, Tam Kỳ. Di Linh, Huế và Sàigòn.
Các nhân viên Mennonite tình nguyện đến giúp Việt Nam nhằm mục đích hòa bình, ở Việt Nam hay Mỹ. MCC luôn cố gắng giúp nạn nhân chiến tranh ở miền Nam lẫn miền Bắc, từ năm 1966, Hội thỉnh thoảng gởi đồ cứu trợ cho miền Bắc. Sau chiến tranh, MCC tiếp tục tìm cách giúp đỡ dân chúng Việt Nam và đã mở một văn phòng tại Hà Nội vào năm 1990.
Giáo sĩ Luke S. Martin
Đọc thêm!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)