Kính lạy Đức Chúa Trời! Con nhận biết con là người có tội cần được sự tha thứ. Con tin chắc rằng Đức Chúa Giê-su đã giáng thế, sống một cuộc đời hoàn hảo, và chịu chết đền tội cho con trên thập tự giá, Ngài cũng đã sống lại để con được sự sống vĩnh cửu. Con xin ăn năn mọi tội lỗi và đặt lòng tin nơi Chúa ngay giờ này. Con xin Chúa ngự vào lòng con để hướng dẫn con trên bước đường theo Chúa. Con tạ ơn Chúa và cầu nguyện nhân danh Đức Chúa Cứu Thế Giê-su. Amen.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài học. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Ba, 15 tháng 5, 2012
HÃY SUY NGHĨ "BẠN LÀM ĐƯỢC!"
Con người không thể chọn lựa họ hàng của mình, nhưng lại có thể chọn lựa suy nghĩ. Lối sống mới, cách suy nghĩ tiên phong đôi khi còn mang lại nguồn của cải vô giá.
Tiến sĩ Bruce Wilkison, tác giả cuốn Lời cầu nguyện của Jabez (The Prayer of Jabez) và Bảy quy tắc dành cho người ham học hỏi (The 7 Laws of the Learner) và nhiều quyển sách bán chạy khác, đã thuật lại câu chuyện về phép nhiệm màu đến từ một lời phê bình có thể làm thay đổi hoàn toàn nhận thức về bản thân mình cũng như thay đổi cả tương lai của ông.
Khi còn theo học trong một trường dòng, Bruce không bao giờ vắng mặt trong tất cả các tiết học có giáo sư Howard Hendricks giảng dạy. Ai cũng biết Howard Hendricks là một giáo sư danh tiếng, một nhà diễn thuyết xuất chúng và là một người huấn luyện kỹ năng lãnh đạo tài ba. Bản thân Bruce rất thần tượng giáo sư Howard và luôn luôn lắng nghe những lời vàng ngọc mà giáo sư dành cho mình. Một ngày nọ, Bruce lấy làm hãnh diện khi nhận lại bài làm của mình với điểm số tuyệt đối là A . Thêm vào đó, Bruce còn cảm thấy vô cùng hạnh phúc khi vị giáo sư đáng kính đã để lại hàng chữ viết như thế này: “Bruce ạ! Tôi tin rằng anh có tiềm năng để trở thành một trong những người thuyết giảng Kinh Thánh vĩ đại nhất của thế hệ mình”.
Khi đọc xong, Bruce rảo bước về nhà, ông cầm bài làm của mình bằng cả hai tay áp vào lồng ngực, nâng niu như thể đó là chén thánh mà anh vừa được ban tặng. Anh phóng lên lầu, lao ngay vào căn hộ của mình và khoe với vợ những gì Tiến sĩ Hendricks đã viết. Và phần còn lại của câu chuyện đã trở thành lịch sử. Bruce Wilkinson đã trở thành một trong những giáo sư đồng thời là nhà thuyết giảng vĩ đại nhất nước Mỹ, không chỉ về Kinh Thánh mà còn về hàng loạt các đề tài khác nữa.
(Câu chuyện được trích từ quyển sách "Vươn tới sự hoàn thiện" do Công ty First News phát hành)
Bài học
Những suy nghĩ tích cực, một lời khen ngợi đúng lúc, một lời khẳng định "bạn làm được" có thể mang lại nguồn năng lượng và sức mạnh lớn lao cho người nhận nó. Nuôi dưỡng niềm đam mê, suy nghĩ "tôi làm được", không ngừng nỗ lực hành động vươn tới mục tiêu, ước mơ của mình, bạn sẽ thực sự đạt được những điều mình mong muốn và thành công trong cuộc sống.
“Chúng ta sẽ trở thành điều mà chúng ta hay nghĩ đến nhất. Cuộc cách mạng vĩ đại nhất của thời đại này là khám phá ra rằng, nhờ thay đổi thái độ từ trong chính nội tâm mà con người có thể thay đổi được cả thế giới bên ngoài.” - William James
Thêm nữa, đừng tiếc lời khen ngợi, động viên những người xung quanh nếu họ xứng đáng nhận những lời ấy và nếu chúng giúp họ mạnh mẽ hơn, vui vẻ hơn, đạt được mục tiêu của mình.
Lời khen ngợi đúng lúc sẽ giúp sưởi ấm và nuôi dưỡng ý chí cho người nhận nó
Quanh bạn sẽ ngập tràn niềm hi vọng, tiếng cười, những lời nói động viên, khích lệ, những điều tốt đẹp cho cuộc sống này. Điều đó không tuyệt vời sao !?
(Cheese Group - Đặng Hồng Quý)
http://cheesegroup.com/vi-vn/1235/4793/Bai-Hoc-Tu-Cheese-Group/Hay-Suy-Nghi-Ban-Lam-Duoc
Đọc thêm!
Chủ Nhật, 21 tháng 11, 2010
Khi Chúa Muốn Một Người
Khi Chúa muốn rèn luyện một người
Muốn tôi luyện một người
Đứng ra đảm nhận sứ mạng cao cả
Khi Chúa muốn tạo nên một người
Một người đủ cam đảm và mạnh mẽ
Để sau này nhân loại ngợi ca
Hãy xem Chúa làm thế nào
Hãy xem Chúa tôi luyện người đó một cách không thương xót
Người mà Chúa đã lựa chọn
Chúa rèn người đó
Làm cho người đó đau đớn
Và với những thử thách khắc nghiệt nhất
Làm biến đổi người đó
Hình thành nên những đức tính cần thiết cho sau này
Khi người đó đau đớn
Khi trái tim người đó rỉ máu
Chúa vẫn tiếp tục tôi luyện
Chúa vẫn tiếp tục tôi luyện
Nhưng không bao giờ làm hỏng người đó
Chúa nung chảy người đó
Và bằng mọi cách khích lệ người đó
Thử hết sức mình
Chúa biết dự định của mình…
Khi Chúa muốn tạo nên một người
Muốn thức tỉnh một người
Để giao phó một sứ mạng trong tương lai
Chúa làm tất cả
Để tạo nên một người vĩ đại và hoàn chỉnh
Chúa khôn khéo chuẩn bị cho người đó
Những đức tính cần thiết
Chúa khiêu khích người đó
Rồi lại khích lệ người đó
Nhưng không bao giờ làm hại người đó
Và trong khó khăn nâng đỡ người đó
Chúa làm cho người đó thất vọng
Và đôi khi đưa người đó vào hoàn cảnh tuyệt vọng
Nhưng khôn ngoan che chở cho người đó
Cho dù đôi khi tài năng của người đó bị mọi người bỏ qua
Nhưng người đó vẫn tiếp tục cố gắng
Và những khi cô đơn…
Người đó dần hiểu ra những điều Chúa muốn nhắn nhủ với mình
Những điều Chúa dự định
Mặc dù người đó không hiểu
Nhưng đã cho người đó nghị lực để cố gắng
Chúa không ngừng thúc giục người đó tiến lên
Thúc giục người đó tiếp tục cố gắng
Người mà Chúa đã lựa chọn kỹ càng
Khi Chúa muốn tôn vinh một người
Muốn thuần dưỡng một người
Muốn khích lệ một người
Đứng ra đảm nhiệm một sứ mạng cao cả
Chúa đưa ra những thử thách khắc nghiệt nhất
Những thử thách để rèn nên một con người cao cả
Chúa tôi luyện người đó
Thử thách người đó
Hun đúc người đó
Và truyền cho người đó khát vọng
Những khát vọng cháy bỏng
Về một mục đích cao xa
Chúa hứa hẹn người đó
Rồi lại làm tan nát trái tim người đó
Đặt ra những thử thách
Rồi lại đặt ra những thử thách mới khi người đó gần vượt qua
Bắt người đó băng rừng, lội suối
Bằng cách đó Chúa đã tạo nên một người
Và để thử thách lần cuối
Chúa đưa ra một lựa chọn nghiệt ngã
Chúa đặt một ngọn núi chắn đường
Và nói với người đó:
“Con phải vượt qua hoặc là chết!”
Chúa đã rèn một người như vậy
Không ai hiểu được
Những điều Chúa sắp đặt
Nhưng thật sai lầm nếu nghĩ Chúa đui mù
Khi bàn chân của người đó bầm nát và chảy máu
Tinh thần của người đó vẫn vượt lên trên tất cả
Soi sáng và khai phá những con đường mới cho nhân loại
Vượt qua mọi chông gai và trở ngại
Người đó vẫn không mất đi lòng nhiệt huyết của mình
Rồi đến một ngày kia…
Khi mọi niềm hy vọng bị dập tắt
Khi thế giới xảy ra khủng hoảng cần một bàn tay dẫn dắt
Khi tất cả mọi người cần một niềm tin
Lúc đó có một người đứng lên dẫn dắt mọi người
Và chỉ đến khi đó mọi người mới hiểu dự định của Chúa
Và khi đó nhân loại tìm ra: một người!
Chú thích:
Nature: dịch nguyên văn là Mẹ Thiên Nhiên, Đấng Tối Cao, Chúa. Ở đây có thể tạm hiểu là Luật công bằng.
Có vài câu tôi không hiểu rõ ý tác giả nên không dịch. Hy vọng không làm mất đi ý của toàn bài thơ.
Bình Luận:
Bài thơ này được nữ thi sĩ Angela Morgan (người Mỹ) viết năm 1918. Vào thời điểm thế giới đang có nhiều biến động quanh Thế chiến lần thứ nhất. Bài thơ này là một ví dụ tuyệt vời minh chứng cho Luật thử thách. Bài thơ đề cập quá trình Chúa thử thách và tôi luyện một con người để sau này người đó trở thành một người dẫn dắt nhân loại.
Cũng như nữ thi sĩ Angela, tôi tin rằng những khó khăn, những mất mát và những thất bại là những công cụ tốt nhất để qua đó, Chúa thử thách và rèn luyện một con người, kẻ mà sau này Người sẽ lựa chọn để thực hiện những sứ mạng của mình. Người muốn tin chắc rằng kẻ được Người giao phó sẽ có đủ những năng lực cần thiết để có thể thực hiện được sứ mạng của mình. Thông qua thử thách, Người gạn lọc và loại bỏ những căn bã của người đó. Thông qua thử thách, Người muốn tôi luyện để người đó có thể đứng vững và vượt qua được những thử thách khắc nghiệt nhất.
Kẻ được Người lựa chọn thực hiện những sứ mạng cao cả phải vượt qua những thử thách gì? Người đó phải trải qua những mất mát tưởng chừng như không gì bù đắp nổi. Người đó phải trải qua những đau đớn về thể xác và tinh thần tưởng chừng như không thể chịu đựng nổi. Người đó phải trải qua những giờ phút ở sâu dưới đáy cùng của tuyệt vọng và cuộc đời kẻ tưởng chừng như không có lối thoát, không còn đường ra.
Nói tóm lại, người đó phải trải qua rất nhiều đau đớn, thất bại và vấp ngã. Nhưng vượt lên trên tất cả, người đó vẫn âm thầm và lặng lẽ cố gắng và không bao giờ đánh mất đi niềm tin và lòng nhiệt huyết của mình.
Nhưng tôi tin rằng nhất định đến một ngày thế giới cần đến những con người như vậy. Những con người đứng trước những cơn dông tố bão bùng, trước những tiếng sấm rền vang vẫn không nao lòng. Những con người biết trấn an mọi người trong cơn hoảng loạn nguy biến. Những con người biết nắm lấy bàn tay và dẫn đắt mọi người, những con người đang lầm đường lạc lối. Những con người biết nhìn xa trông rộng, biết dung hòa những điều không thể dung hòa, biết soi sáng và mở những con đường mới cho nhân loại…
When Nature Wants a Man
Angela Morgan
When Nature wants to drill a man
And thrill a man
When Nature wants to mould a man
To play the noblest part
When she yearns with all her heart
To create so great and bold a man
That all the world shall praise
Watch her method, watch her ways!
How she ruthlessly perfects
Whom she royally elects
How she hammers him and hurts him
And with mighty blows converts him
Into trial shapes of clay which only Nature understands
While his tortured heart is crying and he lifts beseeching hands!
How she bends, but never breaks
When his good she undertakes
How she uses who she chooses
And with every purpose fuses him
By every art induces him
To try his splendor out
Nature knows what she’s about
When Nature wants to take a man
And shake a man
And wake a man
When Nature wants to make a man
To do the Futures will
When she tries with all her skill
And she yearns with all her soul
To create him large and whole
With what cunning she prepares him!
How she goads and never spares him
How she whets him and she frets him
And in poverty begets him
How she often disappoints
Whom she sacredly anoints
With what wisdom she will hide him
Never minding what betide him
Though his genius sob with slighting and his
Pride may not forget!
Bids him struggle harder yet
Makes him lonely
So that only
God’s high messages shall reach him
So that she may surely teach him
What the Hierarchy planned
Though he may not understand
Gives him passions to command
How remorselessly she spurs him
With terrific ardor stirs him
When she poignantly prefers him!
When Nature wants to name a man
And fame a man
And tame a man
When Nature wants to shame a man
To do his heavenly best
When she tries the highest test
That her reckoning may bring
When she wants a god or king!
How she reigns him and restrains him
So his body scarce contains him
While she fires him
And inspires him!
Keeps him yearning, ever burning for a
Tantalizing goal
Lures and lacerates his soul
Sets a challenge for his spirit
Draws it higher when he’s near it
Makes a jungle, that he clear it
Makes a desert, that he fear it
And subdue it if he can
So doth Nature make a man
Then, to test his spirit’s wrath
Hurls a mountain in his path
Puts a bitter choice before him
And relentless stands o’er him
“Climb, or perish!” so she says
watch her purpose, watch her ways!
Nature’s plan is wondrous kind
Could we understand her mind
Fools are they who call her blind
When his feet are torn and bleeding
Yet his spirit mounts unheeding
All his higher powers speeding
Blazing newer paths and fine
When the force that is divine
Leaps to challenge every failure and his ardor still is sweet
And love and hope are burning in the presence of defeat
Lo, the crisis! Lo, the shout
That must call the leader out.
When the people need salvation
Doth he come to lead the nation
Then doth Nature show her plan
When the world has found: a man!
Đọc thêm!
Muốn tôi luyện một người
Đứng ra đảm nhận sứ mạng cao cả
Khi Chúa muốn tạo nên một người
Một người đủ cam đảm và mạnh mẽ
Để sau này nhân loại ngợi ca
Hãy xem Chúa làm thế nào
Hãy xem Chúa tôi luyện người đó một cách không thương xót
Người mà Chúa đã lựa chọn
Chúa rèn người đó
Làm cho người đó đau đớn
Và với những thử thách khắc nghiệt nhất
Làm biến đổi người đó
Hình thành nên những đức tính cần thiết cho sau này
Khi người đó đau đớn
Khi trái tim người đó rỉ máu
Chúa vẫn tiếp tục tôi luyện
Chúa vẫn tiếp tục tôi luyện
Nhưng không bao giờ làm hỏng người đó
Chúa nung chảy người đó
Và bằng mọi cách khích lệ người đó
Thử hết sức mình
Chúa biết dự định của mình…
Khi Chúa muốn tạo nên một người
Muốn thức tỉnh một người
Để giao phó một sứ mạng trong tương lai
Chúa làm tất cả
Để tạo nên một người vĩ đại và hoàn chỉnh
Chúa khôn khéo chuẩn bị cho người đó
Những đức tính cần thiết
Chúa khiêu khích người đó
Rồi lại khích lệ người đó
Nhưng không bao giờ làm hại người đó
Và trong khó khăn nâng đỡ người đó
Chúa làm cho người đó thất vọng
Và đôi khi đưa người đó vào hoàn cảnh tuyệt vọng
Nhưng khôn ngoan che chở cho người đó
Cho dù đôi khi tài năng của người đó bị mọi người bỏ qua
Nhưng người đó vẫn tiếp tục cố gắng
Và những khi cô đơn…
Người đó dần hiểu ra những điều Chúa muốn nhắn nhủ với mình
Những điều Chúa dự định
Mặc dù người đó không hiểu
Nhưng đã cho người đó nghị lực để cố gắng
Chúa không ngừng thúc giục người đó tiến lên
Thúc giục người đó tiếp tục cố gắng
Người mà Chúa đã lựa chọn kỹ càng
Khi Chúa muốn tôn vinh một người
Muốn thuần dưỡng một người
Muốn khích lệ một người
Đứng ra đảm nhiệm một sứ mạng cao cả
Chúa đưa ra những thử thách khắc nghiệt nhất
Những thử thách để rèn nên một con người cao cả
Chúa tôi luyện người đó
Thử thách người đó
Hun đúc người đó
Và truyền cho người đó khát vọng
Những khát vọng cháy bỏng
Về một mục đích cao xa
Chúa hứa hẹn người đó
Rồi lại làm tan nát trái tim người đó
Đặt ra những thử thách
Rồi lại đặt ra những thử thách mới khi người đó gần vượt qua
Bắt người đó băng rừng, lội suối
Bằng cách đó Chúa đã tạo nên một người
Và để thử thách lần cuối
Chúa đưa ra một lựa chọn nghiệt ngã
Chúa đặt một ngọn núi chắn đường
Và nói với người đó:
“Con phải vượt qua hoặc là chết!”
Chúa đã rèn một người như vậy
Không ai hiểu được
Những điều Chúa sắp đặt
Nhưng thật sai lầm nếu nghĩ Chúa đui mù
Khi bàn chân của người đó bầm nát và chảy máu
Tinh thần của người đó vẫn vượt lên trên tất cả
Soi sáng và khai phá những con đường mới cho nhân loại
Vượt qua mọi chông gai và trở ngại
Người đó vẫn không mất đi lòng nhiệt huyết của mình
Rồi đến một ngày kia…
Khi mọi niềm hy vọng bị dập tắt
Khi thế giới xảy ra khủng hoảng cần một bàn tay dẫn dắt
Khi tất cả mọi người cần một niềm tin
Lúc đó có một người đứng lên dẫn dắt mọi người
Và chỉ đến khi đó mọi người mới hiểu dự định của Chúa
Và khi đó nhân loại tìm ra: một người!
Chú thích:
Nature: dịch nguyên văn là Mẹ Thiên Nhiên, Đấng Tối Cao, Chúa. Ở đây có thể tạm hiểu là Luật công bằng.
Có vài câu tôi không hiểu rõ ý tác giả nên không dịch. Hy vọng không làm mất đi ý của toàn bài thơ.
Bình Luận:
Bài thơ này được nữ thi sĩ Angela Morgan (người Mỹ) viết năm 1918. Vào thời điểm thế giới đang có nhiều biến động quanh Thế chiến lần thứ nhất. Bài thơ này là một ví dụ tuyệt vời minh chứng cho Luật thử thách. Bài thơ đề cập quá trình Chúa thử thách và tôi luyện một con người để sau này người đó trở thành một người dẫn dắt nhân loại.
Cũng như nữ thi sĩ Angela, tôi tin rằng những khó khăn, những mất mát và những thất bại là những công cụ tốt nhất để qua đó, Chúa thử thách và rèn luyện một con người, kẻ mà sau này Người sẽ lựa chọn để thực hiện những sứ mạng của mình. Người muốn tin chắc rằng kẻ được Người giao phó sẽ có đủ những năng lực cần thiết để có thể thực hiện được sứ mạng của mình. Thông qua thử thách, Người gạn lọc và loại bỏ những căn bã của người đó. Thông qua thử thách, Người muốn tôi luyện để người đó có thể đứng vững và vượt qua được những thử thách khắc nghiệt nhất.
Kẻ được Người lựa chọn thực hiện những sứ mạng cao cả phải vượt qua những thử thách gì? Người đó phải trải qua những mất mát tưởng chừng như không gì bù đắp nổi. Người đó phải trải qua những đau đớn về thể xác và tinh thần tưởng chừng như không thể chịu đựng nổi. Người đó phải trải qua những giờ phút ở sâu dưới đáy cùng của tuyệt vọng và cuộc đời kẻ tưởng chừng như không có lối thoát, không còn đường ra.
Nói tóm lại, người đó phải trải qua rất nhiều đau đớn, thất bại và vấp ngã. Nhưng vượt lên trên tất cả, người đó vẫn âm thầm và lặng lẽ cố gắng và không bao giờ đánh mất đi niềm tin và lòng nhiệt huyết của mình.
Nhưng tôi tin rằng nhất định đến một ngày thế giới cần đến những con người như vậy. Những con người đứng trước những cơn dông tố bão bùng, trước những tiếng sấm rền vang vẫn không nao lòng. Những con người biết trấn an mọi người trong cơn hoảng loạn nguy biến. Những con người biết nắm lấy bàn tay và dẫn đắt mọi người, những con người đang lầm đường lạc lối. Những con người biết nhìn xa trông rộng, biết dung hòa những điều không thể dung hòa, biết soi sáng và mở những con đường mới cho nhân loại…
When Nature Wants a Man
Angela Morgan
When Nature wants to drill a man
And thrill a man
When Nature wants to mould a man
To play the noblest part
When she yearns with all her heart
To create so great and bold a man
That all the world shall praise
Watch her method, watch her ways!
How she ruthlessly perfects
Whom she royally elects
How she hammers him and hurts him
And with mighty blows converts him
Into trial shapes of clay which only Nature understands
While his tortured heart is crying and he lifts beseeching hands!
How she bends, but never breaks
When his good she undertakes
How she uses who she chooses
And with every purpose fuses him
By every art induces him
To try his splendor out
Nature knows what she’s about
When Nature wants to take a man
And shake a man
And wake a man
When Nature wants to make a man
To do the Futures will
When she tries with all her skill
And she yearns with all her soul
To create him large and whole
With what cunning she prepares him!
How she goads and never spares him
How she whets him and she frets him
And in poverty begets him
How she often disappoints
Whom she sacredly anoints
With what wisdom she will hide him
Never minding what betide him
Though his genius sob with slighting and his
Pride may not forget!
Bids him struggle harder yet
Makes him lonely
So that only
God’s high messages shall reach him
So that she may surely teach him
What the Hierarchy planned
Though he may not understand
Gives him passions to command
How remorselessly she spurs him
With terrific ardor stirs him
When she poignantly prefers him!
When Nature wants to name a man
And fame a man
And tame a man
When Nature wants to shame a man
To do his heavenly best
When she tries the highest test
That her reckoning may bring
When she wants a god or king!
How she reigns him and restrains him
So his body scarce contains him
While she fires him
And inspires him!
Keeps him yearning, ever burning for a
Tantalizing goal
Lures and lacerates his soul
Sets a challenge for his spirit
Draws it higher when he’s near it
Makes a jungle, that he clear it
Makes a desert, that he fear it
And subdue it if he can
So doth Nature make a man
Then, to test his spirit’s wrath
Hurls a mountain in his path
Puts a bitter choice before him
And relentless stands o’er him
“Climb, or perish!” so she says
watch her purpose, watch her ways!
Nature’s plan is wondrous kind
Could we understand her mind
Fools are they who call her blind
When his feet are torn and bleeding
Yet his spirit mounts unheeding
All his higher powers speeding
Blazing newer paths and fine
When the force that is divine
Leaps to challenge every failure and his ardor still is sweet
And love and hope are burning in the presence of defeat
Lo, the crisis! Lo, the shout
That must call the leader out.
When the people need salvation
Doth he come to lead the nation
Then doth Nature show her plan
When the world has found: a man!
Đọc thêm!
Thứ Sáu, 29 tháng 1, 2010
Kinh Thánh Không Thể Bị Tiêu Hủy
"Trời đất sẽ qua nhưng lời Ta nói chẳng bao giờ qua đi." Ma-thi-ơ 24:35
Thời gian đang cạn dần, chỉ còn lại vài giây cuối trong ngày trước khi đồng hồ báo hiệu nửa đêm. Nhân loại sắp lao vào cõi chết. Phải chăng có một quyền lực nào hay một tạo hóa vô danh nào đã đặt chúng ta ở đây mà không cho biết chúng ta từ đâu đến, tại sao ở đây và rồi sẽ đi đâu? Chúng ta sẽ phải đi lối nào?
Có còn thẩm quyền nào cho chúng ta nhờ cậy? Có con đường nào cho chúng ta noi theo? Có chút ánh sáng nào xuyên thấu bóng tối dầy đặc bao quanh? Liệu chúng ta có tìm được quyển sách giải mã giúp tìm ra lối thoát cho tình trạng bế tắc hiện nay không? Liệu có một nguồn thẩm quyền nào cho chúng ta trông đợi? Câu trả lời là có. Vâng, chúng ta có một cuốn sách giải mã, chúng ta có chìa khóa, chúng ta có một nguồn tài liệu đầy thẩm quyền, và đó là Kinh Thánh. Ðây là quyển sách đã truyền lại cho chúng ta qua nhiều thời đại, đã được chuyển qua nhiều bàn tay, xuất hiện trong nhiều hình thức và đã từng tồn tại qua đủ mọi loại tấn công. Từ những lối phá hoại man rợ đến những hình thức tấn công bằng kiến thức của thế giới văn minh đều không hề làm Kinh Thánh suy suyển. Không một ngọn lửa thiêu hủy nào, không một tiếng cười khinh mạn nào của chủ nghĩa hoài nghi có thể tiêu diệt Kinh Thánh. Qua bao nhiêu thời ám thế những lời hứa vinh diệu trong Kinh Thánh vẫn tồn tại không hề thay đổi. Ðiều đáng nói là tại Hoa Kỳ trong khi việc đọc Kinh Thánh nơi trường học bị cấm chỉ thì Kinh Thánh lại buộc phải được đọc trong các trường Công Giáo ở nước cộng sản Ba-lan. Trong thế chiến thứ hai, trụ sở Thánh Kinh Hội tại Ba-lan nằm trên đường Giê-ru-sa-lem, là một trong những con đường chính của thủ đô Warsaw. Khi quân Ðức khởi sự ném bom thành phố, vợ viên giám đốc Thánh Kinh Hội đã vào kho di chuyển được khoảng 2000 cuốn Kinh Thánh đem cất giấu dưới hầm. Bom đạn làm sập nhà và sau đó bà bị quân Ðức bắt đưa vào trại tù. Bà đã tìm cách vượt thoát và sau khi chiến tranh chấm dứt, đã đem phân phối được 2000 cuốn Kinh Thánh đó cho những người cần.
Thủ đô Warsaw bị san bằng, nhưng trên Phố Giê-ru-sa-lem, tại tòa nhà trụ sở Thánh Kinh Hội, có một bức tường vẫn còn đứng vững với hàng chữ này: "Trời đất sẽ qua, nhưng lời Ta nói không bao giờ qua đi."
Trong khi nhân loại đang tiến gần đến thời điểm quyết định khác trong lịch sử thế giới, chúng ta hãy tái xem xét quyển sách bất khả hủy diệt về sự khôn ngoan và các lời tiên tri để tìm hiểu tại sao quyển sách này đã tồn tại và trở thành một nguồn mạch phong phú cho đức tin và sức mạnh thuộc linh.
Kinh Thánh Không Chỉ Là
Một Kiệt Tác Văn Chương
Có người coi Kinh Thánh chỉ là tác phẩm lịch sử Do-thái trong khi những người khác nhận rằng Kinh Thánh đưa ra những nguyên tắc đạo đức sâu sắc nhất từ trước đến nay. Tuy tất cả những điều này, dù quan trọng, cũng chỉ là những khía cạnh bổ sung đối với chủ đề chính của Kinh Thánh là chương trình cứu chuộc của Ðức Chúa Trời qua Chúa Cứu Thế Giê-xu. Bài xã luận trong nhật báo International Herald Tribune số ra ngày 30 tháng 6, 1983 nhận định rằng Kinh Thánh là một tác phẩm văn chương nên đọc vì "tiếng Anh trong Kinh Thánh trau chuốt nhất." Tuy nhiên, những ai đọc Kinh Thánh chỉ để thưởng ngoạn văn chương, thi ca hay lịch sử là đã đánh mất ý nghĩa và sứ điệp đích thực của Kinh Thánh.
Ðức Chúa Trời cho viết Kinh Thánh với mục tiêu cấp bách là bày tỏ cho con người chương trình cứu chuộc. Ðức Chúa Trời khiến viết Kinh Thánh để mạc khải luật vĩnh hằng cho con dân Ngài nhờ đó được hướng dẫn bằng sự khôn ngoan sâu sắc, được an ủi bằng tình yêu vĩ đại của Ngài suốt hành trình trên đất. Vì không có Kinh Thánh thế giới này sẽ là một chốn tối tăm kinh khiếp, không ánh sáng, không bảng chỉ đường.
Kinh Thánh có thừa điều kiện là quyển sách duy nhất chứa đựng mạc khải của Ðức Chúa Trời. Nhiều tôn giáo khác cũng có kinh sách như kinh Koran của Hồi giáo, các kinh Tạng Phật giáo, kinh Vệ-đà của Ấn giáo và tất cả những kinh sách này đều có những bản dịch đáng tin cậy. Ai muốn cũng đều có thể đọc, so sánh với Kinh Thánh và tự thẩm định. Bằng cách đó, không bao lâu người nghiên cứu sẽ thấy ngay tất cả những kinh sách ngoài Cơ-đốc giáo đều chỉ có một phần chân lý, nhưng đến cuối cùng tất cả đều phát triển về một hướng hoàn toàn sai lầm. Những kinh sách đó khởi sự với vài tia sáng thật nhưng kết thúc trong tăm tối mịt mù. Ngay cả một quan sát viên hờ hững nhất cũng phải thấy Kinh Thánh khác biệt hẳn với tất cả những kinh sách kia. Kinh Thánh là cuốn sách duy nhất cung ứng cho con người sự cứu chuộc và chỉ cho con người lối thoát tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Kinh Thánh là cuốn sách hướng dẫn chắc chắn nhất trong một thế giới đầy bấp bênh.
Việc trứ tác Kinh Thánh đã phải mất 1600 năm mới hoàn tất. Ðây là công việc của hơn ba mươi trước giả, mỗi người viết như các viên thư ký của Ðức Chúa Trời. Trong số những trước giả này, nhiều người sống cách xa nhau nhiều thế hệ và cũng không ghi xuống những suy nghĩ hay hy vọng cá nhân. Họ hành xử như là những phương tiện thể hiện sự mạc khải của Ðức Chúa Trời; họ viết theo như Chúa chỉ dẫn và trong sự thần cảm của Ðức Chúa Trời họ có thể thấy những chân lý lớn lao bền vững, họ ghi lại để những người khác cũng có thể thấy và biết những chân lý đó.
Trong suốt 1600 năm, 66 sách của Kinh Thánh đã được viết ra do những trước giả sử dụng những ngôn ngữ khác nhau, sống trong những thời đại khác nhau, tại những xứ sở khác nhau, nhưng sứ điệp họ viết chỉ là một. Ðức Chúa Trời phán bảo mỗi trước giả trong ngôn ngữ và thời đại riêng của từng người nhưng sứ điệp của Ngài lúc nào cũng giống nhau. Khi các đại học giả gom góp nhiều cổ bản Kinh Thánh viết bằng tiếng Hy-bá, A-ram và Hy-lạp rồi dịch sang cùng một ngôn ngữ hiện đại, họ thấy rằng những lời hứa của Ðức Chúa Trời và đại sứ điệp của Ngài cho con người vẫn y nguyên không có gì thay đổi. Ngày nay khi đọc những lời muôn thuở đó, chúng ta thấy những qui tắc cư xử do các trước giả cổ đại thiết định vẫn mới mẻ và đầy ý nghĩa đối với thế hệ hôm nay cũng như với những con người của thời đại Chúa Giê-xu. John Ruskin nói: "Kinh Thánh là Quyển Sách duy nhất bất cứ con người biết suy nghĩ nào cũng có thể đến với bất cứ câu hỏi thành thật nào về cuộc đời hay về số phận tương lai, và tìm được giải đáp của Ðức Chúa Trời qua sự tìm kiếm chân thành."
Quyển Sách Bán Chạy Nhất
Thế Giới
Như vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi chúng ta thấy Kinh Thánh luôn luôn là quyển sách bán chạy nhất thế giới. Không cuốn sách nào có thể so với sự khôn ngoan sâu sắc, nét đẹp nên thơ trong đó cũng như tính chính xác trong các phần lịch sử và tiên tri của Kinh Thánh. Một số người chỉ trích bảo rằng Kinh Thánh đầy dẫy những lời ngụy tạo, chuyện giả tưởng và những lời hứa không tròn. Những người đó thường thấy khó khăn nằm trong chính họ hơn là trong Kinh Thánh. Những công cuộc sưu khảo sâu rộng và thận trọng cho thấy những mâu thuẫn hiển nhiên nhất trong Kinh Thánh đều do các bản dịch không chính xác hơn là do những bất nhất thần cảm. Chính con người cần sửa chữa chứ không phải Kinh Thánh và có người đã bảo rằng "Kinh Thánh cần được đọc lại chứ không cần viết lại."
Thế mà trong nhiều gia đình những người mệnh danh là có học, lấy Kinh Thánh ra diễu cợt là chuyện hợp thời và coi Kinh Thánh là sách đóng bụi hơn là Lời Hằng Sống của Ðức Chúa Trời. Một ông mục sư thử hỏi một em bé xem em biết trong Kinh Thánh có gì. Em hăng hái trả lời là em biết tất cả mọi thứ có trong Kinh Thánh, rồi bắt đầu liệt kê, "có hình bạn trai của chị, có phiếu giảm giá mua kem dưỡng da của mẹ, có cái kẹp tóc của em bé và một cái vé xem hát!" Ðó là tất cả những thứ em biết trong cuốn Kinh Thánh của gia đình. Nhiều nhà đã dùng Kinh Thánh làm nơi cất các bức thư cũ và để ép hoa, hoàn toàn không thấy sự trợ giúp và bảo đảm Ðức Chúa Trời dành cho họ qua Kinh Thánh.
Ngày nay thái độ đó đang thay đổi thật nhanh chóng! Tất cả những cái trang hoàng nhân tạo vô nghĩa trong cuộc sống đang bị lột sạch. Những hứa hẹn giả dối con người nói với nhau đang trơ trẽn lộ ra. Trong khi sợ hãi nhìn quanh tìm điều chân thật, bền vững, một lần nữa chúng ta lại quay về với Quyển Sách cổ này, quyển sách đem lại nguồn an ủi, nâng đỡ, cứu chuộc cho hàng triệu người suốt bao nhiêu thế kỷ qua. Nhà tôi có lần đã nói: "Nếu con cái chúng ta có nền tảng của một gia đình hạnh phúc, kính sợ Chúa với một đức tin không lay chuyển rằng Kinh Thánh thật là Lời Ðức Chúa Trời, chúng sẽ có chỗ dựa vững chắc đến nỗi các quyền lực của địa ngục cũng không thể nào lay chuyển." Tôi tạ ơn Chúa về ảnh hưởng tin kính Chúa của nhà tôi đối với các con.
Vâng, ngày nay người ta đang tái "khám phá" Kinh Thánh! Họ đang đem Kinh Thánh ra quét sạch bụi bặm hay mua Kinh Thánh mới. Họ thấy những câu Kinh Thánh quen thuộc nhưng đã bị quên lãng đang vang lên những ý nghĩa mới khiến họ tưởng như Kinh Thánh vừa được viết hôm qua. Sở dĩ như vậy là vì Kinh Thánh hàm chứa tất cả những kiến thức con người cần cho linh hồn và giải quyết mọi nan đề của họ. Kinh Thánh là tấm bản đồ thiết kế của vị Ðại Kiến Trúc Sư cho nên chỉ do cẩn thận làm theo tất cả những chỉ dẫn trong đó chúng ta mới có thể xây dựng nổi cuộc đời chúng ta tìm kiếm.
Tại Hoa-kỳ có một văn kiện quan trọng khác được quí trọng. Văn kiện này được viết hơn hai trăm năm trước do một số người dốc đổ nhiều công sức soạn thảo, lại dành nhiều thì giờ hơn nữa để bàn thảo kỹ lưỡng từng điều khoản. Cuối cùng bản dự thảo được gửi cho tất cả 13 thành viên của liên bang phê chuẩn. Những người soạn thảo Hiến-pháp biết họ đang viết một văn kiện căn bản cho chính quyền của những người tự do; họ nhận định rằng con người chỉ có thể sống như những hữu thể tự do và độc lập nếu mỗi người biết và hiểu rõ luật pháp. Họ cũng cần phải biết rõ những quyền lợi, các đặc ân và cả những những giới hạn nữa. Họ phải được đối xử bình đẳng trước tòa án và ngay cả các thẩm phán cũng không thể xét xử bất công, vì chính họ cũng bị ràng buộc bởi cùng một luật lệ trong khi điều khiển từng vụ án.
Chân Lý Sẽ Giải Phóng Chúng Ta
Trong khi phần còn lại của thế giới theo dõi cuộc thử nghiệm lớn lao này của nhân loại, con người khám phá ra rằng nếu biết và sống theo luật pháp họ có thể thực sự được giải phóng! Bây giờ một người có thể biết mình đang ở đâu, biết những quyền hiến định và cũng có những trách nhiệm hiến định. Nếu xao lãng trách nhiệm, quyền lợi sẽ bị ảnh hưởng - như trường hợp các cử tri khinh suất về sau đã khám phá ra rằng mình đã bị chính quyền chất lên nhiều giới hạn họ không thích.
Như nước Mỹ đã tăng trưởng và phát triển trong khuôn khổ của Hiến-pháp, thì Cơ-đốc giáo cũng phát triển và lan rộng dựa vào luật pháp ghi trong Kinh Thánh. Như Hiến-pháp được áp dụng đồng đều cho mọi người sống dưới thẩm quyền của nó, không phân biệt hay ưu đãi bất cứ ai thì cũng vậy, Kinh Thánh là bản Hiến Pháp tối cao dành cho toàn thể nhân loại. Luật pháp của Kinh Thánh áp dụng đồng đều cho mọi người sống trong khuôn khổ Kinh Thánh không có biệt lệ hay cách giải thích đặc biệt nào.
Như Hiến-pháp là luật cao nhất của quốc gia thì Kinh Thánh là bộ luật cao nhất của Ðức Chúa Trời, trong đó Ngài công bố các qui luật thuộc linh. Chính trong Kinh Thánh Ðức Chúa Trời đưa ra những lời hứa bền vững của Ngài và cũng chính trong Kinh Thánh, Ðức Chúa Trời bày tỏ chương trình cứu chuộc cho nhân loại.
Trong những kỳ quan thiên nhiên chúng ta thấy các qui luật của Ðức Chúa Trời vận hành. Ai là người chưa từng nhìn lên các vì sao trong bầu trời đêm để kinh sợ đến lặng người trước vinh quang của công việc Ðức Chúa Trời? Ngay cả các phi hành gia của chúng ta cũng phải ca ngợi Ðức Chúa Trời là Tạo Hoá của cõi không gian vô tận và tất cả những cái phức tạp của một vũ trụ chúng ta mới khởi sự khám phá. Nếu không thể dựa vào những qui luật của Ðức Chúa Trời, chúng ta không thể thực hiện những cuộc viễn du vào không gian. Ai không cảm thấy lòng lâng lâng khi trời đất bước vào mùa xuân, khi vạn vật bừng lên sức sống mới? Trong vẻ đẹp rực rỡ xung quanh, chúng ta thấy cái vĩ đại của quyền năng Chúa và những chi tiết vô tận trong kế hoạch của Ngài; nhưng thiên nhiên đã không cho chúng ta biết gì về tình yêu hay ân sủng của Ðức Chúa Trời. Chúng ta cũng không tìm được lời hứa cứu chuộc của Ngài trong cõi thiên nhiên.
Tận nơi sâu thẳm của linh hồn, lương tri nói cho chúng ta biết về sự hiện diện của Ðức Chúa Trời và về cái khác biệt luân lý giữa tốt và xấu; nhưng đó chỉ là những mẩu sứ điệp vụn vặt, không rõ và không dễ hiểu như những bài học trong Kinh thánh. Chỉ trong những trang Kinh Thánh chúng ta mới tìm được sứ điệp rõ ràng không thể nhầm lẫn làm nền tảng cho Cơ-đốc giáo chân chính.
Luật pháp của đất nước chúng ta bắt nguồn từ Mười Giới Răn, và Sir William Blackstone, một thẩm phán lỗi lạc người Anh đã viết: "Kinh Thánh luôn luôn được coi là một phần Luật Phổ Thông của nước Anh."
Tất cả các giáo lý trong Cơ-đốc giáo đều dựa trên Lời Kinh Thánh và Cơ-đốc giáo cũng khẳng định không hề thêm bớt gì vào Lời Ðức Chúa Trời. Trong khi Hiến pháp Hoa Kỳ theo thời gian có thể phải được tu chính nhưng Kinh Thánh không bao giờ cần sửa đổi. Chúng ta chân thành tin tưởng rằng những người trứ tác Kinh Thánh thực sự được Ðức Thánh Linh hướng dẫn cả trong tư duy lẫn trong cách chọn lời diễn đạt bằng văn tự, như Thánh Phi-e-rơ đã nói, "...chẳng hề có lời tiên tri nào là bởi ý một người nào mà ra, nhưng ấy là bởi Ðức Thánh Linh cảm động mà người ta đã nói bởi Ðức Chúa Trời" (2 Phi-e-rơ 1:21). Thánh Phao-lô thì khẳng định, "Cả Kinh Thánh đều là bởi Ðức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, hầu cho người của Ðức Chúa Trời được trọn vẹn và trang bị để làm mọi việc lành." (2 Ti-mô-thê 3:16)
Khi ghi lại những sứ điệp trực tiếp từ Chúa, các trước giả Kinh Thánh không hề có ý tránh né những thực tại đời sống. Tội lỗi của cả vĩ nhân cũng như hạng tầm thường đều được nêu lên không dấu diếm. Những yếu đuối của con người thiên nhiên được thừa nhận và cuộc sống trong các thời đại của Kinh Thánh được ghi lại một cách trung thực. Ðiều làm chúng ta kinh ngạc đó là cuộc sống và động cơ của những con người sống trong những thời xa xưa như thế nhưng vẫn có những màu sắc của con người hiện đại! Những trang Kinh thánh giống như những tấm gương đặt trước tâm trí và tấm lòng, phản ánh những thành kiến và kiêu ngạo, những ô nhục và thất bại, những đau buồn và tội lỗi của chính chúng ta.
Chân lý vô thời gian
Chân lý không thay đổi khi thời đại, con người hay địa lý đổi thay. Tư tưởng loài người có thể khác nhau, tập quán thay đổi, những qui luật đạo đức cũng có thể biến thiên, nhưng Chân Lý vĩ đại, siêu việt vẫn đời đời bền vững.
Sứ điệp của Chúa Cứu Thế Giê-xu, Ðấng Cứu Tinh chúng ta là câu chuyện trung tâm của Kinh thánh - câu chuyện về sự cứu rỗi. Những nhà nghiên cứu Kinh thánh sâu sắc đã truy nguyên câu chuyện về Chúa Cứu Thế Giê-xu từ khởi đầu Cựu Ước, vì Ngài là chủ đề chính của cả Cựu Ước lẫn Tân Ước.
Sự kiện về Chúa Giê-xu là sứ điệp đời đời của Kinh Thánh. Ðây là câu chuyện về sự sống, bình an, cõi vĩnh hằng và thiên đàng. Trong Kinh Thánh không có một mục đích ẩn dấu nào và để hiểu Kinh Thánh cũng không cần phải có một phương thức giải nghĩa đặc biệt nào. Kinh Thánh có một sứ điệp rõ ràng, đơn sơ nhưng mạnh mẽ cho tất cả mọi người - sứ điệp của Chúa Cứu Thế với lời hứa ban sự bình an với Thượng Ðế.
Một ngày kia Chúa Giê-xu với các môn đồ ngồi trên một triền núi gần thành phố Ca-bê-nam. Tất cả qui tụ lại ngồi đối diện với Chúa. Bên cạnh Chúa có lẽ là Phi-e-rơ, bên kia là Giăng. Chúa yên lặng, trìu mến nhìn đám đông môn đệ nhiệt thành, với ánh mắt yêu thương dừng lại ở từng khuôn mặt như cha mẹ nhìn từng đứa con, yêu thương từng con riêng biệt bằng từng lý do đặc biệt, khiến cho mỗi người cảm nhận rằng chính mình được tách ra khỏi đám đông và được một mình ở trong vòng tay yêu thương của Chúa. Chắc hẳn Chúa Giê-xu đã yêu thương và biểu lộ tình thương với các môn đồ như thế và chắc hẳn trong ánh mắt trìu mến đó nhóm môn đồ nhỏ bé này cũng đã đáp ứng bằng thái độ cung kính âm thầm. Tất cả yên lặng đợi chờ, biết rằng Chúa sắp nói với họ những điều quan trọng, những điều họ phải truyền lại cho thế giới, cho những người không có đặc ân được nghe từ chính môi miệng của Thầy.
Tại trên triền núi đó, có lẽ Chúa Giê-xu đang đứng dưới những tàn lá xanh màu bạc của một cây ô-liu, giảng một bài giảng thâm sâu quan trọng nhất cho con người về cốt lõi của cuộc sống Cơ-đốc. Khi Chúa giảng xong, toàn thể các môn đồ im phăng phắc, kinh ngạc trong cái im lặng thiêng liêng ký thuật trong Ma-thi-ơ, "đoàn dân vô cùng ngạc nhiên về sự dạy dỗ của Ngài, vì Ngài dạy dỗ đầy uy quyền chứ không như các thầy thông giáo." (Ma-thi-ơ 7: 28,29)
Chúa thật đã giảng dạy với thẩm quyền của chính Ðức Chúa Trời, và những qui tắc Chúa thiết định chính là luật pháp của Ðức Chúa Trời mà mỗi Cơ-đốc nhân mong muốn được cứu rỗi phải tuân giữ.
Kinh Thánh Và Bạn
Nếu bạn chưa có Kinh Thánh, xin tìm mua ngay một cuốn. Tìm cuốn nào vừa ý nhất, về kích thước cũng như về khổ chữ rồi khởi sự đọc để cố gắng tự tìm hiểu xem tại sao Quyển Sách này chịu đựng nổi với thuốc thử thời gian. Ðừng tiếc khi cần phải mua một cuốn Kinh Thánh đắt tiền, vì thật ra đây là một cuộc đầu tư. Chúng ta đã tốn kém rất nhiều cho áo quần là những thứ không tồn tại mãi nhưng lại do dự khi phải mua một cuốn Kinh Thánh thật tốt để đầu tư cho cõi vĩnh hằng! Hãy tự khám phá xem tại sao Kinh Thánh đáp ứng được cho các nhu cầu của nhân loại, tại sao Kinh Thánh đã ban đức tin và sức mạnh, giúp con người tiếp tục đi tới.
Nếu bạn đã rời xa Kinh Thánh từ lâu thì điều tốt nhất bây giờ là trở lại làm quen với Kinh Thánh bằng cách bắt đầu đọc Phúc Âm Giăng, được coi là một trong những quyển thâm sâu nhất trong bộ Kinh Thánh, nhưng lại là sách sáng sủa nhất, dễ hiểu nhất. Phúc Âm Giăng đã được viết với mục đích trình bày cặn kẽ về sự cứu rỗi loài người đến nỗi mọi thắc mắc trong tâm trí cũng như những khát khao trong lòng đều có thể được thỏa mãn.
Ðọc xong sách Giăng, bạn có thể tiếp tục làm quen với các sách Phúc Âm Mác, Lu-ca và Ma-thi-ơ để thấy những trước giả rất khác nhau về cá tính và văn phong trình bày câu chuyện muôn đời về sự cứu rỗi qua Chúa Cứu Thế Giê-xu. Rồi bạn sẽ nhận ra đó chính là chân lý phổ quát và mạnh mẽ, là trọng tâm của tin lành khiến cho bạn càng cảm thấy thấm thía hơn với điều một trước giả Kinh thánh viết rằng "Chúa Cứu Thế Giê-xu hôm qua, ngày nay và cho đến đời đời không hề thay đổi." (Hê-bơ-rơ 13:8)
Sau khi đã đọc riêng từng sách Phúc Âm, bạn hãy khởi sự đọc từ đầu Tân Ước cho đến hết theo thứ tự. Ðọc như vậy xong, bạn đã tạo được một ý thích muốn đọc Kinh Thánh, bạn đã thấy Kinh Thánh là một nguồn suối linh diệu, là một người hướng đạo, một người cố vấn rất thực tiễn, là một kho tàng quí giá đầy những lời khuyên khôn ngoan, khiến cho đối với bạn, việc đọc Kinh Thánh trở thành một phần cuộc sống mỗi ngày.
Ðể có một cuộc sống phong phú và đầy ý nghĩa, kiến thức về Kinh Thánh là điều thiết yếu, vì những lời trong Quyển Sách này có khả năng trám vào những chỗ khiếm khuyết trong cuộc sống, nối kết những khoảng trống, biến những mảng màu hoen ố của cuộc đời chúng ta trở nên bóng lộn như vàng ngọc. Hãy tập đem mọi nan đề của bạn đến với Kinh Thánh rồi trong những trang sách đó, bạn sẽ tìm ra lời giải đáp.
Nhưng trên hết, Kinh Thánh là mạc khải về bản chất của Ðức Chúa Trời. Các triết gia của hàng bao nhiêu thế kỷ đã vật lộn về vấn đề có một Ðấng Tối Cao. Ngài là ai? Ngài như thế nào? Ngài ở đâu? Nếu quả có một Ðấng như vậy thì Ngài có quan tâm đến tôi không? Nếu có, làm sao tôi biết Ngài? Những câu hỏi này và hàng nghìn những câu hỏi khác về Ðức Chúa Trời đã được trình bày trong một quyển sách chúng ta gọi là Kinh Thánh. Một Cơ-đốc nhân có lần nói, "Bạn có biết quyển sách bạn muốn được kê dưới đầu làm gối lúc lâm chung không?" Joseph Cook nói tiếp, "Ðó cũng là Cuốn Sách bạn phải học hỏi lúc sinh tiền. Trên thế giới này chỉ có một cuốn sách như thế mà thôi."
Billy Graham
Peace With God
Hà Huy Việt chuyển ngữ
Đọc thêm!
Thời gian đang cạn dần, chỉ còn lại vài giây cuối trong ngày trước khi đồng hồ báo hiệu nửa đêm. Nhân loại sắp lao vào cõi chết. Phải chăng có một quyền lực nào hay một tạo hóa vô danh nào đã đặt chúng ta ở đây mà không cho biết chúng ta từ đâu đến, tại sao ở đây và rồi sẽ đi đâu? Chúng ta sẽ phải đi lối nào?
Có còn thẩm quyền nào cho chúng ta nhờ cậy? Có con đường nào cho chúng ta noi theo? Có chút ánh sáng nào xuyên thấu bóng tối dầy đặc bao quanh? Liệu chúng ta có tìm được quyển sách giải mã giúp tìm ra lối thoát cho tình trạng bế tắc hiện nay không? Liệu có một nguồn thẩm quyền nào cho chúng ta trông đợi? Câu trả lời là có. Vâng, chúng ta có một cuốn sách giải mã, chúng ta có chìa khóa, chúng ta có một nguồn tài liệu đầy thẩm quyền, và đó là Kinh Thánh. Ðây là quyển sách đã truyền lại cho chúng ta qua nhiều thời đại, đã được chuyển qua nhiều bàn tay, xuất hiện trong nhiều hình thức và đã từng tồn tại qua đủ mọi loại tấn công. Từ những lối phá hoại man rợ đến những hình thức tấn công bằng kiến thức của thế giới văn minh đều không hề làm Kinh Thánh suy suyển. Không một ngọn lửa thiêu hủy nào, không một tiếng cười khinh mạn nào của chủ nghĩa hoài nghi có thể tiêu diệt Kinh Thánh. Qua bao nhiêu thời ám thế những lời hứa vinh diệu trong Kinh Thánh vẫn tồn tại không hề thay đổi. Ðiều đáng nói là tại Hoa Kỳ trong khi việc đọc Kinh Thánh nơi trường học bị cấm chỉ thì Kinh Thánh lại buộc phải được đọc trong các trường Công Giáo ở nước cộng sản Ba-lan. Trong thế chiến thứ hai, trụ sở Thánh Kinh Hội tại Ba-lan nằm trên đường Giê-ru-sa-lem, là một trong những con đường chính của thủ đô Warsaw. Khi quân Ðức khởi sự ném bom thành phố, vợ viên giám đốc Thánh Kinh Hội đã vào kho di chuyển được khoảng 2000 cuốn Kinh Thánh đem cất giấu dưới hầm. Bom đạn làm sập nhà và sau đó bà bị quân Ðức bắt đưa vào trại tù. Bà đã tìm cách vượt thoát và sau khi chiến tranh chấm dứt, đã đem phân phối được 2000 cuốn Kinh Thánh đó cho những người cần.
Thủ đô Warsaw bị san bằng, nhưng trên Phố Giê-ru-sa-lem, tại tòa nhà trụ sở Thánh Kinh Hội, có một bức tường vẫn còn đứng vững với hàng chữ này: "Trời đất sẽ qua, nhưng lời Ta nói không bao giờ qua đi."
Trong khi nhân loại đang tiến gần đến thời điểm quyết định khác trong lịch sử thế giới, chúng ta hãy tái xem xét quyển sách bất khả hủy diệt về sự khôn ngoan và các lời tiên tri để tìm hiểu tại sao quyển sách này đã tồn tại và trở thành một nguồn mạch phong phú cho đức tin và sức mạnh thuộc linh.
Kinh Thánh Không Chỉ Là
Một Kiệt Tác Văn Chương
Có người coi Kinh Thánh chỉ là tác phẩm lịch sử Do-thái trong khi những người khác nhận rằng Kinh Thánh đưa ra những nguyên tắc đạo đức sâu sắc nhất từ trước đến nay. Tuy tất cả những điều này, dù quan trọng, cũng chỉ là những khía cạnh bổ sung đối với chủ đề chính của Kinh Thánh là chương trình cứu chuộc của Ðức Chúa Trời qua Chúa Cứu Thế Giê-xu. Bài xã luận trong nhật báo International Herald Tribune số ra ngày 30 tháng 6, 1983 nhận định rằng Kinh Thánh là một tác phẩm văn chương nên đọc vì "tiếng Anh trong Kinh Thánh trau chuốt nhất." Tuy nhiên, những ai đọc Kinh Thánh chỉ để thưởng ngoạn văn chương, thi ca hay lịch sử là đã đánh mất ý nghĩa và sứ điệp đích thực của Kinh Thánh.
Ðức Chúa Trời cho viết Kinh Thánh với mục tiêu cấp bách là bày tỏ cho con người chương trình cứu chuộc. Ðức Chúa Trời khiến viết Kinh Thánh để mạc khải luật vĩnh hằng cho con dân Ngài nhờ đó được hướng dẫn bằng sự khôn ngoan sâu sắc, được an ủi bằng tình yêu vĩ đại của Ngài suốt hành trình trên đất. Vì không có Kinh Thánh thế giới này sẽ là một chốn tối tăm kinh khiếp, không ánh sáng, không bảng chỉ đường.
Kinh Thánh có thừa điều kiện là quyển sách duy nhất chứa đựng mạc khải của Ðức Chúa Trời. Nhiều tôn giáo khác cũng có kinh sách như kinh Koran của Hồi giáo, các kinh Tạng Phật giáo, kinh Vệ-đà của Ấn giáo và tất cả những kinh sách này đều có những bản dịch đáng tin cậy. Ai muốn cũng đều có thể đọc, so sánh với Kinh Thánh và tự thẩm định. Bằng cách đó, không bao lâu người nghiên cứu sẽ thấy ngay tất cả những kinh sách ngoài Cơ-đốc giáo đều chỉ có một phần chân lý, nhưng đến cuối cùng tất cả đều phát triển về một hướng hoàn toàn sai lầm. Những kinh sách đó khởi sự với vài tia sáng thật nhưng kết thúc trong tăm tối mịt mù. Ngay cả một quan sát viên hờ hững nhất cũng phải thấy Kinh Thánh khác biệt hẳn với tất cả những kinh sách kia. Kinh Thánh là cuốn sách duy nhất cung ứng cho con người sự cứu chuộc và chỉ cho con người lối thoát tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Kinh Thánh là cuốn sách hướng dẫn chắc chắn nhất trong một thế giới đầy bấp bênh.
Việc trứ tác Kinh Thánh đã phải mất 1600 năm mới hoàn tất. Ðây là công việc của hơn ba mươi trước giả, mỗi người viết như các viên thư ký của Ðức Chúa Trời. Trong số những trước giả này, nhiều người sống cách xa nhau nhiều thế hệ và cũng không ghi xuống những suy nghĩ hay hy vọng cá nhân. Họ hành xử như là những phương tiện thể hiện sự mạc khải của Ðức Chúa Trời; họ viết theo như Chúa chỉ dẫn và trong sự thần cảm của Ðức Chúa Trời họ có thể thấy những chân lý lớn lao bền vững, họ ghi lại để những người khác cũng có thể thấy và biết những chân lý đó.
Trong suốt 1600 năm, 66 sách của Kinh Thánh đã được viết ra do những trước giả sử dụng những ngôn ngữ khác nhau, sống trong những thời đại khác nhau, tại những xứ sở khác nhau, nhưng sứ điệp họ viết chỉ là một. Ðức Chúa Trời phán bảo mỗi trước giả trong ngôn ngữ và thời đại riêng của từng người nhưng sứ điệp của Ngài lúc nào cũng giống nhau. Khi các đại học giả gom góp nhiều cổ bản Kinh Thánh viết bằng tiếng Hy-bá, A-ram và Hy-lạp rồi dịch sang cùng một ngôn ngữ hiện đại, họ thấy rằng những lời hứa của Ðức Chúa Trời và đại sứ điệp của Ngài cho con người vẫn y nguyên không có gì thay đổi. Ngày nay khi đọc những lời muôn thuở đó, chúng ta thấy những qui tắc cư xử do các trước giả cổ đại thiết định vẫn mới mẻ và đầy ý nghĩa đối với thế hệ hôm nay cũng như với những con người của thời đại Chúa Giê-xu. John Ruskin nói: "Kinh Thánh là Quyển Sách duy nhất bất cứ con người biết suy nghĩ nào cũng có thể đến với bất cứ câu hỏi thành thật nào về cuộc đời hay về số phận tương lai, và tìm được giải đáp của Ðức Chúa Trời qua sự tìm kiếm chân thành."
Quyển Sách Bán Chạy Nhất
Thế Giới
Như vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi chúng ta thấy Kinh Thánh luôn luôn là quyển sách bán chạy nhất thế giới. Không cuốn sách nào có thể so với sự khôn ngoan sâu sắc, nét đẹp nên thơ trong đó cũng như tính chính xác trong các phần lịch sử và tiên tri của Kinh Thánh. Một số người chỉ trích bảo rằng Kinh Thánh đầy dẫy những lời ngụy tạo, chuyện giả tưởng và những lời hứa không tròn. Những người đó thường thấy khó khăn nằm trong chính họ hơn là trong Kinh Thánh. Những công cuộc sưu khảo sâu rộng và thận trọng cho thấy những mâu thuẫn hiển nhiên nhất trong Kinh Thánh đều do các bản dịch không chính xác hơn là do những bất nhất thần cảm. Chính con người cần sửa chữa chứ không phải Kinh Thánh và có người đã bảo rằng "Kinh Thánh cần được đọc lại chứ không cần viết lại."
Thế mà trong nhiều gia đình những người mệnh danh là có học, lấy Kinh Thánh ra diễu cợt là chuyện hợp thời và coi Kinh Thánh là sách đóng bụi hơn là Lời Hằng Sống của Ðức Chúa Trời. Một ông mục sư thử hỏi một em bé xem em biết trong Kinh Thánh có gì. Em hăng hái trả lời là em biết tất cả mọi thứ có trong Kinh Thánh, rồi bắt đầu liệt kê, "có hình bạn trai của chị, có phiếu giảm giá mua kem dưỡng da của mẹ, có cái kẹp tóc của em bé và một cái vé xem hát!" Ðó là tất cả những thứ em biết trong cuốn Kinh Thánh của gia đình. Nhiều nhà đã dùng Kinh Thánh làm nơi cất các bức thư cũ và để ép hoa, hoàn toàn không thấy sự trợ giúp và bảo đảm Ðức Chúa Trời dành cho họ qua Kinh Thánh.
Ngày nay thái độ đó đang thay đổi thật nhanh chóng! Tất cả những cái trang hoàng nhân tạo vô nghĩa trong cuộc sống đang bị lột sạch. Những hứa hẹn giả dối con người nói với nhau đang trơ trẽn lộ ra. Trong khi sợ hãi nhìn quanh tìm điều chân thật, bền vững, một lần nữa chúng ta lại quay về với Quyển Sách cổ này, quyển sách đem lại nguồn an ủi, nâng đỡ, cứu chuộc cho hàng triệu người suốt bao nhiêu thế kỷ qua. Nhà tôi có lần đã nói: "Nếu con cái chúng ta có nền tảng của một gia đình hạnh phúc, kính sợ Chúa với một đức tin không lay chuyển rằng Kinh Thánh thật là Lời Ðức Chúa Trời, chúng sẽ có chỗ dựa vững chắc đến nỗi các quyền lực của địa ngục cũng không thể nào lay chuyển." Tôi tạ ơn Chúa về ảnh hưởng tin kính Chúa của nhà tôi đối với các con.
Vâng, ngày nay người ta đang tái "khám phá" Kinh Thánh! Họ đang đem Kinh Thánh ra quét sạch bụi bặm hay mua Kinh Thánh mới. Họ thấy những câu Kinh Thánh quen thuộc nhưng đã bị quên lãng đang vang lên những ý nghĩa mới khiến họ tưởng như Kinh Thánh vừa được viết hôm qua. Sở dĩ như vậy là vì Kinh Thánh hàm chứa tất cả những kiến thức con người cần cho linh hồn và giải quyết mọi nan đề của họ. Kinh Thánh là tấm bản đồ thiết kế của vị Ðại Kiến Trúc Sư cho nên chỉ do cẩn thận làm theo tất cả những chỉ dẫn trong đó chúng ta mới có thể xây dựng nổi cuộc đời chúng ta tìm kiếm.
Tại Hoa-kỳ có một văn kiện quan trọng khác được quí trọng. Văn kiện này được viết hơn hai trăm năm trước do một số người dốc đổ nhiều công sức soạn thảo, lại dành nhiều thì giờ hơn nữa để bàn thảo kỹ lưỡng từng điều khoản. Cuối cùng bản dự thảo được gửi cho tất cả 13 thành viên của liên bang phê chuẩn. Những người soạn thảo Hiến-pháp biết họ đang viết một văn kiện căn bản cho chính quyền của những người tự do; họ nhận định rằng con người chỉ có thể sống như những hữu thể tự do và độc lập nếu mỗi người biết và hiểu rõ luật pháp. Họ cũng cần phải biết rõ những quyền lợi, các đặc ân và cả những những giới hạn nữa. Họ phải được đối xử bình đẳng trước tòa án và ngay cả các thẩm phán cũng không thể xét xử bất công, vì chính họ cũng bị ràng buộc bởi cùng một luật lệ trong khi điều khiển từng vụ án.
Chân Lý Sẽ Giải Phóng Chúng Ta
Trong khi phần còn lại của thế giới theo dõi cuộc thử nghiệm lớn lao này của nhân loại, con người khám phá ra rằng nếu biết và sống theo luật pháp họ có thể thực sự được giải phóng! Bây giờ một người có thể biết mình đang ở đâu, biết những quyền hiến định và cũng có những trách nhiệm hiến định. Nếu xao lãng trách nhiệm, quyền lợi sẽ bị ảnh hưởng - như trường hợp các cử tri khinh suất về sau đã khám phá ra rằng mình đã bị chính quyền chất lên nhiều giới hạn họ không thích.
Như nước Mỹ đã tăng trưởng và phát triển trong khuôn khổ của Hiến-pháp, thì Cơ-đốc giáo cũng phát triển và lan rộng dựa vào luật pháp ghi trong Kinh Thánh. Như Hiến-pháp được áp dụng đồng đều cho mọi người sống dưới thẩm quyền của nó, không phân biệt hay ưu đãi bất cứ ai thì cũng vậy, Kinh Thánh là bản Hiến Pháp tối cao dành cho toàn thể nhân loại. Luật pháp của Kinh Thánh áp dụng đồng đều cho mọi người sống trong khuôn khổ Kinh Thánh không có biệt lệ hay cách giải thích đặc biệt nào.
Như Hiến-pháp là luật cao nhất của quốc gia thì Kinh Thánh là bộ luật cao nhất của Ðức Chúa Trời, trong đó Ngài công bố các qui luật thuộc linh. Chính trong Kinh Thánh Ðức Chúa Trời đưa ra những lời hứa bền vững của Ngài và cũng chính trong Kinh Thánh, Ðức Chúa Trời bày tỏ chương trình cứu chuộc cho nhân loại.
Trong những kỳ quan thiên nhiên chúng ta thấy các qui luật của Ðức Chúa Trời vận hành. Ai là người chưa từng nhìn lên các vì sao trong bầu trời đêm để kinh sợ đến lặng người trước vinh quang của công việc Ðức Chúa Trời? Ngay cả các phi hành gia của chúng ta cũng phải ca ngợi Ðức Chúa Trời là Tạo Hoá của cõi không gian vô tận và tất cả những cái phức tạp của một vũ trụ chúng ta mới khởi sự khám phá. Nếu không thể dựa vào những qui luật của Ðức Chúa Trời, chúng ta không thể thực hiện những cuộc viễn du vào không gian. Ai không cảm thấy lòng lâng lâng khi trời đất bước vào mùa xuân, khi vạn vật bừng lên sức sống mới? Trong vẻ đẹp rực rỡ xung quanh, chúng ta thấy cái vĩ đại của quyền năng Chúa và những chi tiết vô tận trong kế hoạch của Ngài; nhưng thiên nhiên đã không cho chúng ta biết gì về tình yêu hay ân sủng của Ðức Chúa Trời. Chúng ta cũng không tìm được lời hứa cứu chuộc của Ngài trong cõi thiên nhiên.
Tận nơi sâu thẳm của linh hồn, lương tri nói cho chúng ta biết về sự hiện diện của Ðức Chúa Trời và về cái khác biệt luân lý giữa tốt và xấu; nhưng đó chỉ là những mẩu sứ điệp vụn vặt, không rõ và không dễ hiểu như những bài học trong Kinh thánh. Chỉ trong những trang Kinh Thánh chúng ta mới tìm được sứ điệp rõ ràng không thể nhầm lẫn làm nền tảng cho Cơ-đốc giáo chân chính.
Luật pháp của đất nước chúng ta bắt nguồn từ Mười Giới Răn, và Sir William Blackstone, một thẩm phán lỗi lạc người Anh đã viết: "Kinh Thánh luôn luôn được coi là một phần Luật Phổ Thông của nước Anh."
Tất cả các giáo lý trong Cơ-đốc giáo đều dựa trên Lời Kinh Thánh và Cơ-đốc giáo cũng khẳng định không hề thêm bớt gì vào Lời Ðức Chúa Trời. Trong khi Hiến pháp Hoa Kỳ theo thời gian có thể phải được tu chính nhưng Kinh Thánh không bao giờ cần sửa đổi. Chúng ta chân thành tin tưởng rằng những người trứ tác Kinh Thánh thực sự được Ðức Thánh Linh hướng dẫn cả trong tư duy lẫn trong cách chọn lời diễn đạt bằng văn tự, như Thánh Phi-e-rơ đã nói, "...chẳng hề có lời tiên tri nào là bởi ý một người nào mà ra, nhưng ấy là bởi Ðức Thánh Linh cảm động mà người ta đã nói bởi Ðức Chúa Trời" (2 Phi-e-rơ 1:21). Thánh Phao-lô thì khẳng định, "Cả Kinh Thánh đều là bởi Ðức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, hầu cho người của Ðức Chúa Trời được trọn vẹn và trang bị để làm mọi việc lành." (2 Ti-mô-thê 3:16)
Khi ghi lại những sứ điệp trực tiếp từ Chúa, các trước giả Kinh Thánh không hề có ý tránh né những thực tại đời sống. Tội lỗi của cả vĩ nhân cũng như hạng tầm thường đều được nêu lên không dấu diếm. Những yếu đuối của con người thiên nhiên được thừa nhận và cuộc sống trong các thời đại của Kinh Thánh được ghi lại một cách trung thực. Ðiều làm chúng ta kinh ngạc đó là cuộc sống và động cơ của những con người sống trong những thời xa xưa như thế nhưng vẫn có những màu sắc của con người hiện đại! Những trang Kinh thánh giống như những tấm gương đặt trước tâm trí và tấm lòng, phản ánh những thành kiến và kiêu ngạo, những ô nhục và thất bại, những đau buồn và tội lỗi của chính chúng ta.
Chân lý vô thời gian
Chân lý không thay đổi khi thời đại, con người hay địa lý đổi thay. Tư tưởng loài người có thể khác nhau, tập quán thay đổi, những qui luật đạo đức cũng có thể biến thiên, nhưng Chân Lý vĩ đại, siêu việt vẫn đời đời bền vững.
Sứ điệp của Chúa Cứu Thế Giê-xu, Ðấng Cứu Tinh chúng ta là câu chuyện trung tâm của Kinh thánh - câu chuyện về sự cứu rỗi. Những nhà nghiên cứu Kinh thánh sâu sắc đã truy nguyên câu chuyện về Chúa Cứu Thế Giê-xu từ khởi đầu Cựu Ước, vì Ngài là chủ đề chính của cả Cựu Ước lẫn Tân Ước.
Sự kiện về Chúa Giê-xu là sứ điệp đời đời của Kinh Thánh. Ðây là câu chuyện về sự sống, bình an, cõi vĩnh hằng và thiên đàng. Trong Kinh Thánh không có một mục đích ẩn dấu nào và để hiểu Kinh Thánh cũng không cần phải có một phương thức giải nghĩa đặc biệt nào. Kinh Thánh có một sứ điệp rõ ràng, đơn sơ nhưng mạnh mẽ cho tất cả mọi người - sứ điệp của Chúa Cứu Thế với lời hứa ban sự bình an với Thượng Ðế.
Một ngày kia Chúa Giê-xu với các môn đồ ngồi trên một triền núi gần thành phố Ca-bê-nam. Tất cả qui tụ lại ngồi đối diện với Chúa. Bên cạnh Chúa có lẽ là Phi-e-rơ, bên kia là Giăng. Chúa yên lặng, trìu mến nhìn đám đông môn đệ nhiệt thành, với ánh mắt yêu thương dừng lại ở từng khuôn mặt như cha mẹ nhìn từng đứa con, yêu thương từng con riêng biệt bằng từng lý do đặc biệt, khiến cho mỗi người cảm nhận rằng chính mình được tách ra khỏi đám đông và được một mình ở trong vòng tay yêu thương của Chúa. Chắc hẳn Chúa Giê-xu đã yêu thương và biểu lộ tình thương với các môn đồ như thế và chắc hẳn trong ánh mắt trìu mến đó nhóm môn đồ nhỏ bé này cũng đã đáp ứng bằng thái độ cung kính âm thầm. Tất cả yên lặng đợi chờ, biết rằng Chúa sắp nói với họ những điều quan trọng, những điều họ phải truyền lại cho thế giới, cho những người không có đặc ân được nghe từ chính môi miệng của Thầy.
Tại trên triền núi đó, có lẽ Chúa Giê-xu đang đứng dưới những tàn lá xanh màu bạc của một cây ô-liu, giảng một bài giảng thâm sâu quan trọng nhất cho con người về cốt lõi của cuộc sống Cơ-đốc. Khi Chúa giảng xong, toàn thể các môn đồ im phăng phắc, kinh ngạc trong cái im lặng thiêng liêng ký thuật trong Ma-thi-ơ, "đoàn dân vô cùng ngạc nhiên về sự dạy dỗ của Ngài, vì Ngài dạy dỗ đầy uy quyền chứ không như các thầy thông giáo." (Ma-thi-ơ 7: 28,29)
Chúa thật đã giảng dạy với thẩm quyền của chính Ðức Chúa Trời, và những qui tắc Chúa thiết định chính là luật pháp của Ðức Chúa Trời mà mỗi Cơ-đốc nhân mong muốn được cứu rỗi phải tuân giữ.
Kinh Thánh Và Bạn
Nếu bạn chưa có Kinh Thánh, xin tìm mua ngay một cuốn. Tìm cuốn nào vừa ý nhất, về kích thước cũng như về khổ chữ rồi khởi sự đọc để cố gắng tự tìm hiểu xem tại sao Quyển Sách này chịu đựng nổi với thuốc thử thời gian. Ðừng tiếc khi cần phải mua một cuốn Kinh Thánh đắt tiền, vì thật ra đây là một cuộc đầu tư. Chúng ta đã tốn kém rất nhiều cho áo quần là những thứ không tồn tại mãi nhưng lại do dự khi phải mua một cuốn Kinh Thánh thật tốt để đầu tư cho cõi vĩnh hằng! Hãy tự khám phá xem tại sao Kinh Thánh đáp ứng được cho các nhu cầu của nhân loại, tại sao Kinh Thánh đã ban đức tin và sức mạnh, giúp con người tiếp tục đi tới.
Nếu bạn đã rời xa Kinh Thánh từ lâu thì điều tốt nhất bây giờ là trở lại làm quen với Kinh Thánh bằng cách bắt đầu đọc Phúc Âm Giăng, được coi là một trong những quyển thâm sâu nhất trong bộ Kinh Thánh, nhưng lại là sách sáng sủa nhất, dễ hiểu nhất. Phúc Âm Giăng đã được viết với mục đích trình bày cặn kẽ về sự cứu rỗi loài người đến nỗi mọi thắc mắc trong tâm trí cũng như những khát khao trong lòng đều có thể được thỏa mãn.
Ðọc xong sách Giăng, bạn có thể tiếp tục làm quen với các sách Phúc Âm Mác, Lu-ca và Ma-thi-ơ để thấy những trước giả rất khác nhau về cá tính và văn phong trình bày câu chuyện muôn đời về sự cứu rỗi qua Chúa Cứu Thế Giê-xu. Rồi bạn sẽ nhận ra đó chính là chân lý phổ quát và mạnh mẽ, là trọng tâm của tin lành khiến cho bạn càng cảm thấy thấm thía hơn với điều một trước giả Kinh thánh viết rằng "Chúa Cứu Thế Giê-xu hôm qua, ngày nay và cho đến đời đời không hề thay đổi." (Hê-bơ-rơ 13:8)
Sau khi đã đọc riêng từng sách Phúc Âm, bạn hãy khởi sự đọc từ đầu Tân Ước cho đến hết theo thứ tự. Ðọc như vậy xong, bạn đã tạo được một ý thích muốn đọc Kinh Thánh, bạn đã thấy Kinh Thánh là một nguồn suối linh diệu, là một người hướng đạo, một người cố vấn rất thực tiễn, là một kho tàng quí giá đầy những lời khuyên khôn ngoan, khiến cho đối với bạn, việc đọc Kinh Thánh trở thành một phần cuộc sống mỗi ngày.
Ðể có một cuộc sống phong phú và đầy ý nghĩa, kiến thức về Kinh Thánh là điều thiết yếu, vì những lời trong Quyển Sách này có khả năng trám vào những chỗ khiếm khuyết trong cuộc sống, nối kết những khoảng trống, biến những mảng màu hoen ố của cuộc đời chúng ta trở nên bóng lộn như vàng ngọc. Hãy tập đem mọi nan đề của bạn đến với Kinh Thánh rồi trong những trang sách đó, bạn sẽ tìm ra lời giải đáp.
Nhưng trên hết, Kinh Thánh là mạc khải về bản chất của Ðức Chúa Trời. Các triết gia của hàng bao nhiêu thế kỷ đã vật lộn về vấn đề có một Ðấng Tối Cao. Ngài là ai? Ngài như thế nào? Ngài ở đâu? Nếu quả có một Ðấng như vậy thì Ngài có quan tâm đến tôi không? Nếu có, làm sao tôi biết Ngài? Những câu hỏi này và hàng nghìn những câu hỏi khác về Ðức Chúa Trời đã được trình bày trong một quyển sách chúng ta gọi là Kinh Thánh. Một Cơ-đốc nhân có lần nói, "Bạn có biết quyển sách bạn muốn được kê dưới đầu làm gối lúc lâm chung không?" Joseph Cook nói tiếp, "Ðó cũng là Cuốn Sách bạn phải học hỏi lúc sinh tiền. Trên thế giới này chỉ có một cuốn sách như thế mà thôi."
Billy Graham
Peace With God
Hà Huy Việt chuyển ngữ
Đọc thêm!
Thứ Tư, 27 tháng 1, 2010
Máy bay hạ cánh khẩn cấp vì chuyện cầu nguyện
11:21 AM | 22/01/2010 )
Một cậu bé Do Thái khiến cả chuyến bay từ New York tới Kentucky phải chuyển hướng đột ngột và hạ cánh xuống Philadelphia hôm qua, trước sự đón tiếp của hàng loạt cảnh sát, chó nghiệp vụ và các nhân viên FBI.
Thiếu niên 17 tuổi trên chuyến bay 3079 của hãng US Airways Express đã lôi ra những chiếc hộp nhỏ chứa kinh thánh để cầu nguyện, cảnh sát Philadelphia Frank Vanore cho biết. Khi cậu cầu nguyện, một hộp được buộc vào tay, còn hộp kia thì buộc trên đầu.
"Đó là điều mà một người bình thường hiếm khi nhìn thấy", AP dẫn lời phát ngôn viên FBI J.J. Klaver nói.
Cậu bé đã giải thích nghi thức cho các tiếp viên khi được chất vấn, nhưng họ vẫn cảm thấy chưa nhận được câu trả lời rõ ràng. "Vì vậy, để đảm bảo an toàn cho mọi hành khách, phi hành đoàn đã quyết định cho máy bay hạ cánh khẩn cấp xuống Philadelphia để các quan chức có thể điều tra rõ hơn", phát ngôn viên của hãng hàng không tuyên bố.
Máy bay hạ cánh tại Philadelphia trước sự tiếp đón của hàng loạt cảnh sát, chó nghiệp vụ, đặc vụ FBI và nhân viên cơ quan an ninh giao thông. Các quan chức cho biết máy bay đã được lục soát và các hành khách được thẩm vấn. Cậu bé đến từ White Plains, New York, đi cùng em gái 16 tuổi và cả hai rất hợp tác. Sau đó họ đã được thả ra để tiếp tục hành trình.
Về sau bà của cậu thiếu niên cho biết do cậu phải lên máy bay sớm nên không có thời gian cầu nguyện trước khi rời New York. Việc cầu nguyện buổi sáng thường diễn ra trong vài giờ khi bình minh lên, vì vậy cậu phải làm việc này ở trên máy bay. Còn nghi thức buộc các cuốn kinh thánh lên tay và đầu là để nhắc nhở người đó rằng "mọi hành động họ làm trong ngày, và những gì họ suy nghĩ trong ngày, sẽ phải trong sáng, cao cả, thúc đẩy họ làm những việc tốt, có ý nghĩa".
Diệu Minh
(theo vnexpress)
Đọc thêm!
Một cậu bé Do Thái khiến cả chuyến bay từ New York tới Kentucky phải chuyển hướng đột ngột và hạ cánh xuống Philadelphia hôm qua, trước sự đón tiếp của hàng loạt cảnh sát, chó nghiệp vụ và các nhân viên FBI.
Thiếu niên 17 tuổi trên chuyến bay 3079 của hãng US Airways Express đã lôi ra những chiếc hộp nhỏ chứa kinh thánh để cầu nguyện, cảnh sát Philadelphia Frank Vanore cho biết. Khi cậu cầu nguyện, một hộp được buộc vào tay, còn hộp kia thì buộc trên đầu.
"Đó là điều mà một người bình thường hiếm khi nhìn thấy", AP dẫn lời phát ngôn viên FBI J.J. Klaver nói.
Cậu bé đã giải thích nghi thức cho các tiếp viên khi được chất vấn, nhưng họ vẫn cảm thấy chưa nhận được câu trả lời rõ ràng. "Vì vậy, để đảm bảo an toàn cho mọi hành khách, phi hành đoàn đã quyết định cho máy bay hạ cánh khẩn cấp xuống Philadelphia để các quan chức có thể điều tra rõ hơn", phát ngôn viên của hãng hàng không tuyên bố.
Máy bay hạ cánh tại Philadelphia trước sự tiếp đón của hàng loạt cảnh sát, chó nghiệp vụ, đặc vụ FBI và nhân viên cơ quan an ninh giao thông. Các quan chức cho biết máy bay đã được lục soát và các hành khách được thẩm vấn. Cậu bé đến từ White Plains, New York, đi cùng em gái 16 tuổi và cả hai rất hợp tác. Sau đó họ đã được thả ra để tiếp tục hành trình.
Về sau bà của cậu thiếu niên cho biết do cậu phải lên máy bay sớm nên không có thời gian cầu nguyện trước khi rời New York. Việc cầu nguyện buổi sáng thường diễn ra trong vài giờ khi bình minh lên, vì vậy cậu phải làm việc này ở trên máy bay. Còn nghi thức buộc các cuốn kinh thánh lên tay và đầu là để nhắc nhở người đó rằng "mọi hành động họ làm trong ngày, và những gì họ suy nghĩ trong ngày, sẽ phải trong sáng, cao cả, thúc đẩy họ làm những việc tốt, có ý nghĩa".
Diệu Minh
(theo vnexpress)
Đọc thêm!
Thứ Hai, 23 tháng 11, 2009
John D. Rockefeller
For his eighth birthday, Johnny’s mother gave him the absolutely best present he could ever have imagined. She gave him a hen—his very own pedigree hen with bright eyes and untold generations of potential. For many nights afterward, Johnny was unable to sleep. He tossed and turned while visions of successful chicken farming filled his young and active mind. Johnny couldn’t help but wonder how many chicks the hen would have and how much money he would make from her first clutch.
Over the next few months, Johnny took good care of his hen and cleaned her roost faithfully. He was diligent to watch for signs of foxes and snakes and repaired the chicken coop whenever he found anything that might cause harm. He even caught fat and juicy grasshoppers to supplement the feed he scattered twice a day and made sure she always had fresh, clean water.
Eventually, his little hen began to lay her eggs. Johnny bounced with impatience and hovered anxiously while he counted the days until the emergence of the fluffy little cheepers. Much to his delight, five noisy, healthy chicks were soon snuggled beneath his hen’s protective wings.
Oh boy, I’m going to be the richest kid in the whole county, Johnny thought to himself while he calculated his profits. If I sell them for 20 cents each, I’ll have a whole dollar. That was an enormous amount of money for a young boy to hope for in the mid 1800s.
When the five chicks were old enough, young Johnny loaded the chickens into a crate and set off to seek a buyer. After presenting the virtues and benefits of his stock to several local farmers, Johnny was thrilled when a neighbor agreed to buy all five. Johnny closed the deal with a handshake and shoved the dollar down into his pocket as deep as possible.
His money securely tucked away, the young entrepreneur sprinted excitedly down the long dusty lane and ran all the way home. He was rich! He could buy anything! A kaleidoscope of fantasies swirled through his head as his feet pounded the old dirt road. There were so many things he could buy with his first dollar—toys, candies, ice cream, nothing was out of his reach now. His mom was going to be so proud that her son was now a rich young man.
Johnny was breathing hard from excitement and exertion as he burst into the kitchen. “Ma, you won’t believe it. I sold all five of my chicks. I must be the richest kid in the whole county. Can you believe it Ma?”
She shook his hand like an adult and grinned back at him. “I believe it Son; you can do anything you set your mind to. You’re a smart kid. And you worked hard for this.”
Johnny’s mom was proud of Johnny, but in the midst of the celebration, she realized that this was a golden opportunity to teach Johnny a valuable teaching about stewardship. This teaching would stay vivid in Johnny’s memory for the remainder of his life.
“There is one thing I need you to realize though.”
“What is it Ma?” asked Johnny.
“Well son, not all of that money is yours.”
Dumbfounded and a bit angry Johnny looked at her, “But Ma, it is mine. I worked hard for it, how can it not be mine?”
“The Bible says that our money belongs to God. All money belongs to God. He gave you the strength and health to make your first dollar, now, He asks that you comply with His word and return ten percent to him.”
“But that’s a whole dime Mom! That’s far too much.” The fledgling business man began to negotiate. “Can I just give Him a penny?”
“Now Son, I guarantee you that if you fulfill your obligation with God, you’ll never regret it.” Mom brought their well-used Bible to the table and turned to the book of Malachi and began to read from chapter three at verse six through verse twelve.
"I the LORD do not change. So you, O descendants of Jacob, are not destroyed. Ever since the time of your forefathers you have turned away from my decrees and have not kept them. Return to me, and I will return to you," says the LORD Almighty.
"But you ask, 'How are we to return?'
"Will a man rob God? Yet you rob me.
"But you ask, 'How do we rob you?'
"In tithes and offerings.
“You are under a curse—the whole nation of you—because you are robbing me. Bring the whole tithe into the storehouse, that there may be food in my house.
“Test me in this," says the LORD Almighty, "and see if I will not throw open the floodgates of heaven and pour out so much blessing that you will not have room enough for it.
“I will prevent pests from devouring your crops, and the vines in your fields will not cast their fruit," says the LORD Almighty.
"Then all the nations will call you blessed, for yours will be a delightful land," says the LORD Almighty.
Johnny thought about these words for a minute. “I guess you’re right Ma. After all I’ll still be the richest kid in the county.”
Johnny continued to raise healthy premium chicks and faithfully gave ten percent from each sale to the local Baptist church. In time, he became a prosperous young man and realized that his Mom was right: he never had cause to regret returning ten percent of all income to God.
In 1855, John D. Rockefeller turned sixteen and he found a job as bookkeeper for a local wholesale firm. As always, John demonstrated an excellent work ethic and strove to maintain that the books were accurate and up to date. His work day typically began at 6:30 a.m. and the young man didn’t leave most days until 10 p.m. He did not mind the hard work, and maintained his high standards, even though his wages totaled a meager $4.00 a week. His bosses, Hewitt and Tuttle, paid far below minimum wage because jobs were tight and John was unwilling to quit his job. Even though he was underpaid, he continued to give his tithes (ten percent) to the local Erie Street Baptist church.
He believed and trusted God’s word and that God would open a supernatural door of prosperity when the time was right. And while he waited, John began to give generously, almost fanatically. He gave passionately to the Church and to support preachers, poor congregants, missionaries, and a school for the poor.
God honored his faith and actions. Tuttle—the partner who was always belittling John—soon quit the firm. Hewitt offered Tuttle’s half of the company to his hard-working bookkeeper. John. Shortly, John assumed co-ownership and more than doubled his pay. While John was proud of achievement, he realized it was God who had arranged this door of opportunity, just like He promised. Under John’s indomitable leadership, the company prospered and by the time John turned 23 in the mid 1800’s, he was one of only a few young self-made millionaires in America.
John D. Rockefeller’s willingness to give is something that had stayed with him his entire life and he regularly gave over and above the ten percent standard. John wrote: “I have tithed (given 10% of) every dollar God has entrusted to me. And I want to say, if I had not tithed the first dollar I made I would not have tithed the first million dollars I made. Tell your readers to train their children to tithe, and they will grow up to be faithful stewards of the Lord.”
John was willing to use his money to help people in desperate situations. In 1865, a free-man from Cincinnati heard of John's charitable giving and saw John as his only hope. It took some determination, but he was able to present his case to John and without hesitation, John D. Rockefeller was able to help this black man buy his wife out of slavery.
At the age of 53, he became America’s first billionaire, a level of wealth unprecedented in our nation’s history. Though John had continued to pay tithes on his personal income, his business strategies were considered ruthless and greedy. Then John developed alopecia, a rare glandular disease. His body was in tremendous pain and he lost all the hair throughout his body. The man with enough money to dine at the most prestigious restaurants in New York could only swallow crackers and milk. A friend wrote, "He could not sleep, would not smile and nothing in life meant anything to him."
The wealthiest man in America procured the very best physicians in the world and they stood helpless beside his bed, none seemed to be of any help. The physicians gravely decided that John had only one more year to live
John woke once in a state of great fear and panic. “I had a terrifying dream. I was on the verge of leaving this body. Death was calling out to me and I almost surrendered, but then I heard a voice. The voice of an angel which said, ‘Your mission on earth is unfinished. Do not worry about whether or not you will die. You will live. You are a man with a great destiny to fulfill on earth. Remember this, and don’t forget it. When you leave this earth you will leave your riches behind.’”
This dream made a notable impact on John D. Rockefeller’s focus and the direction of his life. At this point in John’s total worth was approximately 900 million dollars. The dream rekindled his desire to give his money away to benefit humanity. John became quite radical in his giving and gave away 550 million dollars.
While some people considered this act foolish or irrational, John realized something. Not only could he not out-give God, but he could not afford to loose sight of the fact that the Most High God allowed him to have money to give in the first place. John said, “It has seemed as if I was favored and got increases, because the Lord knew that I was going to turn around and give it back.”
As soon as he resumed his extravagant giving, his company, Standard Oil, began to show astonishing profits. Even though he gave away the bulk of his fortune, he gained even more wealth. Even more amazing, “the moment he began to give back a portion of all that he had earned, his body’s chemistry was altered so significantly that he recovered. It looked as if he would die at 53 but he lived to be 98.” What a tremendous story about the power of giving.
John D. Rockefeller had a gift. He was anointed for business. He was empowered to gain wealth. God knew that if John was able to gain wealth he would be willing to give the money back to help others.
John made the following statement: “I believe the power of making money is a gift of God…I believe it is my duty to go on making money and still more money, and to dispose of the money I make for the good of my fellow man according to the dictates of my conscience.”
These vast stores of wealth were the gifts of the great Creator.
“…be careful that you do not forget the LORD,
who brought you out of Egypt, out of the land of slavery.”
Deuteronomy 6:12
Thanks to the following for contributions to this chapter:
Rockefeller, John, Sr., “Yes I Tithe.” in (Stories & Testimonies [cited 05 April 2006]
www.generousgiving.org
Segall, Grant, John D. Rockefeller: Anointed With Oil
http://www.businessheroes.org/john_d_rockefeller.htm
Đọc thêm!
Over the next few months, Johnny took good care of his hen and cleaned her roost faithfully. He was diligent to watch for signs of foxes and snakes and repaired the chicken coop whenever he found anything that might cause harm. He even caught fat and juicy grasshoppers to supplement the feed he scattered twice a day and made sure she always had fresh, clean water.
Eventually, his little hen began to lay her eggs. Johnny bounced with impatience and hovered anxiously while he counted the days until the emergence of the fluffy little cheepers. Much to his delight, five noisy, healthy chicks were soon snuggled beneath his hen’s protective wings.
Oh boy, I’m going to be the richest kid in the whole county, Johnny thought to himself while he calculated his profits. If I sell them for 20 cents each, I’ll have a whole dollar. That was an enormous amount of money for a young boy to hope for in the mid 1800s.
When the five chicks were old enough, young Johnny loaded the chickens into a crate and set off to seek a buyer. After presenting the virtues and benefits of his stock to several local farmers, Johnny was thrilled when a neighbor agreed to buy all five. Johnny closed the deal with a handshake and shoved the dollar down into his pocket as deep as possible.
His money securely tucked away, the young entrepreneur sprinted excitedly down the long dusty lane and ran all the way home. He was rich! He could buy anything! A kaleidoscope of fantasies swirled through his head as his feet pounded the old dirt road. There were so many things he could buy with his first dollar—toys, candies, ice cream, nothing was out of his reach now. His mom was going to be so proud that her son was now a rich young man.
Johnny was breathing hard from excitement and exertion as he burst into the kitchen. “Ma, you won’t believe it. I sold all five of my chicks. I must be the richest kid in the whole county. Can you believe it Ma?”
She shook his hand like an adult and grinned back at him. “I believe it Son; you can do anything you set your mind to. You’re a smart kid. And you worked hard for this.”
Johnny’s mom was proud of Johnny, but in the midst of the celebration, she realized that this was a golden opportunity to teach Johnny a valuable teaching about stewardship. This teaching would stay vivid in Johnny’s memory for the remainder of his life.
“There is one thing I need you to realize though.”
“What is it Ma?” asked Johnny.
“Well son, not all of that money is yours.”
Dumbfounded and a bit angry Johnny looked at her, “But Ma, it is mine. I worked hard for it, how can it not be mine?”
“The Bible says that our money belongs to God. All money belongs to God. He gave you the strength and health to make your first dollar, now, He asks that you comply with His word and return ten percent to him.”
“But that’s a whole dime Mom! That’s far too much.” The fledgling business man began to negotiate. “Can I just give Him a penny?”
“Now Son, I guarantee you that if you fulfill your obligation with God, you’ll never regret it.” Mom brought their well-used Bible to the table and turned to the book of Malachi and began to read from chapter three at verse six through verse twelve.
"I the LORD do not change. So you, O descendants of Jacob, are not destroyed. Ever since the time of your forefathers you have turned away from my decrees and have not kept them. Return to me, and I will return to you," says the LORD Almighty.
"But you ask, 'How are we to return?'
"Will a man rob God? Yet you rob me.
"But you ask, 'How do we rob you?'
"In tithes and offerings.
“You are under a curse—the whole nation of you—because you are robbing me. Bring the whole tithe into the storehouse, that there may be food in my house.
“Test me in this," says the LORD Almighty, "and see if I will not throw open the floodgates of heaven and pour out so much blessing that you will not have room enough for it.
“I will prevent pests from devouring your crops, and the vines in your fields will not cast their fruit," says the LORD Almighty.
"Then all the nations will call you blessed, for yours will be a delightful land," says the LORD Almighty.
Johnny thought about these words for a minute. “I guess you’re right Ma. After all I’ll still be the richest kid in the county.”
Johnny continued to raise healthy premium chicks and faithfully gave ten percent from each sale to the local Baptist church. In time, he became a prosperous young man and realized that his Mom was right: he never had cause to regret returning ten percent of all income to God.
In 1855, John D. Rockefeller turned sixteen and he found a job as bookkeeper for a local wholesale firm. As always, John demonstrated an excellent work ethic and strove to maintain that the books were accurate and up to date. His work day typically began at 6:30 a.m. and the young man didn’t leave most days until 10 p.m. He did not mind the hard work, and maintained his high standards, even though his wages totaled a meager $4.00 a week. His bosses, Hewitt and Tuttle, paid far below minimum wage because jobs were tight and John was unwilling to quit his job. Even though he was underpaid, he continued to give his tithes (ten percent) to the local Erie Street Baptist church.
He believed and trusted God’s word and that God would open a supernatural door of prosperity when the time was right. And while he waited, John began to give generously, almost fanatically. He gave passionately to the Church and to support preachers, poor congregants, missionaries, and a school for the poor.
God honored his faith and actions. Tuttle—the partner who was always belittling John—soon quit the firm. Hewitt offered Tuttle’s half of the company to his hard-working bookkeeper. John. Shortly, John assumed co-ownership and more than doubled his pay. While John was proud of achievement, he realized it was God who had arranged this door of opportunity, just like He promised. Under John’s indomitable leadership, the company prospered and by the time John turned 23 in the mid 1800’s, he was one of only a few young self-made millionaires in America.
John D. Rockefeller’s willingness to give is something that had stayed with him his entire life and he regularly gave over and above the ten percent standard. John wrote: “I have tithed (given 10% of) every dollar God has entrusted to me. And I want to say, if I had not tithed the first dollar I made I would not have tithed the first million dollars I made. Tell your readers to train their children to tithe, and they will grow up to be faithful stewards of the Lord.”
John was willing to use his money to help people in desperate situations. In 1865, a free-man from Cincinnati heard of John's charitable giving and saw John as his only hope. It took some determination, but he was able to present his case to John and without hesitation, John D. Rockefeller was able to help this black man buy his wife out of slavery.
At the age of 53, he became America’s first billionaire, a level of wealth unprecedented in our nation’s history. Though John had continued to pay tithes on his personal income, his business strategies were considered ruthless and greedy. Then John developed alopecia, a rare glandular disease. His body was in tremendous pain and he lost all the hair throughout his body. The man with enough money to dine at the most prestigious restaurants in New York could only swallow crackers and milk. A friend wrote, "He could not sleep, would not smile and nothing in life meant anything to him."
The wealthiest man in America procured the very best physicians in the world and they stood helpless beside his bed, none seemed to be of any help. The physicians gravely decided that John had only one more year to live
John woke once in a state of great fear and panic. “I had a terrifying dream. I was on the verge of leaving this body. Death was calling out to me and I almost surrendered, but then I heard a voice. The voice of an angel which said, ‘Your mission on earth is unfinished. Do not worry about whether or not you will die. You will live. You are a man with a great destiny to fulfill on earth. Remember this, and don’t forget it. When you leave this earth you will leave your riches behind.’”
This dream made a notable impact on John D. Rockefeller’s focus and the direction of his life. At this point in John’s total worth was approximately 900 million dollars. The dream rekindled his desire to give his money away to benefit humanity. John became quite radical in his giving and gave away 550 million dollars.
While some people considered this act foolish or irrational, John realized something. Not only could he not out-give God, but he could not afford to loose sight of the fact that the Most High God allowed him to have money to give in the first place. John said, “It has seemed as if I was favored and got increases, because the Lord knew that I was going to turn around and give it back.”
As soon as he resumed his extravagant giving, his company, Standard Oil, began to show astonishing profits. Even though he gave away the bulk of his fortune, he gained even more wealth. Even more amazing, “the moment he began to give back a portion of all that he had earned, his body’s chemistry was altered so significantly that he recovered. It looked as if he would die at 53 but he lived to be 98.” What a tremendous story about the power of giving.
John D. Rockefeller had a gift. He was anointed for business. He was empowered to gain wealth. God knew that if John was able to gain wealth he would be willing to give the money back to help others.
John made the following statement: “I believe the power of making money is a gift of God…I believe it is my duty to go on making money and still more money, and to dispose of the money I make for the good of my fellow man according to the dictates of my conscience.”
These vast stores of wealth were the gifts of the great Creator.
“…be careful that you do not forget the LORD,
who brought you out of Egypt, out of the land of slavery.”
Deuteronomy 6:12
Thanks to the following for contributions to this chapter:
Rockefeller, John, Sr., “Yes I Tithe.” in (Stories & Testimonies [cited 05 April 2006]
www.generousgiving.org
Segall, Grant, John D. Rockefeller: Anointed With Oil
http://www.businessheroes.org/john_d_rockefeller.htm
Đọc thêm!
Tithing Your Money
Tithing or giving away a tenth of your money seems to be, to put it lightly, a rather unconventional way to have more money. After all, in order to have more, it makes perfect logical sense not to tithe and to keep more? How does this square up?
In case you didn’t already know, the really rich tithe or do something similar. It may not be 10%, it could be more or less. Ted Turner, Bill Gates and numerous others give away millions and millions each year. They set up various foundations and trusts funds. Have you ever wondered they do they do it? You can look at it in a negative manner and say things like, well it was ill gotten gains and the money is just to clear their conscience. Well, maybe. Or they get tax breaks. Yes, under certain circumstances, people get tax exemption and that’s why they do it. I won’t go further into this as different countries have different tax and estate distribution laws.
Beyond these self focused interest, does tithing actually brings more money into your life? Let’s examine the principles behind tithing and I’ll also share my personal experience.
I’m pretty sure you have also heard of the principle of cause and effect. And you’ve heard of the phrase, “You reap what you sowâ€. If you sow good seeds, good things will flow back into your life. For example, if you sow anger, by being angry and/or make people angry, you will eventually reap the effect. If you sow seeds of love, by being loving and caring to others, they in turn will love and care for you back. It’s the same with money. In case you don’t know, this came from the bible in 2 Corinthians 9:6 ….he who sows sparingly will also reap sparingly, and he who sows bountifully will also reap bountifully. Even Robert Kiyosaki in one of his books mentions tithing!
Before I share my experience of tithing, I want to make this very clear. Please don’t take this in the wrong way. I’m not sharing this to brag that I give away money. Merely to share what I think, and what I practice, which is that the principle of sowing and reaping works. Again you have to be wise here. Don’t tithe money or resources to people who don’t need it or use it for the wrong reasons.
Okay, I first learned about giving tithes in church way back in 1997. A tithe means a tenth and giving tithes means giving away 10% of gross. For me, it wasn’t easy to tithe. I wasn’t doing well. In fact I was just surviving and at times have to dip into my savings to pay my bills, those days. But I stuck with it, because I just became a Christian then and I believed what was promised in the bible. Moreover, in the old Testament in Malachi 3:10, it says “Bring the whole tithe into the storehouse, that there may be food in my house. Test me in this, says the LORDâ€. Well it gave me further incentive to TEST God. Now everywhere else, it says Do Not TEST the Lord your God. This is the only place to say test. Okay, I took up the challenge of tithing.
Did I get more money immediately? The answer is no. Did I get more business? Can’t say for sure. But what I can say is that over the years, my income has grown steadily and always been sufficient to meet my needs. I manage to travel a bit, gotten a much better car, gotten married and did the things most people did. Now of course, I learned, worked hard and did all the things necessary as a foundation for more income. But there were times and I’m fairly sure off is this. Opportunities did come my way. Tithing is always as a test of faith. Knowing the principles, are you willing to follow through.
One other thing is this. Every time I give, it reminds me that no matter how bad I think my current situation is, there are others who are worst off than me. It also reminds me that in the past, my goal is to be where I am currently. Just as our financial goals grow bigger, sometimes we forget where we came from and we forget to be thankful of the good that came our way. Learning to be thankful in every situation is another way to bring more wealth into your life.
I do encourage you to try tithing. Help someone else for a change. Tithe a small amount if you have not done this before. Try to focus on the needs of the others. It could be just helping out in an old folks’ home, buying some small gifts for orphans or under privilege children. Anything, but give without any expectation of receiving any benefit from the person you help. If you expect any direct returns at all from tithing, then this doesn’t work. It boils down to your heart. If tithing causes guilt, then don’t do it.
Last note. Just in case, you think I’ve nailed down tithing, every time I tithe, it is still a challenge for me. Perhaps the human heart is tied to the wallet. But tithing can be learned just like anything else, and I think it opens the windows of heavan.
The more you give, the more you receive! Happy tithing.
http://www.personalmoneytips.com/blog/tithing-your-money/
Đọc thêm!
In case you didn’t already know, the really rich tithe or do something similar. It may not be 10%, it could be more or less. Ted Turner, Bill Gates and numerous others give away millions and millions each year. They set up various foundations and trusts funds. Have you ever wondered they do they do it? You can look at it in a negative manner and say things like, well it was ill gotten gains and the money is just to clear their conscience. Well, maybe. Or they get tax breaks. Yes, under certain circumstances, people get tax exemption and that’s why they do it. I won’t go further into this as different countries have different tax and estate distribution laws.
Beyond these self focused interest, does tithing actually brings more money into your life? Let’s examine the principles behind tithing and I’ll also share my personal experience.
I’m pretty sure you have also heard of the principle of cause and effect. And you’ve heard of the phrase, “You reap what you sowâ€. If you sow good seeds, good things will flow back into your life. For example, if you sow anger, by being angry and/or make people angry, you will eventually reap the effect. If you sow seeds of love, by being loving and caring to others, they in turn will love and care for you back. It’s the same with money. In case you don’t know, this came from the bible in 2 Corinthians 9:6 ….he who sows sparingly will also reap sparingly, and he who sows bountifully will also reap bountifully. Even Robert Kiyosaki in one of his books mentions tithing!
Before I share my experience of tithing, I want to make this very clear. Please don’t take this in the wrong way. I’m not sharing this to brag that I give away money. Merely to share what I think, and what I practice, which is that the principle of sowing and reaping works. Again you have to be wise here. Don’t tithe money or resources to people who don’t need it or use it for the wrong reasons.
Okay, I first learned about giving tithes in church way back in 1997. A tithe means a tenth and giving tithes means giving away 10% of gross. For me, it wasn’t easy to tithe. I wasn’t doing well. In fact I was just surviving and at times have to dip into my savings to pay my bills, those days. But I stuck with it, because I just became a Christian then and I believed what was promised in the bible. Moreover, in the old Testament in Malachi 3:10, it says “Bring the whole tithe into the storehouse, that there may be food in my house. Test me in this, says the LORDâ€. Well it gave me further incentive to TEST God. Now everywhere else, it says Do Not TEST the Lord your God. This is the only place to say test. Okay, I took up the challenge of tithing.
Did I get more money immediately? The answer is no. Did I get more business? Can’t say for sure. But what I can say is that over the years, my income has grown steadily and always been sufficient to meet my needs. I manage to travel a bit, gotten a much better car, gotten married and did the things most people did. Now of course, I learned, worked hard and did all the things necessary as a foundation for more income. But there were times and I’m fairly sure off is this. Opportunities did come my way. Tithing is always as a test of faith. Knowing the principles, are you willing to follow through.
One other thing is this. Every time I give, it reminds me that no matter how bad I think my current situation is, there are others who are worst off than me. It also reminds me that in the past, my goal is to be where I am currently. Just as our financial goals grow bigger, sometimes we forget where we came from and we forget to be thankful of the good that came our way. Learning to be thankful in every situation is another way to bring more wealth into your life.
I do encourage you to try tithing. Help someone else for a change. Tithe a small amount if you have not done this before. Try to focus on the needs of the others. It could be just helping out in an old folks’ home, buying some small gifts for orphans or under privilege children. Anything, but give without any expectation of receiving any benefit from the person you help. If you expect any direct returns at all from tithing, then this doesn’t work. It boils down to your heart. If tithing causes guilt, then don’t do it.
Last note. Just in case, you think I’ve nailed down tithing, every time I tithe, it is still a challenge for me. Perhaps the human heart is tied to the wallet. But tithing can be learned just like anything else, and I think it opens the windows of heavan.
The more you give, the more you receive! Happy tithing.
http://www.personalmoneytips.com/blog/tithing-your-money/
Đọc thêm!
Robert Kiyosaki on Tithing
As far as tithing goes, we continue to donate a large percentage to charitable organizations. It's important to give. As my very religious friend says, "God does not need to receive, but humans need to give." Also, the reason we give is because tithing is our way of paying our partner -- God. God is the best business partner that I've ever had. He asks for 10 percent and lets me keep the other 90 percent. You know what happens if you stop paying your partners? They stop working with you. That is why we tithe.
Like much of what Kiyosaki says, there's a mix of truth and "say what?" in these comments. Here's my take:
1. God isn't some sort of spiritual income insurance that you pay off and you're promised to prosper.
2. Key difference between seeing God as a golden goose and a heavenly Father that you want a relationship with is your attitude. Consider the passage that says we should "remember" God since He helps us produce wealth. It doesn't say "pay Him off and then forget Him."
3. The purpose of tithing is to teach us to put God first in our lives. Again, it's not as simple as writing Him a check and forgetting everything else He says.
4. I believe that giving (with the right attitude) does make you wealthier. God does promise to "open the windows of heaven" if you tithe and make your 90% go farther than 100% without tithing.
5. But giving isn't the whole story. You need to look at the complete picture of what the Bible says on managing your money. If you do, you will become wealthy.
6. The whole relationship between giving and wealth is very unusual to say the least. It doesn't make sense that you'd become wealthier by giving (the math doesn't make sense) but in many cases this is what even non-Christian advisors advocate. There is a "power" in giving.
7. Scientific research has now shown that if you give, you will have a better life.
Those are my top-line thoughts. What's your take on the issue? Even if you're not a Christian or are "religious", do you think there's a link between giving and becoming wealthier?
http://www.freemoneyfinance.com/2008/07/robert-kiyosaki.html
Đọc thêm!
Like much of what Kiyosaki says, there's a mix of truth and "say what?" in these comments. Here's my take:
1. God isn't some sort of spiritual income insurance that you pay off and you're promised to prosper.
2. Key difference between seeing God as a golden goose and a heavenly Father that you want a relationship with is your attitude. Consider the passage that says we should "remember" God since He helps us produce wealth. It doesn't say "pay Him off and then forget Him."
3. The purpose of tithing is to teach us to put God first in our lives. Again, it's not as simple as writing Him a check and forgetting everything else He says.
4. I believe that giving (with the right attitude) does make you wealthier. God does promise to "open the windows of heaven" if you tithe and make your 90% go farther than 100% without tithing.
5. But giving isn't the whole story. You need to look at the complete picture of what the Bible says on managing your money. If you do, you will become wealthy.
6. The whole relationship between giving and wealth is very unusual to say the least. It doesn't make sense that you'd become wealthier by giving (the math doesn't make sense) but in many cases this is what even non-Christian advisors advocate. There is a "power" in giving.
7. Scientific research has now shown that if you give, you will have a better life.
Those are my top-line thoughts. What's your take on the issue? Even if you're not a Christian or are "religious", do you think there's a link between giving and becoming wealthier?
http://www.freemoneyfinance.com/2008/07/robert-kiyosaki.html
Đọc thêm!
Sự Thành Tín Của Chúa Không Bị Thay Đổi Bởi Phản Ứng Của Con Người
Chúng ta có khuynh hướng đưa những điều kiện vào các mối quan hệ của mình :”Nếu bạn xinh đẹp tôi sẽ yêu bạn”. “Nếu bạn có nhiều tiền bạn sẽ dự phần trong nhóm chúng tôi”. “Nếu bạn làm điều nầy cho tôi, tôi sẽ làm điều đó cho bạn”.
Tuy nhiên, sự thành tín của Đức Chúa Trời là vô điều kiện. Đôi khi chúng ta có thể thấy phẩm tính ấy phản ảnh qua những gương mẩu trung tín tin kính giữa vòng dân sự Ngài. Tôi xin cho bạn một ví dụ.
Tiến si Dr. Robertson McQuilkin là vị viện trưởng rất được yêu quý của trường Đại học quốc tế Columbia hết sức danh tiếng. Khi vợ ông bắt đầu có các dấu hiệu của bệnh Alzheimer, tiến sĩ McQuilkin đã xin rút khỏi địa vị rất nổi tiếng của mình để săn sóc cho bà. Việc nghe về những người chung thủy như Tiến sĩ McQuilkin đã khích lệ tâm linh chúng ta rất nhiều bởi vì loại hy sinh đó ngày nay rất hiếm. Chúng ta nhận ra rằng những hành động như vậy không phải là tầm thường đối với bản chất của con người, mà chúng phải đến từ một nguồn trợ giúp cao hơn.
Sự thành tín của Đức Chúa Trời là một phần không thể tách rời khỏi bản thể Ngài đến nổi Ngài không thể thất tín với bất cứ ai - dầu là đối với những Cơ Đốc Nhân biết ơn Ngài hoặc đối với những kẻ nghi ngờ sự thực hữu của Chúa - bất chấp giá phải trả. Sứ đồ Phaolô đã quả quyết với chúng ta :”Nếu chúng ta không thành tín, song Ngài vẫn thành tín, vì Ngài không thể tự chối mình được”.
Đức Chúa Trời cũng thành tín với chúng ta khi chúng ta cảm thấy không còn đức tin trong chính mình. Phaolô viết rằng: “Nếu một vài người trong bọn họ không thành tín, thì sự không thành tín của họ có làm cho sự thành tín của Đức Chúa Trời ra hư không sao ?” Chẳng hề như vậy ! Thà xưng Đức Chúa Trời là thật và loài người là giả dối” . Sự thành tín của Đức Chúa Trời không bị ảnh hưởng bởi bất cứ sự thiếu đức tin của bất cứ ai.
ĐỨC CHÚA TRỜI GIỮ CÁC LỜI HỨA NGÀI
Theo sau sự thành tín của Ngài là Đức Chúa Trời luôn luôn giữ các giao ước hoặc các lời hứa của Ngài – Ngài không hề thất tín. Tác giả Thi Thiên tuyên bố :
“Ngài nhớ đến các sự giao ưóc Ngài luôn luôn, hồi tưởng lời phán dặn Ngài cho đến đời đời”. Phaolô viết rằng : “Vì chưng cũng như các lời hứa của Đức Chúa Trời đều là phải trong Ngài cả, ấy cũng bởi Ngài mà chúng tôi nói “Amen” làm sáng danh Đức Chúa Trời”.
Đó là lý do vì sao chúng ta có thể tin cậy lời Đức Chúa Trời tuyệt đối. Tác giả thư Hêbơrơ nhắc nhỡ chúng ta :”Hãy cầm giữ sự làm chứng về điều trông cậy chúng ta chẳng chuyển lay, vì Đấng đã hứa cùng chúng ta là thành tín”.
Một cách mà tôi nhìn thấy sự thành tín của Chúa qua năm tháng đó là lời Ngài sinh ra bông trái trong đời sống của những người yêu mến Ngài.
Khi phóng viên Clarence W.Hall đi theo các quân đội Hoa Kỳ vượt qua Okinawa vào năm 1945, anh và người lái xe Jeep đến một thị trấn nhỏ nổi bật như là một gương mẩu đẹp đẽ của một cộng đồng Cơ Đốc. Anh ký thuật: “Những người đàn ông lớn tuổi tự hào chỉ cho chúng tôi xem những gia đình không vết tích của họ, những cánh đồng liên kế, và các nhà máy làm đường quý giá của họ”. Người phóng viên không thấy nhà tù cũng không thấy tình trạng say rượu, còn tình trạng ly dị là điều thị trấn không hề biết đến.
Vì sao ngôi làng nầy trở nên hết sức lạ thường như vậy ? Một Giáo sĩ người Mỹ đã đến cách đây 30 năm và dẫn dắt hai người cao niên trong thị trấn đến với Chúa Cứu Thế và để lại cho họ một quyển Kinh Thánh tiếng Nhật. Những tân tín hữu nầy đã học Kinh Thánh và bắt đầu đưa dắt các dân làng đến với Chúa Jêsus.
Tài xế xe Jeep của người phóng viên cũng sững sốt trước sự khác biệt đó :
“Như vậy, đây là điều chỉ đến từ một quyển Kinh Thánh và một cặp vợ chồng già là những người muốn sống như Chúa Jêsus”. Sự thành tín của Chúa đối với lời Ngài đã dẫn đến sự biến đổi của cả ngôi làng.
Tôi đã thấy Đức Chúa Trời thành tín với lời Ngài về phần mười và các của dâng hiến. Khi lời Chúa phán với tôi :” Đức Chúa Trời yêu kẻ dâng hiến cách vui lòng “. Tôi tin điều đó khi tôi đọc :” Đức Chúa Trời có quyền ban cho anh em đủ mọi thứ ơn đầy dẫy, hầu cho anh em hằng đủ điều cần dùng trong mọi sự, lại còn có rời rộng nữa để làm các thứ việc lành”. Tôi tin điều đó và hành động theo điều đó. Tôi không ngừng kiểm tra để biết chắc rằng các phần mười của chúng tôi đã được dâng cập nhật. Tôi thà sống bằng bánh mì và nước mà dâng tiền phần mười còn hơn là chậm trễ. Tôi cũng cảm biết mình cũng phải dâng các của lễ trên phần mười của mình với một thái độ biết ơn thương xót và quan tâm. Các tín hữu dâng phần mười, các của dâng và của bố thí cho người nghèo và những nguời có cần ít khi nào gặp phải các nan đề về tài chánh. Trong suốt những năm tôi hầu việc Chúa, Ngài luôn luôn cung ứng mọi sự tôi cần để làm điều Ngài muốn tôi làm.
Đức Chúa Trời không bao giờ quên một lời hứa mà Ngài đã phán. Ngài hoàn toàn có khả năng để đứng đàng sau lời của Ngài. Đức Chúa Trời sẵn sàng và đủ sức để thực hiện tất cả những điều Ngài đã hứa. Nhưng chúng ta phải xưng nhận những lời hứa rời rộng của Ngài !
Bill Bright
http://www.thienanvn.org/cgi-bin/reader.asp?src=/ta/gaydungniemtin/gdnt.txt&name=Bai&enc=2&nl=1&id=320
Đọc thêm!
Tuy nhiên, sự thành tín của Đức Chúa Trời là vô điều kiện. Đôi khi chúng ta có thể thấy phẩm tính ấy phản ảnh qua những gương mẩu trung tín tin kính giữa vòng dân sự Ngài. Tôi xin cho bạn một ví dụ.
Tiến si Dr. Robertson McQuilkin là vị viện trưởng rất được yêu quý của trường Đại học quốc tế Columbia hết sức danh tiếng. Khi vợ ông bắt đầu có các dấu hiệu của bệnh Alzheimer, tiến sĩ McQuilkin đã xin rút khỏi địa vị rất nổi tiếng của mình để săn sóc cho bà. Việc nghe về những người chung thủy như Tiến sĩ McQuilkin đã khích lệ tâm linh chúng ta rất nhiều bởi vì loại hy sinh đó ngày nay rất hiếm. Chúng ta nhận ra rằng những hành động như vậy không phải là tầm thường đối với bản chất của con người, mà chúng phải đến từ một nguồn trợ giúp cao hơn.
Sự thành tín của Đức Chúa Trời là một phần không thể tách rời khỏi bản thể Ngài đến nổi Ngài không thể thất tín với bất cứ ai - dầu là đối với những Cơ Đốc Nhân biết ơn Ngài hoặc đối với những kẻ nghi ngờ sự thực hữu của Chúa - bất chấp giá phải trả. Sứ đồ Phaolô đã quả quyết với chúng ta :”Nếu chúng ta không thành tín, song Ngài vẫn thành tín, vì Ngài không thể tự chối mình được”.
Đức Chúa Trời cũng thành tín với chúng ta khi chúng ta cảm thấy không còn đức tin trong chính mình. Phaolô viết rằng: “Nếu một vài người trong bọn họ không thành tín, thì sự không thành tín của họ có làm cho sự thành tín của Đức Chúa Trời ra hư không sao ?” Chẳng hề như vậy ! Thà xưng Đức Chúa Trời là thật và loài người là giả dối” . Sự thành tín của Đức Chúa Trời không bị ảnh hưởng bởi bất cứ sự thiếu đức tin của bất cứ ai.
ĐỨC CHÚA TRỜI GIỮ CÁC LỜI HỨA NGÀI
Theo sau sự thành tín của Ngài là Đức Chúa Trời luôn luôn giữ các giao ước hoặc các lời hứa của Ngài – Ngài không hề thất tín. Tác giả Thi Thiên tuyên bố :
“Ngài nhớ đến các sự giao ưóc Ngài luôn luôn, hồi tưởng lời phán dặn Ngài cho đến đời đời”. Phaolô viết rằng : “Vì chưng cũng như các lời hứa của Đức Chúa Trời đều là phải trong Ngài cả, ấy cũng bởi Ngài mà chúng tôi nói “Amen” làm sáng danh Đức Chúa Trời”.
Đó là lý do vì sao chúng ta có thể tin cậy lời Đức Chúa Trời tuyệt đối. Tác giả thư Hêbơrơ nhắc nhỡ chúng ta :”Hãy cầm giữ sự làm chứng về điều trông cậy chúng ta chẳng chuyển lay, vì Đấng đã hứa cùng chúng ta là thành tín”.
Một cách mà tôi nhìn thấy sự thành tín của Chúa qua năm tháng đó là lời Ngài sinh ra bông trái trong đời sống của những người yêu mến Ngài.
Khi phóng viên Clarence W.Hall đi theo các quân đội Hoa Kỳ vượt qua Okinawa vào năm 1945, anh và người lái xe Jeep đến một thị trấn nhỏ nổi bật như là một gương mẩu đẹp đẽ của một cộng đồng Cơ Đốc. Anh ký thuật: “Những người đàn ông lớn tuổi tự hào chỉ cho chúng tôi xem những gia đình không vết tích của họ, những cánh đồng liên kế, và các nhà máy làm đường quý giá của họ”. Người phóng viên không thấy nhà tù cũng không thấy tình trạng say rượu, còn tình trạng ly dị là điều thị trấn không hề biết đến.
Vì sao ngôi làng nầy trở nên hết sức lạ thường như vậy ? Một Giáo sĩ người Mỹ đã đến cách đây 30 năm và dẫn dắt hai người cao niên trong thị trấn đến với Chúa Cứu Thế và để lại cho họ một quyển Kinh Thánh tiếng Nhật. Những tân tín hữu nầy đã học Kinh Thánh và bắt đầu đưa dắt các dân làng đến với Chúa Jêsus.
Tài xế xe Jeep của người phóng viên cũng sững sốt trước sự khác biệt đó :
“Như vậy, đây là điều chỉ đến từ một quyển Kinh Thánh và một cặp vợ chồng già là những người muốn sống như Chúa Jêsus”. Sự thành tín của Chúa đối với lời Ngài đã dẫn đến sự biến đổi của cả ngôi làng.
Tôi đã thấy Đức Chúa Trời thành tín với lời Ngài về phần mười và các của dâng hiến. Khi lời Chúa phán với tôi :” Đức Chúa Trời yêu kẻ dâng hiến cách vui lòng “. Tôi tin điều đó khi tôi đọc :” Đức Chúa Trời có quyền ban cho anh em đủ mọi thứ ơn đầy dẫy, hầu cho anh em hằng đủ điều cần dùng trong mọi sự, lại còn có rời rộng nữa để làm các thứ việc lành”. Tôi tin điều đó và hành động theo điều đó. Tôi không ngừng kiểm tra để biết chắc rằng các phần mười của chúng tôi đã được dâng cập nhật. Tôi thà sống bằng bánh mì và nước mà dâng tiền phần mười còn hơn là chậm trễ. Tôi cũng cảm biết mình cũng phải dâng các của lễ trên phần mười của mình với một thái độ biết ơn thương xót và quan tâm. Các tín hữu dâng phần mười, các của dâng và của bố thí cho người nghèo và những nguời có cần ít khi nào gặp phải các nan đề về tài chánh. Trong suốt những năm tôi hầu việc Chúa, Ngài luôn luôn cung ứng mọi sự tôi cần để làm điều Ngài muốn tôi làm.
Đức Chúa Trời không bao giờ quên một lời hứa mà Ngài đã phán. Ngài hoàn toàn có khả năng để đứng đàng sau lời của Ngài. Đức Chúa Trời sẵn sàng và đủ sức để thực hiện tất cả những điều Ngài đã hứa. Nhưng chúng ta phải xưng nhận những lời hứa rời rộng của Ngài !
Bill Bright
http://www.thienanvn.org/cgi-bin/reader.asp?src=/ta/gaydungniemtin/gdnt.txt&name=Bai&enc=2&nl=1&id=320
Đọc thêm!
Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2009
Đường tới thành công
Một trong những phẩm chất quan trọng nhất của giới lãnh đạo và những người thành công trong mọi lĩnh vực là họ luôn xác định rõ giá trị bản thân, họ biết mình là ai, họ tin vào điều gì và họ cần ở cấp dưới điều gì.
Với tầm nhìn chiến lược, với khả năng xác định rõ những mục tiêu, giá trị và lý tưởng của mình, họ luôn đạt được những thành tựu đáng kể trong bất kỳ công việc gì họ cố gắng. Trái lại, những người không hiểu rõ giá trị bản thân, họ cũng cố gắng xoay xở, bận rộn với công việc của mình nhưng lại thường không đạt được mọi điều như mong đợi.
Cuộc sống là những trải nghiệm của bản thân từ trong ra ngoài. Chính những giá trị cốt lõi bên trong bạn đã xây dựng nên hình ảnh bạn như hiện tại. Mọi hành động và hành vi của bạn thể hiện bên ngoài đều được điều khiển và xác định bởi những giá trị bên trong. Do đó, bạn càng xác định rõ những giá trị bên trong của mình bao nhiêu, thì hành động bên ngoài của bạn sẽ càng chính xác và hiệu quả bấy nhiêu.
Bạn hãy hình dung cá tính của mình được tạo lập bởi 5 vòng tròn đồng tâm, tượng trưng cho 5 cấp độ cá tính khác nhau.
Tâm vòng tròn chính là những giá trị của bạn. Từ tâm giá trị này nó quyết định niềm tin của bạn, cũng là vòng tròn kế tiếp. Nếu bạn mang trong mình những giá trị tích cực, như tình yêu thương, lòng nhân từ và độ lượng, thì hãy tin rằng bản thân mình và những người xung quanh đáng được nhận cũng như cho đi những điều như thế.
Đến lượt mình, niềm tin của bạn sẽ quyết định những kỳ vọng - vòng tròn thứ 3. Khi trong bạn hình thành những giá trị và niềm tin tích cực, bạn sẽ trở thành một người tốt. Lúc ấy, bạn sẽ kỳ vọng những điều tốt đẹp đến với mình cũng như những người xung quanh. Bạn sẽ luôn có thái độ tích cực, vui vẻ và định hướng tốt cho tương lai của mình.
Vòng tròn kế tiếp tượng trưng cho cấp độ cá tính thứ tư chính là thái độ của bạn. Thái độ là sự biểu thị hay phản ánh ra ngoài những giá trị, niềm tin và kỳ vọng của bạn. Khi hình thành những giá trị về một thế giới tốt đẹp, về niềm tin thành công trong cuộc sống và kỳ vọng vào những điều mới mẻ sẽ đến với mình. Bạn sẽ trở nên vui vẻ và lạc quan hơn khi biết người khác cũng dành tình cảm tương tự hướng đến bạn. Điều này cũng giải thích một sự thật rằng bất kỳ ai có thái độ tích cực thì bao giờ cũng gặt hái được thành quả lớn trong đời.
Cuối cùng, vòng tròn thứ năm hay cấp độ cuộc sống, chính là hành động của bạn. Những hành động bạn biểu hiện ra bên ngoài là sự phản ánh những giá trị, niềm tin từ sâu thẳm bên trong con người bạn. Bởi thế cho nên những điều bạn đạt được trong cuộc sống sẽ được quyết định bởi phần lớn những điều đang diễn ra bên trong hơn là do các yếu tố bên ngoài.
Giá trị phải tương hợp với mục tiêu
Một người dù khôn ngoan đến đâu thì cũng khó che giấu được hết tất cả những suy nghĩ của bản thân nếu chúng ta chịu khó xem xét những biểu hiện bên ngoài của họ. Hầu như lúc nào cũng vậy, nếu bên trong tâm hồn của một ai đó mang những giá trị tích cực, lạc quan, có mục tiêu và định hướng tương lai rõ ràng thì chắc chắn ngoài đời họ sẽ được tận hưởng một cuộc sống hạnh phúc, thành công và thịnh vượng.
Nhà triết học Aristotle từng nói rằng mục tiêu tối hậu của con người là mong muốn đạt được hạnh phúc cá nhân cho mình. Bạn sẽ là người hạnh phúc nếu những điều bạn thể hiện ra cuộc sống bên ngoài tương hợp với những giá trị bên trong tâm hồn mình. Thực vậy, khi sống theo đúng với những gì bạn cho là tốt đẹp, đúng đắn thì bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc và sống tích cực hơn.
Trong đó, các mục tiêu và giá trị của bạn phải tương hợp nhau. Khi đã xác định rõ những giá trị bản thân, bạn phải suy nghĩ kỹ càng về những mục tiêu thực sự có ý nghĩa trong đời mình bởi đây chính là bệ phóng để bạn vươn lên những thành tích cao, những thành tựu nổi bật.
Bạn thực sự muốn gì?
Stephen Covey đã nói: “Hãy chắc chắn khi bạn đặt chân lên nấc thang thành công thì nó phải dựa vào bức tường phù hợp”. Trong cuộc sống, có nhiều người đã nỗ lực để đạt được những mục tiêu đề ra nhưng sau đó họ không cảm thấy thích thú hay thỏa mãn với những thành quả của mình. Đơn giản chỉ vì những thành tựu họ đạt được bên ngoài không tương hợp với những giá trị bên trong. Đừng để điều này xảy ra với bạn.
Nhà triết học Hy Lạp - Socrates từng nói rằng: “Cuộc sống sẽ vô nghĩa nếu không được kiểm nghiệm”. Đối với những giá trị của bạn hay bất cứ lĩnh vực nào khác trong đời sống cũng vậy, bạn cần xác định rõ ràng những giá trị đích thực của mình trên cơ sở “hướng về phía trước”. Hãy thường xuyên dừng lại và tự hỏi mình: “Đâu là giá trị của mình trong lĩnh vực này?”.
Trong Kinh Thánh có viết: “Con người sẽ được hưởng lợi gì, khi giành được cả thế giới, nhưng lại đánh mất linh hồn của chính mình?”. Bạn nghĩ gì khi biết rằng những người hạnh phúc nhất trên thế gian chính là những người đang sống tương hợp với những niềm tin và giá trị sâu thẳm trong tâm hồn họ; còn những người bất hạnh nhất là những người đang cố gắng sống ngược lại với những giá trị và niềm tin của mình?
Tin vào trực giác
Niềm tin vào bản thân là nền tảng đưa đến sự vĩ đại. Nó bắt nguồn từ việc lắng nghe trực giác của chính mình, lắng nghe thanh âm tĩnh lặng trong tâm hồn mỗi người. Con người sẽ trở nên vĩ đại khi biết lắng nghe những tiếng nói sâu thẳm từ trong tâm hồn và hoàn toàn tin rằng họ đang được dẫn bắt bởi một sức mạnh phi thường từ bên trong.
Sống tương hợp với những giá trị thực sự của bản thân chính là con đường huy hoàng dẫn đến sự tự tin, tự trọng và tự hào. Thực ra, hầu như tất cả mọi vấn đề của con người đều có thể giải quyết bằng cách quay trở về với những giá trị. Bất cứ khi nào bạn gặp phải vấn đề gì, hãy nhìn lại mình và tự hỏi: “Trong trường hợp này, tôi nên thỏa hiệp với những giá trị bên trong tâm hồn mình như thế nào?”.
Dõi theo hành vi của bạn
Làm sao để bạn có thể biết được đâu thực sự là những giá trị của mình? Câu trả lời rất đơn giản. Vì bạn luôn thể hiện những giá trị đích thực thông qua các hành động, đặc biệt là những hành động khi phải chịu áp lực. Bất cứ lúc nào rơi vào trường hợp buộc phải lựa chọn hành vi này hay hành vi khác, bạn sẽ luôn chọn cách hành xử mà mình cho là quan trọng và có giá trị nhất đối với bản thân vào lúc đó.
Thực ra, giá trị được tổ chức theo mức độ từ mạnh mẽ và quan trọng đến yếu ớt và kém quan trọng. Để xác định rõ những giá trị thực và kỳ vọng của bản thân, bạn cần phải sắp xếp những giá trị của mình theo mức độ ưu tiên. Một khi đã hiểu rõ về tầm quan trọng của các giá trị, thì bạn có thể điều chỉnh cuộc sống của mình sao cho tương hợp với các giá trị ấy.
Gạt bỏ quá khứ, hướng đến tương lai
Có nhiều người vì những quan niệm và nhận thức sai lầm mà họ phải trả giá đắt trong cuộc đời mình. Khi rơi vào hoàn cảnh khó khăn, họ đã kết thân với các đối tượng không phù hợp và đã có hành vi phạm pháp hoặc không được xã hội chấp nhận. Tệ hại hơn, có người còn bị kết án và phải ngồi tù. Nhưng đến một lúc nào đó, họ muốn thay đổi chính cuộc đời mình, bằng cách thay đổi những giá trị niềm tin trong bản thân. Quyết định này giúp họ tự thay đổi cuộc đời, bỏ lại quá khứ để hướng về tương lai.
Còn bạn thì sao? Hãy nhớ rằng: Bạn đến từ đâu không quan trọng; điều quan trọng nhất là bạn sẽ đi đến đâu?
Đánh giá đúng bản thân
Theo các chuyên gia tâm lý học, mức độ đánh giá bản thân của mỗi người sẽ xác định mức độ hạnh phúc của người đó. Mức độ bạn đánh giá bản thân được quyết định bởi hình ảnh chủ quan của bạn. Đây chính là cách bạn nhìn nhận và suy nghĩ về bản thân trong các quan hệ hàng ngày với mọi người. Hình ảnh chủ quan của bạn được định hình từ lý tưởng chủ quan. Mà lý tưởng chủ quan vốn được đúc kết từ đức hạnh, giá trị, mục tiêu, hy vọng, ước mơ và khát vọng của bạn.
Đây là điều mà những nhà tâm lý học khám phá được: hành vi thực tại càng nhất quán với hành vi lý tưởng, thì bạn sẽ càng yêu quý, tôn trọng bản thân và cũng vì thế mà bạn càng cảm thấy hạnh phúc hơn.
Ngược lại, khi hành vi thực tại không nhất quán với hành vi lý tưởng, thì bạn sẽ không nhận thấy hết được giá trị thực của bản thân, đồng thời sẽ cảm thấy năng lực của mình không được phát huy ở mức tối đa, và mức độ hạnh phúc của bạn cũng do đó mà bị suy giảm.
Thể hiện năng lực ở mức cao nhất
Thời điểm bạn thể hiện năng lực ở mức cao nhất chính là lúc hình ảnh chủ quan của bạn được cải thiện, giá trị bản thân được nâng cao, bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc hơn về bản thân và thế giới xung quanh.
Chẳng hạn như mỗi khi bạn được khen ngợi hoặc được tôn vinh vì một thành tích nào đó thì sự tự đánh giá bản thân sẽ tăng lên, đôi khi là rất cao. Bạn sẽ cảm thấy hài lòng về bản thân cũng như những lý tưởng và thành công của mình trong cuộc sống.
Vì vậy, bạn nên xây dựng mục tiêu một cách có hệ thống để nâng cao giá trị bản thân trong mọi việc bạn thực hiện. Bạn nên thể hiện phong thái của một người xuất sắc như bạn hằng mong đợi.
Biết rõ những điều bạn tin tưởng
Ở khía cạnh công việc và sự nghiệp, bạn xác định những giá trị của mình là gì? Bạn có nghĩ mình cũng có những giá trị như sự chính trực, chăm chỉ, đáng tin cậy, sáng tạo, hợp tác, năng động, cầu tiến và hòa hợp với mọi người? Khi thể hiện những giá trị này trong công việc thì bạn sẽ gặt hái nhiều thành công hơn và được tôn trọng nhiều hơn so với việc bạn không thể hiện được gì.
Ở phương diện gia đình, những giá trị của bạn là gì? Bạn có tin vào tầm quan trọng của tình yêu chân chính, sự động viên khuyến khích và củng cố không ngừng, sự kiên nhẫn, tha thứ, rộng lượng, sự thân thiện và ân cần dành cho những người có ảnh hưởng lớn trong cuộc sống của mình? Những giá trị này sẽ giúp bạn sống hạnh phúc hơn rất nhiều.
Trong lĩnh vực tài chính, giá trị của bạn thể hiện ở những điểm nào? Bạn có tin vào tầm quan trọng của sự trung thực, cần cù, tiết kiệm, kiên trì, sự giáo dục, phong độ tuyệt vời? Những giá trị này sẽ tạo điều kiện để bạn phát huy khả năng đưa bạn đến nhanh hơn với những thành công trong vấn đề tài chính.
Còn sức khỏe thì sao? Những giá trị như sự kỷ luật, tự hoàn thiện và tự chủ liên quan đến chế độ ăn uống, luyện tập và nghỉ ngơi được áp dụng một cách triệt để thì chắc rằng bạn sẽ sở hữu một thân hình lý tưởng và sức khỏe tuyệt vời như bạn hằng mong muốn.
Thành thực với chính mình
Giá trị quan trọng nhất của con người có lẽ là sự chính trực. Qua thực tế cuộc sống, nhiều người đã đúc kết: “Sự chính trực không chỉ là một giá trị mà nó còn bảo đảm cho tất cả các giá trị khác”.
Đây quả là một bài học vô cùng hữu ích đối với chúng ta. Vì khi sống nhất quán với một giá trị nào đó, thì sự chính trực sẽ quyết định ta có theo đuổi mục tiêu của mình đến cùng hay không. Mức độ chính trực càng cao thì chúng ta càng cảm thấy mạnh mẽ hơn trong mọi việc.
Những người thực sự vĩ đại luôn được đánh giá là có mức độ chính trực rất cao. Tự bản thân họ luôn thể hiện sự nhất quán giữa hành động với những giá trị cao nhất của mình ngay cả khi không có ai theo dõi. Trái lại, những người tầm thường luôn làm việc qua loa và luôn thỏa hiệp với sự chính trực của mình, đặc biệt là khi không có ai quan sát.
Sống thực với bản thân và người khác
Hãy xác định cho mình ngay hôm nay để trở thành một người được kính trọng, một người sống chân thực với bản thân và mọi người xung quanh. Đồng thời, bạn cũng nên thể hiện rõ những giá trị của mình trong từng khía cạnh cuộc sống. Sau đó, hãy viết ra giấy những cách hành xử sao cho nhất quán với những giá trị ấy, và sẵn sàng từ chối thỏa hiệp vì bất cứ lý do gì.
Khi bạn đã hoàn toàn nhận trách nhiệm đối với cuộc sống, xác định những giá trị và định hướng cho mình một tương lai hoàn hảo, thì bạn hãy bắt đầu thiết lập những mục tiêu rõ ràng, cụ thể cho mình. Bạn hãy sẵn sàng để vươn đến những điều tốt đẹp trong đời.
Xác định giá trị bản thân
1. Hãy viết ra một danh sách từ 3 đến 5 giá trị mà bạn cho là quan trọng nhất trong cuộc sống. Bạn sẽ thực sự tin tưởng và hướng đến điều gì?
2. Mọi người sẽ thấy ở bạn những phẩm chất và giá trị nào?
3. Những giá trị nào được bạn cho là quan trọng nhất để thắt chặt mối quan hệ với những người xung quanh?
4. Những giá trị của bạn trong lĩnh vực tài chính là gì? Hàng ngày bạn có bộc lộ những giá trị ấy không?
5. Hãy mô tả bức chân dung về một người mà bạn cho là lý tưởng, và bạn muốn trở thành người đó nếu không gặp phải bất cứ giới hạn nào.
6. Hãy thử viết một danh sách những điều mà bạn muốn bạn bè, gia đình và những người xung quanh sẽ nói về mình khi bạn vắng mặt.
7. Bạn muốn thay đổi điều gì trong hành vi của mình để sống nhất quán hơn với những giá trị bản thân?
Trích cuốn sách "Chinh phục mục tiêu" do First News phát hành)
KINH DOANH> DOANH NHÂNThứ bảy, 24/10/2009, 09:03 GMT+7
Đọc thêm!
Với tầm nhìn chiến lược, với khả năng xác định rõ những mục tiêu, giá trị và lý tưởng của mình, họ luôn đạt được những thành tựu đáng kể trong bất kỳ công việc gì họ cố gắng. Trái lại, những người không hiểu rõ giá trị bản thân, họ cũng cố gắng xoay xở, bận rộn với công việc của mình nhưng lại thường không đạt được mọi điều như mong đợi.
Cuộc sống là những trải nghiệm của bản thân từ trong ra ngoài. Chính những giá trị cốt lõi bên trong bạn đã xây dựng nên hình ảnh bạn như hiện tại. Mọi hành động và hành vi của bạn thể hiện bên ngoài đều được điều khiển và xác định bởi những giá trị bên trong. Do đó, bạn càng xác định rõ những giá trị bên trong của mình bao nhiêu, thì hành động bên ngoài của bạn sẽ càng chính xác và hiệu quả bấy nhiêu.
Bạn hãy hình dung cá tính của mình được tạo lập bởi 5 vòng tròn đồng tâm, tượng trưng cho 5 cấp độ cá tính khác nhau.
Tâm vòng tròn chính là những giá trị của bạn. Từ tâm giá trị này nó quyết định niềm tin của bạn, cũng là vòng tròn kế tiếp. Nếu bạn mang trong mình những giá trị tích cực, như tình yêu thương, lòng nhân từ và độ lượng, thì hãy tin rằng bản thân mình và những người xung quanh đáng được nhận cũng như cho đi những điều như thế.
Đến lượt mình, niềm tin của bạn sẽ quyết định những kỳ vọng - vòng tròn thứ 3. Khi trong bạn hình thành những giá trị và niềm tin tích cực, bạn sẽ trở thành một người tốt. Lúc ấy, bạn sẽ kỳ vọng những điều tốt đẹp đến với mình cũng như những người xung quanh. Bạn sẽ luôn có thái độ tích cực, vui vẻ và định hướng tốt cho tương lai của mình.
Vòng tròn kế tiếp tượng trưng cho cấp độ cá tính thứ tư chính là thái độ của bạn. Thái độ là sự biểu thị hay phản ánh ra ngoài những giá trị, niềm tin và kỳ vọng của bạn. Khi hình thành những giá trị về một thế giới tốt đẹp, về niềm tin thành công trong cuộc sống và kỳ vọng vào những điều mới mẻ sẽ đến với mình. Bạn sẽ trở nên vui vẻ và lạc quan hơn khi biết người khác cũng dành tình cảm tương tự hướng đến bạn. Điều này cũng giải thích một sự thật rằng bất kỳ ai có thái độ tích cực thì bao giờ cũng gặt hái được thành quả lớn trong đời.
Cuối cùng, vòng tròn thứ năm hay cấp độ cuộc sống, chính là hành động của bạn. Những hành động bạn biểu hiện ra bên ngoài là sự phản ánh những giá trị, niềm tin từ sâu thẳm bên trong con người bạn. Bởi thế cho nên những điều bạn đạt được trong cuộc sống sẽ được quyết định bởi phần lớn những điều đang diễn ra bên trong hơn là do các yếu tố bên ngoài.
Giá trị phải tương hợp với mục tiêu
Một người dù khôn ngoan đến đâu thì cũng khó che giấu được hết tất cả những suy nghĩ của bản thân nếu chúng ta chịu khó xem xét những biểu hiện bên ngoài của họ. Hầu như lúc nào cũng vậy, nếu bên trong tâm hồn của một ai đó mang những giá trị tích cực, lạc quan, có mục tiêu và định hướng tương lai rõ ràng thì chắc chắn ngoài đời họ sẽ được tận hưởng một cuộc sống hạnh phúc, thành công và thịnh vượng.
Nhà triết học Aristotle từng nói rằng mục tiêu tối hậu của con người là mong muốn đạt được hạnh phúc cá nhân cho mình. Bạn sẽ là người hạnh phúc nếu những điều bạn thể hiện ra cuộc sống bên ngoài tương hợp với những giá trị bên trong tâm hồn mình. Thực vậy, khi sống theo đúng với những gì bạn cho là tốt đẹp, đúng đắn thì bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc và sống tích cực hơn.
Trong đó, các mục tiêu và giá trị của bạn phải tương hợp nhau. Khi đã xác định rõ những giá trị bản thân, bạn phải suy nghĩ kỹ càng về những mục tiêu thực sự có ý nghĩa trong đời mình bởi đây chính là bệ phóng để bạn vươn lên những thành tích cao, những thành tựu nổi bật.
Bạn thực sự muốn gì?
Stephen Covey đã nói: “Hãy chắc chắn khi bạn đặt chân lên nấc thang thành công thì nó phải dựa vào bức tường phù hợp”. Trong cuộc sống, có nhiều người đã nỗ lực để đạt được những mục tiêu đề ra nhưng sau đó họ không cảm thấy thích thú hay thỏa mãn với những thành quả của mình. Đơn giản chỉ vì những thành tựu họ đạt được bên ngoài không tương hợp với những giá trị bên trong. Đừng để điều này xảy ra với bạn.
Nhà triết học Hy Lạp - Socrates từng nói rằng: “Cuộc sống sẽ vô nghĩa nếu không được kiểm nghiệm”. Đối với những giá trị của bạn hay bất cứ lĩnh vực nào khác trong đời sống cũng vậy, bạn cần xác định rõ ràng những giá trị đích thực của mình trên cơ sở “hướng về phía trước”. Hãy thường xuyên dừng lại và tự hỏi mình: “Đâu là giá trị của mình trong lĩnh vực này?”.
Trong Kinh Thánh có viết: “Con người sẽ được hưởng lợi gì, khi giành được cả thế giới, nhưng lại đánh mất linh hồn của chính mình?”. Bạn nghĩ gì khi biết rằng những người hạnh phúc nhất trên thế gian chính là những người đang sống tương hợp với những niềm tin và giá trị sâu thẳm trong tâm hồn họ; còn những người bất hạnh nhất là những người đang cố gắng sống ngược lại với những giá trị và niềm tin của mình?
Tin vào trực giác
Niềm tin vào bản thân là nền tảng đưa đến sự vĩ đại. Nó bắt nguồn từ việc lắng nghe trực giác của chính mình, lắng nghe thanh âm tĩnh lặng trong tâm hồn mỗi người. Con người sẽ trở nên vĩ đại khi biết lắng nghe những tiếng nói sâu thẳm từ trong tâm hồn và hoàn toàn tin rằng họ đang được dẫn bắt bởi một sức mạnh phi thường từ bên trong.
Sống tương hợp với những giá trị thực sự của bản thân chính là con đường huy hoàng dẫn đến sự tự tin, tự trọng và tự hào. Thực ra, hầu như tất cả mọi vấn đề của con người đều có thể giải quyết bằng cách quay trở về với những giá trị. Bất cứ khi nào bạn gặp phải vấn đề gì, hãy nhìn lại mình và tự hỏi: “Trong trường hợp này, tôi nên thỏa hiệp với những giá trị bên trong tâm hồn mình như thế nào?”.
Dõi theo hành vi của bạn
Làm sao để bạn có thể biết được đâu thực sự là những giá trị của mình? Câu trả lời rất đơn giản. Vì bạn luôn thể hiện những giá trị đích thực thông qua các hành động, đặc biệt là những hành động khi phải chịu áp lực. Bất cứ lúc nào rơi vào trường hợp buộc phải lựa chọn hành vi này hay hành vi khác, bạn sẽ luôn chọn cách hành xử mà mình cho là quan trọng và có giá trị nhất đối với bản thân vào lúc đó.
Thực ra, giá trị được tổ chức theo mức độ từ mạnh mẽ và quan trọng đến yếu ớt và kém quan trọng. Để xác định rõ những giá trị thực và kỳ vọng của bản thân, bạn cần phải sắp xếp những giá trị của mình theo mức độ ưu tiên. Một khi đã hiểu rõ về tầm quan trọng của các giá trị, thì bạn có thể điều chỉnh cuộc sống của mình sao cho tương hợp với các giá trị ấy.
Gạt bỏ quá khứ, hướng đến tương lai
Có nhiều người vì những quan niệm và nhận thức sai lầm mà họ phải trả giá đắt trong cuộc đời mình. Khi rơi vào hoàn cảnh khó khăn, họ đã kết thân với các đối tượng không phù hợp và đã có hành vi phạm pháp hoặc không được xã hội chấp nhận. Tệ hại hơn, có người còn bị kết án và phải ngồi tù. Nhưng đến một lúc nào đó, họ muốn thay đổi chính cuộc đời mình, bằng cách thay đổi những giá trị niềm tin trong bản thân. Quyết định này giúp họ tự thay đổi cuộc đời, bỏ lại quá khứ để hướng về tương lai.
Còn bạn thì sao? Hãy nhớ rằng: Bạn đến từ đâu không quan trọng; điều quan trọng nhất là bạn sẽ đi đến đâu?
Đánh giá đúng bản thân
Theo các chuyên gia tâm lý học, mức độ đánh giá bản thân của mỗi người sẽ xác định mức độ hạnh phúc của người đó. Mức độ bạn đánh giá bản thân được quyết định bởi hình ảnh chủ quan của bạn. Đây chính là cách bạn nhìn nhận và suy nghĩ về bản thân trong các quan hệ hàng ngày với mọi người. Hình ảnh chủ quan của bạn được định hình từ lý tưởng chủ quan. Mà lý tưởng chủ quan vốn được đúc kết từ đức hạnh, giá trị, mục tiêu, hy vọng, ước mơ và khát vọng của bạn.
Đây là điều mà những nhà tâm lý học khám phá được: hành vi thực tại càng nhất quán với hành vi lý tưởng, thì bạn sẽ càng yêu quý, tôn trọng bản thân và cũng vì thế mà bạn càng cảm thấy hạnh phúc hơn.
Ngược lại, khi hành vi thực tại không nhất quán với hành vi lý tưởng, thì bạn sẽ không nhận thấy hết được giá trị thực của bản thân, đồng thời sẽ cảm thấy năng lực của mình không được phát huy ở mức tối đa, và mức độ hạnh phúc của bạn cũng do đó mà bị suy giảm.
Thể hiện năng lực ở mức cao nhất
Thời điểm bạn thể hiện năng lực ở mức cao nhất chính là lúc hình ảnh chủ quan của bạn được cải thiện, giá trị bản thân được nâng cao, bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc hơn về bản thân và thế giới xung quanh.
Chẳng hạn như mỗi khi bạn được khen ngợi hoặc được tôn vinh vì một thành tích nào đó thì sự tự đánh giá bản thân sẽ tăng lên, đôi khi là rất cao. Bạn sẽ cảm thấy hài lòng về bản thân cũng như những lý tưởng và thành công của mình trong cuộc sống.
Vì vậy, bạn nên xây dựng mục tiêu một cách có hệ thống để nâng cao giá trị bản thân trong mọi việc bạn thực hiện. Bạn nên thể hiện phong thái của một người xuất sắc như bạn hằng mong đợi.
Biết rõ những điều bạn tin tưởng
Ở khía cạnh công việc và sự nghiệp, bạn xác định những giá trị của mình là gì? Bạn có nghĩ mình cũng có những giá trị như sự chính trực, chăm chỉ, đáng tin cậy, sáng tạo, hợp tác, năng động, cầu tiến và hòa hợp với mọi người? Khi thể hiện những giá trị này trong công việc thì bạn sẽ gặt hái nhiều thành công hơn và được tôn trọng nhiều hơn so với việc bạn không thể hiện được gì.
Ở phương diện gia đình, những giá trị của bạn là gì? Bạn có tin vào tầm quan trọng của tình yêu chân chính, sự động viên khuyến khích và củng cố không ngừng, sự kiên nhẫn, tha thứ, rộng lượng, sự thân thiện và ân cần dành cho những người có ảnh hưởng lớn trong cuộc sống của mình? Những giá trị này sẽ giúp bạn sống hạnh phúc hơn rất nhiều.
Trong lĩnh vực tài chính, giá trị của bạn thể hiện ở những điểm nào? Bạn có tin vào tầm quan trọng của sự trung thực, cần cù, tiết kiệm, kiên trì, sự giáo dục, phong độ tuyệt vời? Những giá trị này sẽ tạo điều kiện để bạn phát huy khả năng đưa bạn đến nhanh hơn với những thành công trong vấn đề tài chính.
Còn sức khỏe thì sao? Những giá trị như sự kỷ luật, tự hoàn thiện và tự chủ liên quan đến chế độ ăn uống, luyện tập và nghỉ ngơi được áp dụng một cách triệt để thì chắc rằng bạn sẽ sở hữu một thân hình lý tưởng và sức khỏe tuyệt vời như bạn hằng mong muốn.
Thành thực với chính mình
Giá trị quan trọng nhất của con người có lẽ là sự chính trực. Qua thực tế cuộc sống, nhiều người đã đúc kết: “Sự chính trực không chỉ là một giá trị mà nó còn bảo đảm cho tất cả các giá trị khác”.
Đây quả là một bài học vô cùng hữu ích đối với chúng ta. Vì khi sống nhất quán với một giá trị nào đó, thì sự chính trực sẽ quyết định ta có theo đuổi mục tiêu của mình đến cùng hay không. Mức độ chính trực càng cao thì chúng ta càng cảm thấy mạnh mẽ hơn trong mọi việc.
Những người thực sự vĩ đại luôn được đánh giá là có mức độ chính trực rất cao. Tự bản thân họ luôn thể hiện sự nhất quán giữa hành động với những giá trị cao nhất của mình ngay cả khi không có ai theo dõi. Trái lại, những người tầm thường luôn làm việc qua loa và luôn thỏa hiệp với sự chính trực của mình, đặc biệt là khi không có ai quan sát.
Sống thực với bản thân và người khác
Hãy xác định cho mình ngay hôm nay để trở thành một người được kính trọng, một người sống chân thực với bản thân và mọi người xung quanh. Đồng thời, bạn cũng nên thể hiện rõ những giá trị của mình trong từng khía cạnh cuộc sống. Sau đó, hãy viết ra giấy những cách hành xử sao cho nhất quán với những giá trị ấy, và sẵn sàng từ chối thỏa hiệp vì bất cứ lý do gì.
Khi bạn đã hoàn toàn nhận trách nhiệm đối với cuộc sống, xác định những giá trị và định hướng cho mình một tương lai hoàn hảo, thì bạn hãy bắt đầu thiết lập những mục tiêu rõ ràng, cụ thể cho mình. Bạn hãy sẵn sàng để vươn đến những điều tốt đẹp trong đời.
Xác định giá trị bản thân
1. Hãy viết ra một danh sách từ 3 đến 5 giá trị mà bạn cho là quan trọng nhất trong cuộc sống. Bạn sẽ thực sự tin tưởng và hướng đến điều gì?
2. Mọi người sẽ thấy ở bạn những phẩm chất và giá trị nào?
3. Những giá trị nào được bạn cho là quan trọng nhất để thắt chặt mối quan hệ với những người xung quanh?
4. Những giá trị của bạn trong lĩnh vực tài chính là gì? Hàng ngày bạn có bộc lộ những giá trị ấy không?
5. Hãy mô tả bức chân dung về một người mà bạn cho là lý tưởng, và bạn muốn trở thành người đó nếu không gặp phải bất cứ giới hạn nào.
6. Hãy thử viết một danh sách những điều mà bạn muốn bạn bè, gia đình và những người xung quanh sẽ nói về mình khi bạn vắng mặt.
7. Bạn muốn thay đổi điều gì trong hành vi của mình để sống nhất quán hơn với những giá trị bản thân?
Trích cuốn sách "Chinh phục mục tiêu" do First News phát hành)
KINH DOANH> DOANH NHÂNThứ bảy, 24/10/2009, 09:03 GMT+7
Đọc thêm!
Giã biệt kinh tế vĩ mô
Thời đại công nghiệp của những thứ hàng loạt đã qua. Tính cá nhân và riêng biệt ngày càng được đề cao. Các họat động kinh tế vĩ mô của chính phủ cũng sẽ đi theo con đường đó.
Thế giới đang trải qua một cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, cuộc khủng hoảng lần thứ hai chỉ trong một thập kỷ và thứ ba với Châu Á và Châu Mỹ Latin.
Có một nghịch lý là các nền kinh tế dựa vào thông tin có vẻ lại bất ổn hơn. Một phần nguyên nhân xuất phát từ việc giá sản phẩm, dịch vụ thông tin cốt lõi giảm. Mặt khác tốc độ truyền dẫn thông tin nhanh hơn rất nhiều khả năng phản ứng của các tổ chức kiểu truyền thống.
Cho dù công nghệ thông tin làm nền kinh tế thêm bất ổn, liệu nó có trở nên khả dụng hơn?
Thị trường chẳng mấy xa lạ với các chu kỳ kinh doanh. Ngay ở trong Kinh thánh cũng đề cập đến chuyện ở Ai Cập cứ 7 năm no đủ lại có 7 năm đói kém.
Mỗi hệ thống kinh tế lại có các công cụ chính sách riêng để đối phó với các chu kỳ kinh doanh.
Thời phong kiến, người ta kiểm soát thành phần tiền xu đồng thời đưa ra những hạn chế nghiêm ngặt về đất đai và lao động.
Chính sách này trở nên lỗi thời khi thế giới bước sang thời đại công nghiệp. Những công cụ mới lại ra đời như kích thích tổng cầu bằng thuế và chi tiêu chính phủ, kiểm soát cung tiền và điều hành lãi suất.
Vì thế khi khủng hoảng kinh tế nổ ra, chính phủ vận dụng phương cách truyền thống của thời đại công nghiệp là đưa ra các gói kích thích lớn hay giảm lãi suất.
Nhưng phương thuốc này chưa chắc đã hữu hiệu. Cầu không phải là vấn đề chính trong nền kinh tế tri thức.
Độ trễ của các chính sách vĩ mô không còn tương xứng với một nền kinh tế tri thức siêu tốc. Đợi đến khi gói kích thích được giải ngân, thế giới có lẽ đã thoát khỏi suy thoái và thứ duy nhất khi ấy được kích thích chỉ là lạm phát.
Ngược lại, vấn đề mới nảy sinh là số lượng các hoạt động kinh tế trên môi trường máy tính quá lớn khiến chuyện phản ứng hay thậm chí chỉ là hiểu được chúng thôi cũng là điều không thể.
Dù vậy, những người ủng hộ các công cụ truyền thống thường cảm thấy khó chịu khi các nhân tố kinh tế mới làm xói mòn các công cụ của họ.
Khi tiền điện tử ra đời, các hội thảo khoa học chỉ gồm giáo sư kinh tế vĩ mô và giới chức ngân hàng trung ương phàn nàn về chuyện không kiểm soát nổi cung tiền mới. Tính hiệu quả của nền kinh tế phải xếp sau tính hiệu quả của chính sách tiền tệ.
Thay vì cấm đoán, tại sao không để giới công nghệ không sáng tạo ra những công cụ mới cho chính quyền?
Khía cạnh quan trọng nhất là khả năng phân biệt và tùy biến. Mỗi “gói” trên Internet đều được xác định qua người gửi và người nhận. Nếu nhận diện được tức là cũng có thể phân biệt chúng với nhau.
Điều này rất có ý nghĩa. Bản chất của kinh tế vĩ mô truyền thống là rất chung chung. Lý do thứ nhất là cho phép các nhà lý thuyết viết phương trình dễ hơn. Thứ hai là khi áp dụng chính sách, khó mà tách bạch được các đơn vị kinh tế.
Nhưng nay công cụ có thể làm được điều đó đã xuất hiện. Với khung pháp lý thích hợp, ngân hàng trung ương có thể thu lãi suất qua đêm hoặc điều chỉnh mức dự trữ bắt buộc khác nhau cho từng ngân hàng.
Thuế có thể thu tùy theo từng sản phẩm, từng vùng, thậm chí là từng người sử dụng. Tín dụng thuế có thể được điều chỉnh để chỉ chi cho các mục đích nhất định. Gói kích thích cũng có thể đi thẳng vào nền kinh tế qua tiêu dùng và đầu tư.
Ví dụ như trước đây, đường cao tốc thu phí của lái xe mà không cần biết họ sẽ đi bao xa.
Nhưng giờ, với hệ thống chi trả tự động, mức phí có thể thu tùy vào từng thời điểm trong ngày, tùy vào việc sử dụng có thường xuyên hay không, tùy vào đặc điểm của chủ xe cũng như của chính chiếc xe hay tùy vào khoảng cách di chuyển trên con đường đó.
Tóm lại, thế giới hiện có các công cụ tốt hơn để kích thích cũng như hạn chế giao thông mà chi phí lại rẻ hơn.
Đương nhiên, cần giải quyết một số vướng mắc. Thứ nhất là quyền riêng tư. Phải tìm hiểu rất nhiều mới hiểu được nhu cầu của một người. Nhưng vấn đề này có thể được giải quyết thông qua một hệ thống biệt danh và trung gian đáng tin cậy.
Vấn đề thứ hai là thương mại quốc tế. Chính quyền có nên phân biệt đối xử vì lợi ích của nhân dân mình? Nguyên tắc của WTO không chấp nhận điều đó.
Thời đại công nghiệp là thời đại “hàng loạt”. Sản xuất hàng loạt. Tiêu dùng hàng loạt. Thông tin hàng loạt. Quảng cáo hàng loạt.
Nhưng thời kỳ đó đã qua, hiện giờ tính cá nhân và riêng biệt ngày càng được đề cao. Các họat động kinh tế vĩ mô của chính phủ cũng sẽ đi theo con đường đó.
Nhà kinh tế, nhà kỹ thuật cũng như các nhà hoạch định chính sách nên bắt tay vào phát triển các công cụ này.
Read more: http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=146644#ixzz0WBbuwXJR
Đọc thêm!
Thế giới đang trải qua một cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, cuộc khủng hoảng lần thứ hai chỉ trong một thập kỷ và thứ ba với Châu Á và Châu Mỹ Latin.
Có một nghịch lý là các nền kinh tế dựa vào thông tin có vẻ lại bất ổn hơn. Một phần nguyên nhân xuất phát từ việc giá sản phẩm, dịch vụ thông tin cốt lõi giảm. Mặt khác tốc độ truyền dẫn thông tin nhanh hơn rất nhiều khả năng phản ứng của các tổ chức kiểu truyền thống.
Cho dù công nghệ thông tin làm nền kinh tế thêm bất ổn, liệu nó có trở nên khả dụng hơn?
Thị trường chẳng mấy xa lạ với các chu kỳ kinh doanh. Ngay ở trong Kinh thánh cũng đề cập đến chuyện ở Ai Cập cứ 7 năm no đủ lại có 7 năm đói kém.
Mỗi hệ thống kinh tế lại có các công cụ chính sách riêng để đối phó với các chu kỳ kinh doanh.
Thời phong kiến, người ta kiểm soát thành phần tiền xu đồng thời đưa ra những hạn chế nghiêm ngặt về đất đai và lao động.
Chính sách này trở nên lỗi thời khi thế giới bước sang thời đại công nghiệp. Những công cụ mới lại ra đời như kích thích tổng cầu bằng thuế và chi tiêu chính phủ, kiểm soát cung tiền và điều hành lãi suất.
Vì thế khi khủng hoảng kinh tế nổ ra, chính phủ vận dụng phương cách truyền thống của thời đại công nghiệp là đưa ra các gói kích thích lớn hay giảm lãi suất.
Nhưng phương thuốc này chưa chắc đã hữu hiệu. Cầu không phải là vấn đề chính trong nền kinh tế tri thức.
Độ trễ của các chính sách vĩ mô không còn tương xứng với một nền kinh tế tri thức siêu tốc. Đợi đến khi gói kích thích được giải ngân, thế giới có lẽ đã thoát khỏi suy thoái và thứ duy nhất khi ấy được kích thích chỉ là lạm phát.
Ngược lại, vấn đề mới nảy sinh là số lượng các hoạt động kinh tế trên môi trường máy tính quá lớn khiến chuyện phản ứng hay thậm chí chỉ là hiểu được chúng thôi cũng là điều không thể.
Dù vậy, những người ủng hộ các công cụ truyền thống thường cảm thấy khó chịu khi các nhân tố kinh tế mới làm xói mòn các công cụ của họ.
Khi tiền điện tử ra đời, các hội thảo khoa học chỉ gồm giáo sư kinh tế vĩ mô và giới chức ngân hàng trung ương phàn nàn về chuyện không kiểm soát nổi cung tiền mới. Tính hiệu quả của nền kinh tế phải xếp sau tính hiệu quả của chính sách tiền tệ.
Thay vì cấm đoán, tại sao không để giới công nghệ không sáng tạo ra những công cụ mới cho chính quyền?
Khía cạnh quan trọng nhất là khả năng phân biệt và tùy biến. Mỗi “gói” trên Internet đều được xác định qua người gửi và người nhận. Nếu nhận diện được tức là cũng có thể phân biệt chúng với nhau.
Điều này rất có ý nghĩa. Bản chất của kinh tế vĩ mô truyền thống là rất chung chung. Lý do thứ nhất là cho phép các nhà lý thuyết viết phương trình dễ hơn. Thứ hai là khi áp dụng chính sách, khó mà tách bạch được các đơn vị kinh tế.
Nhưng nay công cụ có thể làm được điều đó đã xuất hiện. Với khung pháp lý thích hợp, ngân hàng trung ương có thể thu lãi suất qua đêm hoặc điều chỉnh mức dự trữ bắt buộc khác nhau cho từng ngân hàng.
Thuế có thể thu tùy theo từng sản phẩm, từng vùng, thậm chí là từng người sử dụng. Tín dụng thuế có thể được điều chỉnh để chỉ chi cho các mục đích nhất định. Gói kích thích cũng có thể đi thẳng vào nền kinh tế qua tiêu dùng và đầu tư.
Ví dụ như trước đây, đường cao tốc thu phí của lái xe mà không cần biết họ sẽ đi bao xa.
Nhưng giờ, với hệ thống chi trả tự động, mức phí có thể thu tùy vào từng thời điểm trong ngày, tùy vào việc sử dụng có thường xuyên hay không, tùy vào đặc điểm của chủ xe cũng như của chính chiếc xe hay tùy vào khoảng cách di chuyển trên con đường đó.
Tóm lại, thế giới hiện có các công cụ tốt hơn để kích thích cũng như hạn chế giao thông mà chi phí lại rẻ hơn.
Đương nhiên, cần giải quyết một số vướng mắc. Thứ nhất là quyền riêng tư. Phải tìm hiểu rất nhiều mới hiểu được nhu cầu của một người. Nhưng vấn đề này có thể được giải quyết thông qua một hệ thống biệt danh và trung gian đáng tin cậy.
Vấn đề thứ hai là thương mại quốc tế. Chính quyền có nên phân biệt đối xử vì lợi ích của nhân dân mình? Nguyên tắc của WTO không chấp nhận điều đó.
Thời đại công nghiệp là thời đại “hàng loạt”. Sản xuất hàng loạt. Tiêu dùng hàng loạt. Thông tin hàng loạt. Quảng cáo hàng loạt.
Nhưng thời kỳ đó đã qua, hiện giờ tính cá nhân và riêng biệt ngày càng được đề cao. Các họat động kinh tế vĩ mô của chính phủ cũng sẽ đi theo con đường đó.
Nhà kinh tế, nhà kỹ thuật cũng như các nhà hoạch định chính sách nên bắt tay vào phát triển các công cụ này.
Read more: http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=146644#ixzz0WBbuwXJR
Đọc thêm!
Thứ Ba, 3 tháng 11, 2009
Abraham Lincoln and the Bible
When Abraham Lincoln visited his friend Joshua Speed in Kentucky in the summer of 1841, Speed�s mother gave him an Oxford Bible. When Mr. Lincoln returned to the judicial circuit that fall, he wrote Speed�s sister back in Kentucky: �Tell your mother that I have not got her �present� with me; but that I intend to read it regularly when I return home. I doubt not that it is really, as she says, the best cure for the �Blues� could one but take it according to the truth.�1 Because Mr. Lincoln had suffered severe blues in January after breaking his engagement with Mary Todd Lincoln, an antidote was needed.
Mr. Lincoln may have had trouble taking the Bible as literal truth, but he had no trouble reading it. As President Lincoln said: �In regard to this Great book, I have but to say, it is the best gift God has given to man. All the good the Savior gave to the world was communicated through this book. But for it we could not know right from wrong. All things most desirable for man�s welfare, here and hereafter, are to be found portrayed in it.�2 But Mr. Lincoln was too honest a man to portray himself as conventionally pious. �A well-known picture of Tad and his father...represents the boy standing by his father�s side, looking over the pages of a large book.,� wrote journalist Noah Brooks. �Lincoln explained to me that he was afraid that this picture was a species of false pretense. Most people, he thought, would suppose the book a large clasped Bible, whereas it was a big photograph album which the photographer, posing the father and son, had hit upon as a good device to use in this way to ring the two sitters together. Lincoln�s anxiety lest somebody should think he was �making believe to read the Bible to Tad,� was illustrative of his scrupulous honesty.�3
But Mr. Lincoln�s deep knowledge of the scriptures could not have come without regularly reading them. As Lincoln scholar Paul Angle noted: �There was one book...which left its mark on much of what he wrote. That was the Bible. Upon a familiarity which extended back to his youth he could always depend.�4 Historian Michael Nelson wrote: �For all his mockery, Lincoln was consumed by religion as a subject, as well as by the Bible, a book that all of his biographers agree he had read and studied assiduously since his youth. Although disdainful of Christianity in its cruder, frontier forms, Lincoln seems to have been open to, even seeking, an account of the faith that rang true on grounds of reason and justice.�5 Religious scholar Earl Schwartz wrote: �Lincoln�s legacy, farm more than any other president, has, over time, become inextricably bound up with the words and themes of the Bible. He has been endowed repeatedly with biblical features � sometimes cast as Moses, on other occasions as Father Abraham, and yet again as a fiery prophet or martyred savior. An aura of prophetic authority has accrued to his own words, heightened by his skillful use of literary devices that are also characteristic of biblical texts.�6
For Mr. Lincoln, the Bible brought him a lifetime of education. Scholar Elton Trueblood wrote of Mr. Lincoln: �While it is generally recognized that young Lincoln heard many passages from the Bible both in his cabin home and in the Baptist meeting house, it is not equally known that he also encountered it in his fragmentary schooling. In this, as in so many aspects of his development, our most reliable evidence is that provided by the man himself. One day in the White House, as the President was speaking to Senator John B. Henderson, he was suddenly reminded of his early education. "Henderson," he asked, "did you ever attend an old blab school? Yes? Well, so did I, and what little schooling I got in early life was in that way. I attended such a school in a log schoolhouse in Indiana where we had no reading books or grammars, and all our reading was done from the Bible. We stood in a long line and read in turn from it." Thus, Lincoln read the Bible and heard it read before his father could afford to own a copy. According to his kinsman, Dennis Hanks, a family Bible was not purchased until 1819, when Abraham was ten years old.�7
Julia Taft Bayne, a teenager who spent much of 1861 at the White House supervising her brother and their playmates, the two youngest Lincoln boys, recalled: �It is well known, of course, that Mr. Lincoln was a great reader of the Bible, but I have a notion, without knowing exactly why I have it, that at the beginning of the war, he read the Bible quite as much for its literary style as he did for its religious or spiritual content. Perhaps I have this notion from his attitude when reading it. He read it in the relaxed, almost lazy attitude of a man enjoying a good book....Only once do I recall his saying anything about the Bible or religion and that was in reply to Tad�s plea as to why he had to go to Sunday-school . �Every educated person should know something about the Bible and the Bible stories, Tad,� answered his father.�8
Mr. Lincoln�s knowledge of the Bible was impressive. After he heard that only 400 persons attended the Ohio convention nominating John C. Fr�mont for President in May 1864, Mr. �Lincoln took his Bible up from his desk and after a little search came upon the passage which told of David and the company which gathered about him at the cave of Adullam when he was pursued and persecuted by King Saul: �And everyone that was in distress, and everyone that was in debt, and everyone that was discontented, gathered themselves unto him; and he became a captain over them; and there were with him about four hundred men.� (I Samuel 22:2.). Thus the president used his knowledge of the Bible to describe and ridicule the critics, complainers, and malcontents who had gathered about Fremont,� wrote Clarence Edward Macartney in Lincoln and the Bible.9
In his reply to Illinois Senator Stephen Douglas�s criticisms at the beginning of their 1858 campaign, Mr. Lincoln said: �My friend has said to me that I am a poor hand to quote Scripture. I will try it again, however. It is said in one of the admonitions of the Lord, �As your Father in Heaven is perfect, be ye also perfect.� The Savior, I suppose, did not expect that any human creature could be perfect as the Father in Heaven; but He said, �As your Father in Heaven is perfect, be ye also perfect.� He set that up as a standard, and he who did most towards reaching that standard, attained the highest degree of moral perfection. So I say in relation to the principle that all men are created equal, let it be as nearly reached as we can.��10
During the 1860 campaign, a Springfield minister wrote a New Jersey colleague in defense of Mr. Lincoln: �From the frequency and readiness with which he is accustomed to quote from the Bible and the use he makes of such quotations it is clear that he has read and pondered its contents. I wish I could say that he is born of god.�11 Clarence E. Macartney wrote: �The ordinary daily speech of Lincoln was salted with timely and apt quotations from the Bible.� He cited President Lincoln�s response to General George B. McClellan�s complaints about the weather bogging down his army. Mr. Lincoln told aide John Hay that the general �seemed to think, in defiance of Scripture, that heaven sent its rain only on the just, and not on the unjust.�12 Also during the presidential campaign, Mr. Lincoln had a long conversation with State Superintendent of Instruction Newton Bateman. Five years later, Bateman wrote that in October 1860, Mr. Lincoln �repeated many passages of the Bible, in a very reverent & devout way, & seemed especially impressed with the solemn grandeur of portions of revelation describing the wrath of Almighty God.�13
Mr. Lincoln himself said �the Bible is the richest source of pertinent quotations.�14 Paraphrased biblical quotes were sprinkled through Mr. Lincoln�s public and private speech. Theologian William Wolf wrote: �Lincoln enjoyed quoting a text as his immediate response to something said to him. He deflated the somewhat pompous Lord Lyons, the British ambassador, who made an official call to announce formally to the President in the name of his gracious sovereign Queen Victoria the betrothal of the Prince of Wales to the Princess Alexandra of Denmark. Said Lincoln to the bachelor ambassador when he had finished his communication, �Go thou and do likewise.�
�Next to this type of repartee, he liked to quote Scripture in answer to Scripture. Hugh McCulloch, an official of the Treasury Department, once introduced a delegation of New York bankers with much deference. Speaking of their patriotism and loyalty in holding the securities of the nation, he clinched his commendation of them with the text: �Where the treasure is there will the heart be also.� Lincoln, like a crack of the ship, rejoined, �There is another text, Mr. McCulloch, which might apply, �Where the carcass is, there will the eagles be gathered together.��15
Pennsylvania Republican leader Alexander K. McClure wrote: "President Lincoln was censured for appointing one that had zealously opposed his second term. He replied: "Well, I suppose Judge E., having been disappointed before, did behave pretty ugly, but that wouldn't make him any less fit for the place; and I think I have Scriptural authority for appointing him. "You remember when the Lord was on Mount Sinai getting out a commission for Aaron, that same Aaron was at the foot of the mountain making a false god for the people to worship. Yet Aaron got his commission, you know."16
Presbyterian scholar Clarence Macartney wrote: �To a man who complained bitterly and carelessly against Edwin M. Stanton, the secretary of war, accusing Stanton of not carrying out the order that Lincoln had given two weeks before to have a man liberated from prison who was under sentence of death, but had been pardoned, Lincoln said: �If it had not been for me, that man would now be in his grave. Now, sir, you claim to be a philanthropist. If you will get your Bible and turn to the thirtieth chapter of Proverbs, the tenth verse, you will read these words: �Accuse not a servant unto his master, lest he curse thee, and thou be found guilty.��17 Macartney continued the story with the reminiscences of White House staffer Thomas N. Pendel:
Whereupon the man got �huffy� and went away. But as he went out, he said angrily, �There is no such passage in the Bible.� �Oh, yes,� said Mr. Lincoln, �I think you will find it in the thirtieth chapter of Proverbs and at the tenth verse.� This was late in the afternoon, and I thought no more of the occurrence. Next morning I was at Mr. Lincoln�s office door as usual, about 8 o�clock, and heard some one calling out: �O Pendleton! I say, Pendleton, come in here.� When I went inside Mr. Lincoln said to me, �Wait a moment.� He stepped quickly into the private part of the house, through what is now the Cabinet Room, but which was then used as a waiting room, and soon reappeared with his Bible in his hand. He then sat down and read to me that identical passage he had quoted to the philanthropist, and sure enough it was found to be in the thirtieth chapter of Proverbs, and at the tenth verse.�18
William Wolf wrote: �Lincoln�s knowledge of the bible was so thorough that his political opponents generally found themselves on dangerous ground when they quoted it against him. When Judge Douglas somewhat fantastically cited Adam and Eve as the first beneficiaries of his doctrine of �popular sovereignty� Lincoln corrected him. �God did not place good and evil before man, telling him to make his choice. On the contrary, he did tell him there was one tree, of the fruit of which he should not eat, upon pain of certain death.� Then added Lincoln pointedly, �I should scarcely wish so strong a prohibition against slavery in Nebraska.��19 The evidence of President Lincoln's religious faith is in the clearest possible location: his writings and speeches. Lincoln scholar Earl Schwartz wrote that his Collected Works are...peppered with biblical references, including several dozen direction quotations. These are taken, for the most par, from Hebrew bible narratives, including Psalms, Wisdom texts, and the Gospels.�20 Mr. Lincoln�s most famous works are studded with biblical quotations or references:
! The "house divided" analogy from his 1858 Republican nomination speech for the Senate.
His reference in his First Inaugural Address to "a firm reliance on Him who has never yet forsaken this favored land".
His invocation in his First Annual Message to Congress that: "With a reliance on Providence all the more firm and earnest, let us proceed in the great task which events have devolved upon us."
The quotation in his Second Inaugural Address that "judgements of the Lord are true and righteous altogether."
The reference in the Gettysburg Address that this "Nation shall under God have a new birth of freedom.�
Lincoln biographer William E. Barton wrote that Mr. Lincoln �read the Bible, honored it, quoted it freely, and it became so much a part of him as visibly and permanently to give shape to his literary style and to his habits of thought.�21 When a delegation of African-Americans from Baltimore presented President Lincoln with a Bible in September 1864, he replied: "This occasion would seem fitting for a lengthy response to the address which you have just made. I would make one, if prepared; but I am not. I would promise to respond in writing, had not experience taught me that business will not allow me to do so. I can only now say, as I have often before said, it has always been a sentiment with me that all mankind should be free. So far as able, within my sphere, I have always acted as I believed to be right and just; and I have done all I could for the good of mankind generally. In letters and documents sent from this office I have expressed myself better than I now can. In regard to this Great Book, I have but to say, it is the best gift God has given to man.�
All the good the Saviour gave to the world was communicated through this book. But for it we could not know right from wrong. All things most desirable for man's welfare, here and hereafter, are to be found portrayed in it. To you I return my most sincere thanks for the very elegant copy of the great Book of God which you present.22
Rev. S. W. Chase spoke for the delegation that presented Mr. Lincoln with a Bible: "The loyal colored people of Baltimore have entrusted us with authority to present this Bible as a testimonial of their appreciation of your humane conduct towards the people of our race. While all others of this nation are offering their tribute of respect to you, we cannot omit suitable manifestation of ours. Since our incorporation into the American family we have been true and loyal, and we are now ready to aid in defending the country, to be armed and trained in military matters, in order to assist in protecting and defending the star-spangled banner.�
'Towards you, sir, our hearts will ever be warm with gratitude. We come to present to you this copy of the Holy Scriptures, as a token of respect for your active participation in furtherance of the cause of the emancipation of our race. This great event will be a matter of history. Hereafter, when our children shall ask what mean these tokens, they will be told of your worthy deeds, and will rise up and call you blessed.
'The loyal colored people of this country everywhere will remember you at the Throne of Divine Grace. May the King Eternal, an all-wise, Providence protect and keep you, and when you pass from this world to that of eternity, may you be borne to the bosom of your Savior and your God.'23
The Bible was the source of Mr. Lincoln�s deep conviction of the role of �Providence� in human life. U.S. Marshal Ward Hill Lamon reported Mr. Lincoln recalling a dream that foretold his death. Mr. Lincoln read: �It seems strange how much there is in the Bible about dreams. There are, I think, some sixteen chapters in the Old Testament and four or five in the New in which dreams are mentioned; and there are many other passages scattered throughout the book which refer to visions. If we believe the Bible, we must accept the fact that in the old days God and His angels came to men in their sleep and made themselves known in dreams. Nowadays dreams are regarded as very foolish, and are seldom told, except by old women and by young men and maidens in love.�24
In a lecture delivered 15 years after Mr. Lincoln�s death, Joshua F. Speed recalled a visit to President Lincoln at the Soldiers� Home: �As I entered the room, near night, he was sitting near a window intently reading his Bible. Approaching him I said: �I am glad to see you so profitably engaged.� �Yes,� said he, �I am profitably engaged.� �Well,� said I, �if you have recovered from your skepticism, I am sorry to say that I have not.� Looking me earnestly in the face and placing his hand on my shoulder, he said: �You are wrong, Speed. Take all of this book upon reason that you can and the balance on faith, and you will live and die a happier and better man.��25 Lincoln scholar Wayne Temple wrote: �Lincoln had greatly modified his religious beliefs since Speed at Springfield in 1841. It appears, the longer Lincoln lived, the closer he felt to God and the more he relied upon God for sustenance.��26
Mr. Lincoln reportedly told Treasury Department official Lucius E. Chittenden: �Now, let us treat the Bible fairly. If we had a witness on the stand whose general story we knew was true, we would believe him when he asserted facts of which we had no other evidence. We ought to treat the bible with equal fairness. I decided a long time ago that it was less difficult to believe that the Bible was what it claimed to be than to disbelieve it. It is a good book for us to obey � it contains the ten commandments, the Golden Rule, and many other rules which ought to be followed. No man was ever the worse for living according to the directions of the Bible.�27
But Mr. Lincoln also approached the Bible with his customary humility. William Wolf wrote: �One of the greatnesses of Lincoln was the way he held to strong moral positions without the usual accompaniment of self-righteousness or smugness. He expressed this rare achievement provisionally in his humor and in an ultimate dimension in his religious evaluations. To the Pennsylvania delegation that congratulated him after the inauguration he said, urging forbearance and respect for differences of opinion between the states, �I would inculcate this idea, so that we may not, like Pharisees, set ourselves up to be better than other people.��28
References
1. Roy P. Basler, Editor, Collected Works of Abraham Lincoln (Reply to the Loyal Colored People of Baltimore upon Presentation of a Bible), September 7, 1864, Volume VII, p. 542.
2. Herbert Mitgang, editor, Washington, D.C., in Lincoln�s Time: A Memoir of the Civil War Era by the Newspaperman Who Knew Lincoln Best, Noah Brooks, p. 252.
3. Paul Angle, Lincoln�s Power with Words, Journal of the Abraham Lincoln Association, 1981, . 13.
4. William E. Barton, The Soul of Abraham Lincoln, p. xxiv.
5. Earl Schwartz, ��A Poor Hand to Quote Scripture�: Lincoln and Genesis 3:19,� Journal of the Abraham Lincoln Association,�, Winter 2002, pp. 37-38.
6. Elton Trueblood, Abraham Lincoln: Theologian of American Anguish , p. 50.
7. Roy P. Basler, Editor, Collected Works of Abraham Lincoln (Letter from Abraham Lincoln to Mary Speed), Volume I, p. 261 .
8. Julia Taft Bayne, Tad Lincoln�s Father, p. 183.
9. Clarence Edward Macartney, Lincoln and the Bible, p. 84 (See William E. Barton, The Soul of Abraham Lincoln), pp. 93-94.
10. Roy P. Basler, Editor, Collected Works of Abraham Lincoln (Speech at Chicago, Illinois, July 10, 1858), Volume II, p. 501 .
11. Michael Burlingame, editor, An Oral History of Abraham Lincoln, John G. Nicolay�s Interviews and Essays, (Letter from Rev. Albert Hale to Rev. Theron Baldwin) , May 31, 1860, p. 95.
12. Allen C. Guelzo, �Holland�s Informants: The Construction of Josiah Holland�s �Life of Abraham Lincoln,�� Journal of the Abraham Lincoln Association,(Letter from Newton Bateman to Josiah G. Holland, June 19, 1865), Winter 2002, p. 28.
13. Don E. and Virginia Fehrenbacher, editors, Recollected Words of Abraham Lincoln, p. 273.
14. William Wolf, The Almost Chosen People, p. 134.
15. Alexander K. McClure, Lincoln�s Own Yarns and Stories, p. 90.
16. Clarence Edward Macartney, Lincoln and the Bible, pp. 74-75.
17. Thomas N. Pendel, Thirty-Six Years in the White House, pp. 25-26.
18. William Wolf, The Almost Chosen People, p. 132.
19. Earl Schwartz, ��A Poor Hand to Quote Scripture�: Lincoln and Genesis 3:19,� Journal of the Abraham Lincoln Association, 2002, p. 38.
20. William E. Barton, The Soul of Abraham Lincoln, p. 275.
21. Roy P. Basler, Editor, Collected Works of Abraham Lincoln (Reply to Loyal Colored People of Baltimore upon Presentation of a Bible), September 7, 1864, Volume VII, p. 542.
22. Roy P. Basler, Editor, Collected Works of Abraham Lincoln (Statement by S.W. Chase to President Lincoln, Washington Chronicle), September 8, 1864, Volume VII, pp, 543.
23. Ward Hill Lamon, Recollections of Abraham Lincoln, 1847-1865, pp. 114-115.
24. Rufus Rockwell Wilson, editor, Intimate Memories of Lincoln (Joshua F. Speed, ), 1880, p.22.
25. Wayne Temple, From Skeptic to Prophet,
26. Lucius E. Chittenden, Recollections of President Lincoln and His Administration (Chittenden�s reliability in presenting facts as well as Lincoln quotations has often been questioned), pp. 449-450.
27. William Wolf, The Almost Chosen People, p. 139.
28. Clarence Edward Macartney, Lincoln and the Bible, p. 77.
http://www.abrahamlincolnsclassroom.org/Library/newsletter.asp?ID=111&CRLI=159
Đọc thêm!
Mr. Lincoln may have had trouble taking the Bible as literal truth, but he had no trouble reading it. As President Lincoln said: �In regard to this Great book, I have but to say, it is the best gift God has given to man. All the good the Savior gave to the world was communicated through this book. But for it we could not know right from wrong. All things most desirable for man�s welfare, here and hereafter, are to be found portrayed in it.�2 But Mr. Lincoln was too honest a man to portray himself as conventionally pious. �A well-known picture of Tad and his father...represents the boy standing by his father�s side, looking over the pages of a large book.,� wrote journalist Noah Brooks. �Lincoln explained to me that he was afraid that this picture was a species of false pretense. Most people, he thought, would suppose the book a large clasped Bible, whereas it was a big photograph album which the photographer, posing the father and son, had hit upon as a good device to use in this way to ring the two sitters together. Lincoln�s anxiety lest somebody should think he was �making believe to read the Bible to Tad,� was illustrative of his scrupulous honesty.�3
But Mr. Lincoln�s deep knowledge of the scriptures could not have come without regularly reading them. As Lincoln scholar Paul Angle noted: �There was one book...which left its mark on much of what he wrote. That was the Bible. Upon a familiarity which extended back to his youth he could always depend.�4 Historian Michael Nelson wrote: �For all his mockery, Lincoln was consumed by religion as a subject, as well as by the Bible, a book that all of his biographers agree he had read and studied assiduously since his youth. Although disdainful of Christianity in its cruder, frontier forms, Lincoln seems to have been open to, even seeking, an account of the faith that rang true on grounds of reason and justice.�5 Religious scholar Earl Schwartz wrote: �Lincoln�s legacy, farm more than any other president, has, over time, become inextricably bound up with the words and themes of the Bible. He has been endowed repeatedly with biblical features � sometimes cast as Moses, on other occasions as Father Abraham, and yet again as a fiery prophet or martyred savior. An aura of prophetic authority has accrued to his own words, heightened by his skillful use of literary devices that are also characteristic of biblical texts.�6
For Mr. Lincoln, the Bible brought him a lifetime of education. Scholar Elton Trueblood wrote of Mr. Lincoln: �While it is generally recognized that young Lincoln heard many passages from the Bible both in his cabin home and in the Baptist meeting house, it is not equally known that he also encountered it in his fragmentary schooling. In this, as in so many aspects of his development, our most reliable evidence is that provided by the man himself. One day in the White House, as the President was speaking to Senator John B. Henderson, he was suddenly reminded of his early education. "Henderson," he asked, "did you ever attend an old blab school? Yes? Well, so did I, and what little schooling I got in early life was in that way. I attended such a school in a log schoolhouse in Indiana where we had no reading books or grammars, and all our reading was done from the Bible. We stood in a long line and read in turn from it." Thus, Lincoln read the Bible and heard it read before his father could afford to own a copy. According to his kinsman, Dennis Hanks, a family Bible was not purchased until 1819, when Abraham was ten years old.�7
Julia Taft Bayne, a teenager who spent much of 1861 at the White House supervising her brother and their playmates, the two youngest Lincoln boys, recalled: �It is well known, of course, that Mr. Lincoln was a great reader of the Bible, but I have a notion, without knowing exactly why I have it, that at the beginning of the war, he read the Bible quite as much for its literary style as he did for its religious or spiritual content. Perhaps I have this notion from his attitude when reading it. He read it in the relaxed, almost lazy attitude of a man enjoying a good book....Only once do I recall his saying anything about the Bible or religion and that was in reply to Tad�s plea as to why he had to go to Sunday-school . �Every educated person should know something about the Bible and the Bible stories, Tad,� answered his father.�8
Mr. Lincoln�s knowledge of the Bible was impressive. After he heard that only 400 persons attended the Ohio convention nominating John C. Fr�mont for President in May 1864, Mr. �Lincoln took his Bible up from his desk and after a little search came upon the passage which told of David and the company which gathered about him at the cave of Adullam when he was pursued and persecuted by King Saul: �And everyone that was in distress, and everyone that was in debt, and everyone that was discontented, gathered themselves unto him; and he became a captain over them; and there were with him about four hundred men.� (I Samuel 22:2.). Thus the president used his knowledge of the Bible to describe and ridicule the critics, complainers, and malcontents who had gathered about Fremont,� wrote Clarence Edward Macartney in Lincoln and the Bible.9
In his reply to Illinois Senator Stephen Douglas�s criticisms at the beginning of their 1858 campaign, Mr. Lincoln said: �My friend has said to me that I am a poor hand to quote Scripture. I will try it again, however. It is said in one of the admonitions of the Lord, �As your Father in Heaven is perfect, be ye also perfect.� The Savior, I suppose, did not expect that any human creature could be perfect as the Father in Heaven; but He said, �As your Father in Heaven is perfect, be ye also perfect.� He set that up as a standard, and he who did most towards reaching that standard, attained the highest degree of moral perfection. So I say in relation to the principle that all men are created equal, let it be as nearly reached as we can.��10
During the 1860 campaign, a Springfield minister wrote a New Jersey colleague in defense of Mr. Lincoln: �From the frequency and readiness with which he is accustomed to quote from the Bible and the use he makes of such quotations it is clear that he has read and pondered its contents. I wish I could say that he is born of god.�11 Clarence E. Macartney wrote: �The ordinary daily speech of Lincoln was salted with timely and apt quotations from the Bible.� He cited President Lincoln�s response to General George B. McClellan�s complaints about the weather bogging down his army. Mr. Lincoln told aide John Hay that the general �seemed to think, in defiance of Scripture, that heaven sent its rain only on the just, and not on the unjust.�12 Also during the presidential campaign, Mr. Lincoln had a long conversation with State Superintendent of Instruction Newton Bateman. Five years later, Bateman wrote that in October 1860, Mr. Lincoln �repeated many passages of the Bible, in a very reverent & devout way, & seemed especially impressed with the solemn grandeur of portions of revelation describing the wrath of Almighty God.�13
Mr. Lincoln himself said �the Bible is the richest source of pertinent quotations.�14 Paraphrased biblical quotes were sprinkled through Mr. Lincoln�s public and private speech. Theologian William Wolf wrote: �Lincoln enjoyed quoting a text as his immediate response to something said to him. He deflated the somewhat pompous Lord Lyons, the British ambassador, who made an official call to announce formally to the President in the name of his gracious sovereign Queen Victoria the betrothal of the Prince of Wales to the Princess Alexandra of Denmark. Said Lincoln to the bachelor ambassador when he had finished his communication, �Go thou and do likewise.�
�Next to this type of repartee, he liked to quote Scripture in answer to Scripture. Hugh McCulloch, an official of the Treasury Department, once introduced a delegation of New York bankers with much deference. Speaking of their patriotism and loyalty in holding the securities of the nation, he clinched his commendation of them with the text: �Where the treasure is there will the heart be also.� Lincoln, like a crack of the ship, rejoined, �There is another text, Mr. McCulloch, which might apply, �Where the carcass is, there will the eagles be gathered together.��15
Pennsylvania Republican leader Alexander K. McClure wrote: "President Lincoln was censured for appointing one that had zealously opposed his second term. He replied: "Well, I suppose Judge E., having been disappointed before, did behave pretty ugly, but that wouldn't make him any less fit for the place; and I think I have Scriptural authority for appointing him. "You remember when the Lord was on Mount Sinai getting out a commission for Aaron, that same Aaron was at the foot of the mountain making a false god for the people to worship. Yet Aaron got his commission, you know."16
Presbyterian scholar Clarence Macartney wrote: �To a man who complained bitterly and carelessly against Edwin M. Stanton, the secretary of war, accusing Stanton of not carrying out the order that Lincoln had given two weeks before to have a man liberated from prison who was under sentence of death, but had been pardoned, Lincoln said: �If it had not been for me, that man would now be in his grave. Now, sir, you claim to be a philanthropist. If you will get your Bible and turn to the thirtieth chapter of Proverbs, the tenth verse, you will read these words: �Accuse not a servant unto his master, lest he curse thee, and thou be found guilty.��17 Macartney continued the story with the reminiscences of White House staffer Thomas N. Pendel:
Whereupon the man got �huffy� and went away. But as he went out, he said angrily, �There is no such passage in the Bible.� �Oh, yes,� said Mr. Lincoln, �I think you will find it in the thirtieth chapter of Proverbs and at the tenth verse.� This was late in the afternoon, and I thought no more of the occurrence. Next morning I was at Mr. Lincoln�s office door as usual, about 8 o�clock, and heard some one calling out: �O Pendleton! I say, Pendleton, come in here.� When I went inside Mr. Lincoln said to me, �Wait a moment.� He stepped quickly into the private part of the house, through what is now the Cabinet Room, but which was then used as a waiting room, and soon reappeared with his Bible in his hand. He then sat down and read to me that identical passage he had quoted to the philanthropist, and sure enough it was found to be in the thirtieth chapter of Proverbs, and at the tenth verse.�18
William Wolf wrote: �Lincoln�s knowledge of the bible was so thorough that his political opponents generally found themselves on dangerous ground when they quoted it against him. When Judge Douglas somewhat fantastically cited Adam and Eve as the first beneficiaries of his doctrine of �popular sovereignty� Lincoln corrected him. �God did not place good and evil before man, telling him to make his choice. On the contrary, he did tell him there was one tree, of the fruit of which he should not eat, upon pain of certain death.� Then added Lincoln pointedly, �I should scarcely wish so strong a prohibition against slavery in Nebraska.��19 The evidence of President Lincoln's religious faith is in the clearest possible location: his writings and speeches. Lincoln scholar Earl Schwartz wrote that his Collected Works are...peppered with biblical references, including several dozen direction quotations. These are taken, for the most par, from Hebrew bible narratives, including Psalms, Wisdom texts, and the Gospels.�20 Mr. Lincoln�s most famous works are studded with biblical quotations or references:
! The "house divided" analogy from his 1858 Republican nomination speech for the Senate.
His reference in his First Inaugural Address to "a firm reliance on Him who has never yet forsaken this favored land".
His invocation in his First Annual Message to Congress that: "With a reliance on Providence all the more firm and earnest, let us proceed in the great task which events have devolved upon us."
The quotation in his Second Inaugural Address that "judgements of the Lord are true and righteous altogether."
The reference in the Gettysburg Address that this "Nation shall under God have a new birth of freedom.�
Lincoln biographer William E. Barton wrote that Mr. Lincoln �read the Bible, honored it, quoted it freely, and it became so much a part of him as visibly and permanently to give shape to his literary style and to his habits of thought.�21 When a delegation of African-Americans from Baltimore presented President Lincoln with a Bible in September 1864, he replied: "This occasion would seem fitting for a lengthy response to the address which you have just made. I would make one, if prepared; but I am not. I would promise to respond in writing, had not experience taught me that business will not allow me to do so. I can only now say, as I have often before said, it has always been a sentiment with me that all mankind should be free. So far as able, within my sphere, I have always acted as I believed to be right and just; and I have done all I could for the good of mankind generally. In letters and documents sent from this office I have expressed myself better than I now can. In regard to this Great Book, I have but to say, it is the best gift God has given to man.�
All the good the Saviour gave to the world was communicated through this book. But for it we could not know right from wrong. All things most desirable for man's welfare, here and hereafter, are to be found portrayed in it. To you I return my most sincere thanks for the very elegant copy of the great Book of God which you present.22
Rev. S. W. Chase spoke for the delegation that presented Mr. Lincoln with a Bible: "The loyal colored people of Baltimore have entrusted us with authority to present this Bible as a testimonial of their appreciation of your humane conduct towards the people of our race. While all others of this nation are offering their tribute of respect to you, we cannot omit suitable manifestation of ours. Since our incorporation into the American family we have been true and loyal, and we are now ready to aid in defending the country, to be armed and trained in military matters, in order to assist in protecting and defending the star-spangled banner.�
'Towards you, sir, our hearts will ever be warm with gratitude. We come to present to you this copy of the Holy Scriptures, as a token of respect for your active participation in furtherance of the cause of the emancipation of our race. This great event will be a matter of history. Hereafter, when our children shall ask what mean these tokens, they will be told of your worthy deeds, and will rise up and call you blessed.
'The loyal colored people of this country everywhere will remember you at the Throne of Divine Grace. May the King Eternal, an all-wise, Providence protect and keep you, and when you pass from this world to that of eternity, may you be borne to the bosom of your Savior and your God.'23
The Bible was the source of Mr. Lincoln�s deep conviction of the role of �Providence� in human life. U.S. Marshal Ward Hill Lamon reported Mr. Lincoln recalling a dream that foretold his death. Mr. Lincoln read: �It seems strange how much there is in the Bible about dreams. There are, I think, some sixteen chapters in the Old Testament and four or five in the New in which dreams are mentioned; and there are many other passages scattered throughout the book which refer to visions. If we believe the Bible, we must accept the fact that in the old days God and His angels came to men in their sleep and made themselves known in dreams. Nowadays dreams are regarded as very foolish, and are seldom told, except by old women and by young men and maidens in love.�24
In a lecture delivered 15 years after Mr. Lincoln�s death, Joshua F. Speed recalled a visit to President Lincoln at the Soldiers� Home: �As I entered the room, near night, he was sitting near a window intently reading his Bible. Approaching him I said: �I am glad to see you so profitably engaged.� �Yes,� said he, �I am profitably engaged.� �Well,� said I, �if you have recovered from your skepticism, I am sorry to say that I have not.� Looking me earnestly in the face and placing his hand on my shoulder, he said: �You are wrong, Speed. Take all of this book upon reason that you can and the balance on faith, and you will live and die a happier and better man.��25 Lincoln scholar Wayne Temple wrote: �Lincoln had greatly modified his religious beliefs since Speed at Springfield in 1841. It appears, the longer Lincoln lived, the closer he felt to God and the more he relied upon God for sustenance.��26
Mr. Lincoln reportedly told Treasury Department official Lucius E. Chittenden: �Now, let us treat the Bible fairly. If we had a witness on the stand whose general story we knew was true, we would believe him when he asserted facts of which we had no other evidence. We ought to treat the bible with equal fairness. I decided a long time ago that it was less difficult to believe that the Bible was what it claimed to be than to disbelieve it. It is a good book for us to obey � it contains the ten commandments, the Golden Rule, and many other rules which ought to be followed. No man was ever the worse for living according to the directions of the Bible.�27
But Mr. Lincoln also approached the Bible with his customary humility. William Wolf wrote: �One of the greatnesses of Lincoln was the way he held to strong moral positions without the usual accompaniment of self-righteousness or smugness. He expressed this rare achievement provisionally in his humor and in an ultimate dimension in his religious evaluations. To the Pennsylvania delegation that congratulated him after the inauguration he said, urging forbearance and respect for differences of opinion between the states, �I would inculcate this idea, so that we may not, like Pharisees, set ourselves up to be better than other people.��28
References
1. Roy P. Basler, Editor, Collected Works of Abraham Lincoln (Reply to the Loyal Colored People of Baltimore upon Presentation of a Bible), September 7, 1864, Volume VII, p. 542.
2. Herbert Mitgang, editor, Washington, D.C., in Lincoln�s Time: A Memoir of the Civil War Era by the Newspaperman Who Knew Lincoln Best, Noah Brooks, p. 252.
3. Paul Angle, Lincoln�s Power with Words, Journal of the Abraham Lincoln Association, 1981, . 13.
4. William E. Barton, The Soul of Abraham Lincoln, p. xxiv.
5. Earl Schwartz, ��A Poor Hand to Quote Scripture�: Lincoln and Genesis 3:19,� Journal of the Abraham Lincoln Association,�, Winter 2002, pp. 37-38.
6. Elton Trueblood, Abraham Lincoln: Theologian of American Anguish , p. 50.
7. Roy P. Basler, Editor, Collected Works of Abraham Lincoln (Letter from Abraham Lincoln to Mary Speed), Volume I, p. 261 .
8. Julia Taft Bayne, Tad Lincoln�s Father, p. 183.
9. Clarence Edward Macartney, Lincoln and the Bible, p. 84 (See William E. Barton, The Soul of Abraham Lincoln), pp. 93-94.
10. Roy P. Basler, Editor, Collected Works of Abraham Lincoln (Speech at Chicago, Illinois, July 10, 1858), Volume II, p. 501 .
11. Michael Burlingame, editor, An Oral History of Abraham Lincoln, John G. Nicolay�s Interviews and Essays, (Letter from Rev. Albert Hale to Rev. Theron Baldwin) , May 31, 1860, p. 95.
12. Allen C. Guelzo, �Holland�s Informants: The Construction of Josiah Holland�s �Life of Abraham Lincoln,�� Journal of the Abraham Lincoln Association,(Letter from Newton Bateman to Josiah G. Holland, June 19, 1865), Winter 2002, p. 28.
13. Don E. and Virginia Fehrenbacher, editors, Recollected Words of Abraham Lincoln, p. 273.
14. William Wolf, The Almost Chosen People, p. 134.
15. Alexander K. McClure, Lincoln�s Own Yarns and Stories, p. 90.
16. Clarence Edward Macartney, Lincoln and the Bible, pp. 74-75.
17. Thomas N. Pendel, Thirty-Six Years in the White House, pp. 25-26.
18. William Wolf, The Almost Chosen People, p. 132.
19. Earl Schwartz, ��A Poor Hand to Quote Scripture�: Lincoln and Genesis 3:19,� Journal of the Abraham Lincoln Association, 2002, p. 38.
20. William E. Barton, The Soul of Abraham Lincoln, p. 275.
21. Roy P. Basler, Editor, Collected Works of Abraham Lincoln (Reply to Loyal Colored People of Baltimore upon Presentation of a Bible), September 7, 1864, Volume VII, p. 542.
22. Roy P. Basler, Editor, Collected Works of Abraham Lincoln (Statement by S.W. Chase to President Lincoln, Washington Chronicle), September 8, 1864, Volume VII, pp, 543.
23. Ward Hill Lamon, Recollections of Abraham Lincoln, 1847-1865, pp. 114-115.
24. Rufus Rockwell Wilson, editor, Intimate Memories of Lincoln (Joshua F. Speed, ), 1880, p.22.
25. Wayne Temple, From Skeptic to Prophet,
26. Lucius E. Chittenden, Recollections of President Lincoln and His Administration (Chittenden�s reliability in presenting facts as well as Lincoln quotations has often been questioned), pp. 449-450.
27. William Wolf, The Almost Chosen People, p. 139.
28. Clarence Edward Macartney, Lincoln and the Bible, p. 77.
http://www.abrahamlincolnsclassroom.org/Library/newsletter.asp?ID=111&CRLI=159
Đọc thêm!
Abraham Lincoln
Con người nổi tiếng với câu nói bất hủ :" Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng". Và dưới đây là đôi điều về con người vĩ đại của nước Mỹ này
Abraham Lincoln (12 tháng 2, 1809 – 15 tháng 4 1865), thỉnh thoảng được gọi là Abe Lincoln, tên hiệu Honest Abe, Rail Splitter, Người giải phóng vĩ đại, là một chính trị gia Hoa Kỳ, là tổng thống thứ 16 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (1861 đến 1865), và là tổng thống đầu tiên thuộc Đảng cộng hoà. Lincoln phản đối sự mở rộng chế độ nô lệ và điều hành đất nước trong thời gian diễn ra Nội chiến Mỹ. Ông lựa chọn các tướng lĩnh và thông qua chiến lược của họ, lựa chọn các quan chức dân sự cao cấp; giám sát chính sách ngoại giao, điều hành các hoạt động chính phủ; hướng dẫn dư luận quần chúng thông qua các bức thư, bài phát biểu như bài diễn văn Gettysburg nổi tiếng; và nhận trách nhiệm cá nhân về những kế hoạch xoá bỏ chế độ nô lệ và tái thiết đất nước. Ông bị ám sát khi cuộc nội chiến chấm dứt, trở thành một người tử vì đạo và một biểu tượng của chủ nghĩa quốc gia Hoa Kỳ.
1_Tóm tắt tiểu sử
Lincoln thuộc mẫu người tự lập. Tự học, ông trở thành một luật sư hàng đầu tại Illinois. Ông là lãnh đạo Đảng Whig (và đã đại diện cho Đảng tại Hạ viện trong một nhiệm kỳ). Khi vấn đề về chế độ nô lệ xảy ra năm 1854, ông góp phần tạo dựng Đảng Cộng hoà mới và trở thành lãnh đạo tại Illinois. Lincoln phản đối lao động Nô lệ và kiên quyết khước từ mở rộng chế độ nô lệ ra thêm trong liên bang. Những cuộc tranh luận của ông với lãnh đạo Đảng Dân chủ Stephen Douglas năm 1858 khiến ông được cả nước biết tới, và với tư cách ứng cử viên ôn hòa miền tây ông đã chiến thắng trong cuộc chạy đua vào chân ứng cử viên tổng thống năm 1860. Chiến thắng của ông trong cuộc Bầu cử tổng thống Hoa Kỳ, 1860 là giọt nước làm tràn ly đối với phương Nam, nơi bảy bang quyết định ly khai, thành lập lên Liên hiệp các bang miền Nam, và chiếm quyền kiểm soát các pháo đài cũng như tài sản khác của Hoa Kỳ bên trong biên giới của họ, tạo bước khởi đầu dẫn tới cuộc Nội chiến Mỹ.
Lincoln thường được ca tụng vì tài năng lãnh đạo của ông trong cuộc chiến; những lời phát biểu với dân chúng, nổi tiếng nhất là Gettysburg Address, đã định nghĩa những vấn đề chiến tranh và giúp tái xác định hình ảnh của chính nước Mỹ. Ông đã chứng minh khả năng khi thay thế các tướng lĩnh kém tài bằng những người giỏi giang hơn, và cuối cùng đã tìm ra vị tướng đích thực Ulysses S. Grant. Khi lãnh đạo Đảng Cộng hoà, ông giữ mọi bè phái liên hiệp với nhau và tìm kiếm những sự ủng hộ mới từ War Democrats, thậm chí khi những kẻ thù chính trị ghê gớm nhất của ông gọi ông là độc tài tàn nhẫn. Lincoln phải đàm phán giữa những lãnh đạo phe Cấp tiến phe Ôn hòa Cộng hoà, những người thường bất đồng quan điểm về các vấn đề nô lệ. Ông đích thân chỉ huy các hoạt động chiến tranh, hợp tác chặt chẽ trong giai đoạn (1864-65) với Tướng Grant, người đã buộc lực lượng quân đội chính của tướng Robert E. Lee chấp nhận đầu hàng vào tháng 4 năm 1865.
Khả năng lãnh đạo của ông được minh chứng rõ rệt khi ông giải quyết khôn khéo vấn đề biên giới các bang nô lệ khi cuộc chiến mới bùng phát, khi đánh bại một nỗ lực vận động nghị viện nhằm tái tổ chức lại chính phủ của ông năm 1862, khi những lời tuyên bố, những bài viết của ông giúp tập hợp và truyền cảm hứng cho dân chúng miền Bắc, khi ông góp phần làm giảm những nỗi đau thời hậu chiến trong chiến dịch tranh cử tổng thống năm 1864. Những kẻ thù chính trị chỉ trích ông đã vi phạm Hiến pháp, vượt quá quyền lực hành pháp, từ chối thỏa hiệp về vấn đề nô lệ, tuyên bố thiết quân luật, đình chỉ lệnh đình quyền giam giữ, ra lệnh bắt giữ 18,000 người đối lập gồm cả các quan chức đảng cộng hòa và các nhà xuất bản, giết hại hàng trăm nghìn binh sĩ trẻ trong cuộc chiến. Phe Cấp tiến Cộng hoà chỉ trích ông hành động quá chậm chạp khi xóa bỏ chế độ nô lệ, và không đủ cứng rắn đối với những người miền Nam đã đầu hàng.
Lincoln nổi tiếng nhất với vai trò gìn giữ Hợp chủng quốc và chấm dứt chế độ nô lệ tại Hoa Kỳ với bản Tuyên ngôn Giải phóng và việc Sửa đổi thứ mười ba Hiến pháp Hoa Kỳ.
Các nhà sử học đã có ý kiến rằng Lincoln có tầm ảnh hưởng lâu dài trên chính trị và các định chế xã hội Hoa Kỳ, đặc biệt đã đặt ra tiền lệ cho việc tập trung hóa quyền lực ở mức độ cao hơn vào tay chính phủ liên bang và giảm bớt quyền lực các cá nhân bên trong chính phủ liên bang.
Lincoln hầu như dồn mọi chú ý của mình vào các vấn đề chính trị và quân sự, nhưng nhờ sự ủng hộ mạnh mẽ của ông, chính phủ đá thành lập ra hệ thống các ngân hàng quốc gia với Đạo luật Ngân hàng Quốc gia như ngày nay. Chính phủ của ông cũng đã tăng thuế để tăng nguồn thu, đặt ra luật thuế thu nhập đầu tiên, phát hành hàng trăm triệu dollar khế ước và những đồng tiền giấy đầu tiên, khuyến khích người nhập cư từ Châu Âu, khởi động dự án đường sắt liên lục địa, lập ra Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, Bộ nông nghiệp, khuyến khích quyền sở hữu trang trại với Đạo luật ấp trại năm 1862, và lập ra hệ thống các trường đại học hiện đại với Đạo luật các trường Đại học Morrill Land-Grant. Trong thời gian chiến tranh, bộ Ngân khố của chính phủ đã quản lý rất hiệu quả mọi hoạt động mua bán bông tại những vùng miền Nam chiếm đóng —công việc quản lý kinh tế hiệu quả nhất của liên bang. Vùng li khai West Virginia và vùng Nevada không dân chúng được chấp nhận thành các bang mới của quốc gia làm nhằm tăng đa số Cộng hòa bên trong Thượng viện Hoa Kỳ.
Lincoln luôn được xếp hạng là một trong số hai hay ba tổng thống vĩ đại nhất. Tầm quan trọng của ông xuất phát từ vai trò trong việc xác định các vấn đề to lớn, tổ chức và giành chiến thắng trong cuộc nội chiến, tiêu diệt chế độ nô lệ, tái định nghĩa quốc gia. Việc ông bị ám sát khiến ông trở thành một người tử vì đạo trong trái tim với hàng triệu người Mỹ.
2_Lincoln trước năm 1854
Abraham Lincoln sinh ngày 12 tháng 2, 1809, cùng ngày sinh với Charles Darwin. Lincoln sinh ra trong một căn nhà gỗ một phòng nhỏ tại Trang trại Sinking Spring rộng 348 acre (1.4 km²) ở phía đông nam Quận Hardin, Kentucky, khi ấy còn bị coi là biên giới (nay là một phần của Quận LaRue, ở Nolin Creek, cách Hodgenville 3 dặm (5km) và là con của Thomas Lincoln cùng Nancy Hanks. Lincoln được đặt theo tên người ông đã mất, ông của Lincoln đã bị lột da đầu năm 1786 trong một cuộc tấn công của người da đỏ. Ông không có tên đệm. Cha mẹ Lincoln là những người nông dân thất học và mù chữ. Khi Lincoln đã trở nên nổi tiếng, những nhà báo và những người viết truyện đã thổi phồng sự nghèo khổ và tối tăm của ông khi ra đời. Tuy nhiên, Thomas Lincoln là một công dân khá có ảnh hưởng ở vùng nông thôn Kentucky. Ông đã mua lại Trang trại Sinking Spring vào tháng 12 năm 1808 với giá $200 tiền mặt và một khoản nợ. Trang trại này hiện được bảo tồn như một phần của Địa điểm di tích lịch sử quốc gia nơi sinh Abraham Lincoln. Cha mẹ ông theo một phái nhà thờ Baptisti, vốn đã bị trục xuất khỏi nhà thờ lớn hơn vì họ đã từ chối ủng hộ chế độ nô lệ. Từ khi còn rất nhỏ, Lincoln đã thể hiện tình cảm chống chế độ nô lệ. Tuy nhiên, ông không theo tôn giáo của cha mẹ, hay bất kỳ một tôn giáo nào khác, lúc nhỏ ông thường chế giễu tôn giáo.
Ba năm sau khi mua trang trại, một người chủ đất trước đó đưa hồ sơ ra trước Toà án Hardin Circuit buộc gia đình Lincoln phải chuyển đi. Thomas theo đuổi vụ kiện cho tới khi ông bị xử thua năm 1815. Những chi phí kiện tụng khiến gia cảnh càng khó khăn thêm. Năm 1811, họ thuê được 30 acres (0.1 km²) trong trang trại Knob Creek rộng 230 acre (0.9 km²) cách đó vài dặm, nơi họ sẽ chuyển tới sống sau này. Nằm trong lưu vực Sông Rolling Fork, đó là một trong những nơi có đất canh tác tốt nhất vùng. Khi ấy, cha Lincoln là một thành viên được kính trọng trong cộng đồng và là một nông dân cũng như thợ mộc tài giỏi. Hồi ức sớm nhất của Lincoln bắt đầu có ở trang trại này. Năm 1815, một nguyên đơn khác tìm cách buộc gia đình Lincoln phải rời trang trại Knob Creek. Nản chí trước sự kiện tụng cũng như không được các toà án ở Kentucky bảo vệ, Thomas quyết định đi tới Indiana, nơi đã được chính phủ liên bang khảo sát, nên quyền sở hữu đất đai cũng được bảo đảm hơn. Có lẽ những giai đoạn tuổi thơ ấy đã thúc đẩy Abraham theo học trác địa và trở thành một luật sư.
Năm 1816, khi Lincoln lên bảy, ông và cha tới Quận Spencer, Indiana; ông lý giải hành động này "một phần vì quan điểm với vấn đề nô lệ" và một phần vì những khó khăn kinh tế ở Kentucky. Năm 1818, mẹ Lincoln qua đời vì "milk sickness" ở tuổi ba tư, khi ông mới chín tuổi. Một thời gian ngắn sau đó, cha Lincoln cưới Sarah Bush Johnston. Sarah Lincoln đã dạy dỗ chú bé Lincoln như con mình. Nhiều năm sau này bà đã so sánh Lincoln với những người con riêng của mình và nói "Cả hai đều là những đứa trẻ ngoan, nhưng tôi phải nói rằng – vì cả hai đứa đều đã chết, nên Abe là đứa trẻ tuyệt nhất tôi từng thấy và hi vọng được thấy." (Lincoln, by David Herbert Donald, 1995)
Năm 1830, sau những khó khăn kinh tế và tranh chấp đất đai ở Indiana, gia đình họ định cư trên một khu đất của chính phủ do cha Lincoln lựa chọn tại Quận Macon, Illinois. Mùa đông năm sau đặc biệt khắc nghiệt, và gia đình họ hầu như sắp phải quay trở lại Indiana. Khi cha ông tái định cư gia đình ở một khu đất gần đó vào năm sau, Lincoln khi ấy đã 22 tuổi quyết định khám phá một mình, đi canô dọc Sông Sangamon tới Quận Sangamon, Illinois, ở làng New Salem. Cuối năm ấy, được một thương gia ở New Salem là Denton Offutt thuê, cùng vài người bạn ông mang hàng hoá từ New Salem đến New Orleans bằng bè trên các con sông Sangamon, Illinois và Mississippi. Trong khi ở New Orleans, có lẽ ông đã chứng kiến một phiên bán đấu giá nô lệ để lại những ấn tượng không thể gột sạch trong tâm trí trong cả cuộc đời còn lại. Dù trên thực tế ông có chứng kiến một phiên đấu giá nô lệ vào thời điểm ấy hay không, cuộc sống ở vùng nông thôn với sự hiện diện của nhiều nô lệ có lẽ cũng mang lại cho ông nhiều ví dụ tàn ác tương tự diễn ra hàng ngày.
Thời gian theo học thực sự của ông có lẽ chỉ kéo dài 18 tháng do các giáo viên không chuyên nghiệp dạy. Trên thực tế ông là người tự học, đọc mọi cuốn sách có thể mượn được. Ông thông thạo Kinh thánh, các tác phẩm của William Shakespeare, lịch sử Anh và lịch sử Mỹ, và học được phong cách trình bày giản dị trước thính giả. Ông không thích câu cá và săn bắn vì không muốn giết hại bất cứ một con vật nào kể cả để làm thực phẩm dù ông rất cao và khoẻ, ông dành nhiều thời gian đọc sách tới nỗi những người hàng xóm cho rằng ông cố tình làm vậy để tránh phải làm việc chân tay nặng nhọc. Ông giỏi dùng rìu (vì thế có tên hiệu "người xẻ gỗ"), ông cũng là một đô vật cừ.
a-Khởi nghiệp
Lincoln bắt đầu nghề nghiệp chính trị năm 1832 khi 23 khi chạy đua vào Quốc hội bang Illinois với tư cách thành viên Đảng Whig. Cương lĩnh tranh cử của ông là tiến hành những cải cách đường thuỷ trên Sông Sangamon với hy vọng thu hút vận tải bằng tàu hơi nước trên sông, điều này cho phép những vùng nghèo khó, dân cư thưa thớt dọc hai bên bờ sông phát triển thịnh vượng. Ông giữ chức đại uý trong một đại đội dân quân Illinois được thành lập ở New Salem trong Chiến tranh Black Hawk, dù ông chưa bao giờ tham chiến. Sau khi trúng cử ông đã viết thư cho những người bạn nói rằng ông chưa từng có "bất kỳ thành công nào đáng hài lòng như vậy trong cuộc sống."
Ông điều hành một cửa hiệu nhỏ trong một thời gian ngắn ở New Salem, Illinois. Sau khi đọc xong tập hai bộ sách bốn tập Bình luận luật pháp Anh của Ngài William Blackstone, ông đã tự học luật và được nhận vào Hội luật gia bang Illinois năm 1837. Cùng năm ấy, ông rời tới Springfield, Illinois, và bắt đầu làm nghề luật với Stephen T. Logan. Ông trở thành một trong những luật sư thành công và được kính trọng nhất ở Illinois với con đường sự nghiệp ngày càng rộng mở. Lincoln tham gia bốn nhiệm kỳ liên tục trong Hạ viện Illinois, với tư cách đại diện Đảng Whig thuộc Quận Sangamon, bắt đầu từ năm 1834. Ông trở thành một lãnh đạo Đảng Whig trong cơ quan lập pháp. Năm 1837, lần đầu tiên ông đứng ra chống lại chế độ nô lệ tại Quốc hội Illinois, cho rằng chế độ này đã “được lập lên một cách bất công và là một chính sách tồi”.
Năm 1837 Lincoln gặp người bạn thân nhất của mình Joshua Fry Speed, họ cùng sống với nhau trong bốn năm. "...rất khó để nói rằng ông là người bạn thân duy nhất — bởi vì rõ ràng ông là người bạn cuối cùng — Lincoln từng có."(Nicolay và Hay) Khi Speed cưới vợ tháng 2 năm 1842, từ Springfield Lincoln đã viết: "Hiện tại, tôi cảm thấy ghen tị với cả hai người, các bạn sẽ dành hết sự quan tâm cho nhau, tới mức chẳng còn chút nào dành cho tôi nữa."(Tuyển chọn các bài viết của Lincoln, Basler(ed))
Năm 1842, Lincoln viết một loạt các bức thư vô danh được đăng trên tờ Sangamo Journal, chế giễu nhân vật danh tiếng của Đảng Dân chủ và là Kiểm toán viên nhà nước James Shields. Khi Shields khám phá ra chính Lincoln là tác giả của những bức thư đó, ông đã thách đấu với Lincoln. Bởi vì Shields là người thách đấu, Lincoln được lựa chọn vũ khí và ông đã chọn loại "Kiếm kỵ binh cỡ lớn nhất." Lincoln cao, tay dài hơn nên có ưu thế rõ rệt; cuộc thách đấu đã bị hủy bỏ vào giây phút cuối cùng.
Năm 1841, Lincoln hành nghề luật cùng William Herndon, một người bạn trong Đảng Whig. Năm 1856, hai người tham gia Đảng Cộng hoà. Sau khi Lincoln chết, Herndon bắt đầu sưu tập các câu chuyện về Lincoln từ những người từng biết ông ở Illinois, và xuất bản chúng trong cuốn Lincoln của Herndon.
b-Gia đình
Ngày 4 tháng 11, 1842, khi 33 tuổi, Lincoln cưới Mary Todd. Họ có bốn người con.
* Robert Todd Lincoln (1 tháng 8, 1843 - 26 tháng 7, 1926): sinh tại Springfield, Illinois, mất tại Manchester, Vermont.
* Edward Baker Lincoln (10 tháng 3, 1846 - 1 tháng 2, 1850): sinh và mất tại Springfield.
* William Wallace Lincoln (21 tháng 12, 1850 - 20 tháng 2, 1862): sinh tại Springfield và mất tại Washington, D.C.
* Thomas "Tad" Lincoln (4 tháng 4, 1853 - 16 tháng 7, 1871): sinh tại Springfield và mất tại Chicago.
Chỉ Robert sống được tới tuổi trưởng thành. Robert có ba con và ba cháu. Không một ai trong số cháu của ông có con, vì thế dòng dõi Lincoln chấm dứt khi Robert Beckwith (cháu trai của Lincoln) chết ngày 24 tháng 12, 1985.
2_Làm chính trị tại Illinois
Năm 1846, Lincoln trúng cử một nhiệm kỳ Hạ viện Mỹ. Là một đảng viên trung thành của Đảng Whig, Lincoln thường coi lãnh đạo đảng Henry Clay là thần tượng chính trị của mình. Vì là thành viên lần đầu vào Hạ viện, Lincoln không có nhiều quyền lực hay ưởng hưởng tại đó. Ông đã lên tiếng chống lại cuộc chiến tranh với Mexico, mà ông coi là tham vọng giành "vinh quang quân sự - cây cầu vồng đẹp đẽ đó, xuất hiện sau những cơn mưa máu" của Tổng thống Polk. Bên cạnh cách nói hùng biện đó, ông cũng trực tiếp phản đối tuyên bố biên giới Texas của Polk.Lincoln là một trong 82 thành viên Đảng Whig đánh bại 81 thành viên Dân chủ trong một cuộc bầu cử thủ tục tháng 1 năm 1848 về việc sửa đổi nhằm gửi ngược lại một nghị quyết thông thường cho ủy ban với những hướng dẫn để ủy ban thêm vào câu sau "...một cuộc chiến tranh không cần thiết và phi hiến đã bắt đầu bởi Tổng thống Hoa Kỳ". Việc sửa đổi được thông qua, nhưng dự luật không bao giờ được ủy ban tái đề xuất và từ đó cũng không bao giờ được bỏ phiếu thông qua lần cuối.Lincoln đã mất một phần uy tín sau bài phát biểu quá khích trước Hạ viện. Ông tuyên bố, "Chúa trời đã quên không bảo vệ những kẻ yếu ớt và vô tội, và đã cho phép những băng đảng giết người cũng những tên quỷ sứ từ địa ngục giết hại đàn ông, phụ nữ và trẻ em, đưa rác rưởi và sự cướp bóc tới miền đất của sự công bằng". Chỉ hai tuần sau, Polk đã gửi một hiệp ước hòa bình tới Hạ viện. Không ai ở Washington có bất kỳ chú ý nào tới Lincoln, nhưng những thành viên Dân chủ đã tổ chức một cuộc phản đối tại quê hưởng ông, nơi chiến tranh được ủng hộ và nhiều người dân tình nguyện ra trận. Tại Hạt Morgan, các nghị quyết được thông qua theo chiều hướng ủng hộ chiến tranh và sự lên án đầy thịnh nộ trước "những cuộc tấn công phản nghịch của những tên du kích trong nước; những đảng mị dân;" những kẻ vu khống Tổng thống, những kẻ bảo vệ sự giết chóc tại Alamo, những kẻ phỉ báng tinh thần anh dũng tại San Jacinto. Đối tác pháp luật của Lincoln là William Herndon đã cảnh báo ông rằng sự chống đối đang tăng lên và uy tín của ông đang giảm sút không thể cứu chữa; chính Lincoln cũng thất vọng, và ông đã quyết định không ra tái tranh cử. Trong cuộc bầu cử mùa thu năm 1848 ông đã cổ vũ mạnh mẽ cho Zachary Taylor, vị tướng thành công nhưng từng bị ông tố cáo những hành động tàn ác trong tháng 1. Những cuộc tấn công của Lincoln về phía Polk sẽ lại quay trở lại trong cuộc Nội Chiến. [Beveridge 1: 428-33] Nội các đang được thành lập của Taylor trao cho Lincoln chức Thống đốc Lãnh thổ Oregon xa xôi. Chấp nhận điều này đồng nghĩa với việc chấm dứt công việc của ông tại bang Illinois đang phát triển nhanh chóng, vì thế ông đã từ chối. Lincoln quay trở lại Springfield, ông ngừng các hoạt động chính trị và quay sang kiếm sống với nghề luật sư, nghề này mang lại cho ông nhiều chuyến đi dài trên lưng ngựa từ hạt này sang hạt khác.
http://diendan.hocmai.vn/showthread.php?t=13184
Đọc thêm!
Abraham Lincoln (12 tháng 2, 1809 – 15 tháng 4 1865), thỉnh thoảng được gọi là Abe Lincoln, tên hiệu Honest Abe, Rail Splitter, Người giải phóng vĩ đại, là một chính trị gia Hoa Kỳ, là tổng thống thứ 16 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (1861 đến 1865), và là tổng thống đầu tiên thuộc Đảng cộng hoà. Lincoln phản đối sự mở rộng chế độ nô lệ và điều hành đất nước trong thời gian diễn ra Nội chiến Mỹ. Ông lựa chọn các tướng lĩnh và thông qua chiến lược của họ, lựa chọn các quan chức dân sự cao cấp; giám sát chính sách ngoại giao, điều hành các hoạt động chính phủ; hướng dẫn dư luận quần chúng thông qua các bức thư, bài phát biểu như bài diễn văn Gettysburg nổi tiếng; và nhận trách nhiệm cá nhân về những kế hoạch xoá bỏ chế độ nô lệ và tái thiết đất nước. Ông bị ám sát khi cuộc nội chiến chấm dứt, trở thành một người tử vì đạo và một biểu tượng của chủ nghĩa quốc gia Hoa Kỳ.
1_Tóm tắt tiểu sử
Lincoln thuộc mẫu người tự lập. Tự học, ông trở thành một luật sư hàng đầu tại Illinois. Ông là lãnh đạo Đảng Whig (và đã đại diện cho Đảng tại Hạ viện trong một nhiệm kỳ). Khi vấn đề về chế độ nô lệ xảy ra năm 1854, ông góp phần tạo dựng Đảng Cộng hoà mới và trở thành lãnh đạo tại Illinois. Lincoln phản đối lao động Nô lệ và kiên quyết khước từ mở rộng chế độ nô lệ ra thêm trong liên bang. Những cuộc tranh luận của ông với lãnh đạo Đảng Dân chủ Stephen Douglas năm 1858 khiến ông được cả nước biết tới, và với tư cách ứng cử viên ôn hòa miền tây ông đã chiến thắng trong cuộc chạy đua vào chân ứng cử viên tổng thống năm 1860. Chiến thắng của ông trong cuộc Bầu cử tổng thống Hoa Kỳ, 1860 là giọt nước làm tràn ly đối với phương Nam, nơi bảy bang quyết định ly khai, thành lập lên Liên hiệp các bang miền Nam, và chiếm quyền kiểm soát các pháo đài cũng như tài sản khác của Hoa Kỳ bên trong biên giới của họ, tạo bước khởi đầu dẫn tới cuộc Nội chiến Mỹ.
Lincoln thường được ca tụng vì tài năng lãnh đạo của ông trong cuộc chiến; những lời phát biểu với dân chúng, nổi tiếng nhất là Gettysburg Address, đã định nghĩa những vấn đề chiến tranh và giúp tái xác định hình ảnh của chính nước Mỹ. Ông đã chứng minh khả năng khi thay thế các tướng lĩnh kém tài bằng những người giỏi giang hơn, và cuối cùng đã tìm ra vị tướng đích thực Ulysses S. Grant. Khi lãnh đạo Đảng Cộng hoà, ông giữ mọi bè phái liên hiệp với nhau và tìm kiếm những sự ủng hộ mới từ War Democrats, thậm chí khi những kẻ thù chính trị ghê gớm nhất của ông gọi ông là độc tài tàn nhẫn. Lincoln phải đàm phán giữa những lãnh đạo phe Cấp tiến phe Ôn hòa Cộng hoà, những người thường bất đồng quan điểm về các vấn đề nô lệ. Ông đích thân chỉ huy các hoạt động chiến tranh, hợp tác chặt chẽ trong giai đoạn (1864-65) với Tướng Grant, người đã buộc lực lượng quân đội chính của tướng Robert E. Lee chấp nhận đầu hàng vào tháng 4 năm 1865.
Khả năng lãnh đạo của ông được minh chứng rõ rệt khi ông giải quyết khôn khéo vấn đề biên giới các bang nô lệ khi cuộc chiến mới bùng phát, khi đánh bại một nỗ lực vận động nghị viện nhằm tái tổ chức lại chính phủ của ông năm 1862, khi những lời tuyên bố, những bài viết của ông giúp tập hợp và truyền cảm hứng cho dân chúng miền Bắc, khi ông góp phần làm giảm những nỗi đau thời hậu chiến trong chiến dịch tranh cử tổng thống năm 1864. Những kẻ thù chính trị chỉ trích ông đã vi phạm Hiến pháp, vượt quá quyền lực hành pháp, từ chối thỏa hiệp về vấn đề nô lệ, tuyên bố thiết quân luật, đình chỉ lệnh đình quyền giam giữ, ra lệnh bắt giữ 18,000 người đối lập gồm cả các quan chức đảng cộng hòa và các nhà xuất bản, giết hại hàng trăm nghìn binh sĩ trẻ trong cuộc chiến. Phe Cấp tiến Cộng hoà chỉ trích ông hành động quá chậm chạp khi xóa bỏ chế độ nô lệ, và không đủ cứng rắn đối với những người miền Nam đã đầu hàng.
Lincoln nổi tiếng nhất với vai trò gìn giữ Hợp chủng quốc và chấm dứt chế độ nô lệ tại Hoa Kỳ với bản Tuyên ngôn Giải phóng và việc Sửa đổi thứ mười ba Hiến pháp Hoa Kỳ.
Các nhà sử học đã có ý kiến rằng Lincoln có tầm ảnh hưởng lâu dài trên chính trị và các định chế xã hội Hoa Kỳ, đặc biệt đã đặt ra tiền lệ cho việc tập trung hóa quyền lực ở mức độ cao hơn vào tay chính phủ liên bang và giảm bớt quyền lực các cá nhân bên trong chính phủ liên bang.
Lincoln hầu như dồn mọi chú ý của mình vào các vấn đề chính trị và quân sự, nhưng nhờ sự ủng hộ mạnh mẽ của ông, chính phủ đá thành lập ra hệ thống các ngân hàng quốc gia với Đạo luật Ngân hàng Quốc gia như ngày nay. Chính phủ của ông cũng đã tăng thuế để tăng nguồn thu, đặt ra luật thuế thu nhập đầu tiên, phát hành hàng trăm triệu dollar khế ước và những đồng tiền giấy đầu tiên, khuyến khích người nhập cư từ Châu Âu, khởi động dự án đường sắt liên lục địa, lập ra Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, Bộ nông nghiệp, khuyến khích quyền sở hữu trang trại với Đạo luật ấp trại năm 1862, và lập ra hệ thống các trường đại học hiện đại với Đạo luật các trường Đại học Morrill Land-Grant. Trong thời gian chiến tranh, bộ Ngân khố của chính phủ đã quản lý rất hiệu quả mọi hoạt động mua bán bông tại những vùng miền Nam chiếm đóng —công việc quản lý kinh tế hiệu quả nhất của liên bang. Vùng li khai West Virginia và vùng Nevada không dân chúng được chấp nhận thành các bang mới của quốc gia làm nhằm tăng đa số Cộng hòa bên trong Thượng viện Hoa Kỳ.
Lincoln luôn được xếp hạng là một trong số hai hay ba tổng thống vĩ đại nhất. Tầm quan trọng của ông xuất phát từ vai trò trong việc xác định các vấn đề to lớn, tổ chức và giành chiến thắng trong cuộc nội chiến, tiêu diệt chế độ nô lệ, tái định nghĩa quốc gia. Việc ông bị ám sát khiến ông trở thành một người tử vì đạo trong trái tim với hàng triệu người Mỹ.
2_Lincoln trước năm 1854
Abraham Lincoln sinh ngày 12 tháng 2, 1809, cùng ngày sinh với Charles Darwin. Lincoln sinh ra trong một căn nhà gỗ một phòng nhỏ tại Trang trại Sinking Spring rộng 348 acre (1.4 km²) ở phía đông nam Quận Hardin, Kentucky, khi ấy còn bị coi là biên giới (nay là một phần của Quận LaRue, ở Nolin Creek, cách Hodgenville 3 dặm (5km) và là con của Thomas Lincoln cùng Nancy Hanks. Lincoln được đặt theo tên người ông đã mất, ông của Lincoln đã bị lột da đầu năm 1786 trong một cuộc tấn công của người da đỏ. Ông không có tên đệm. Cha mẹ Lincoln là những người nông dân thất học và mù chữ. Khi Lincoln đã trở nên nổi tiếng, những nhà báo và những người viết truyện đã thổi phồng sự nghèo khổ và tối tăm của ông khi ra đời. Tuy nhiên, Thomas Lincoln là một công dân khá có ảnh hưởng ở vùng nông thôn Kentucky. Ông đã mua lại Trang trại Sinking Spring vào tháng 12 năm 1808 với giá $200 tiền mặt và một khoản nợ. Trang trại này hiện được bảo tồn như một phần của Địa điểm di tích lịch sử quốc gia nơi sinh Abraham Lincoln. Cha mẹ ông theo một phái nhà thờ Baptisti, vốn đã bị trục xuất khỏi nhà thờ lớn hơn vì họ đã từ chối ủng hộ chế độ nô lệ. Từ khi còn rất nhỏ, Lincoln đã thể hiện tình cảm chống chế độ nô lệ. Tuy nhiên, ông không theo tôn giáo của cha mẹ, hay bất kỳ một tôn giáo nào khác, lúc nhỏ ông thường chế giễu tôn giáo.
Ba năm sau khi mua trang trại, một người chủ đất trước đó đưa hồ sơ ra trước Toà án Hardin Circuit buộc gia đình Lincoln phải chuyển đi. Thomas theo đuổi vụ kiện cho tới khi ông bị xử thua năm 1815. Những chi phí kiện tụng khiến gia cảnh càng khó khăn thêm. Năm 1811, họ thuê được 30 acres (0.1 km²) trong trang trại Knob Creek rộng 230 acre (0.9 km²) cách đó vài dặm, nơi họ sẽ chuyển tới sống sau này. Nằm trong lưu vực Sông Rolling Fork, đó là một trong những nơi có đất canh tác tốt nhất vùng. Khi ấy, cha Lincoln là một thành viên được kính trọng trong cộng đồng và là một nông dân cũng như thợ mộc tài giỏi. Hồi ức sớm nhất của Lincoln bắt đầu có ở trang trại này. Năm 1815, một nguyên đơn khác tìm cách buộc gia đình Lincoln phải rời trang trại Knob Creek. Nản chí trước sự kiện tụng cũng như không được các toà án ở Kentucky bảo vệ, Thomas quyết định đi tới Indiana, nơi đã được chính phủ liên bang khảo sát, nên quyền sở hữu đất đai cũng được bảo đảm hơn. Có lẽ những giai đoạn tuổi thơ ấy đã thúc đẩy Abraham theo học trác địa và trở thành một luật sư.
Năm 1816, khi Lincoln lên bảy, ông và cha tới Quận Spencer, Indiana; ông lý giải hành động này "một phần vì quan điểm với vấn đề nô lệ" và một phần vì những khó khăn kinh tế ở Kentucky. Năm 1818, mẹ Lincoln qua đời vì "milk sickness" ở tuổi ba tư, khi ông mới chín tuổi. Một thời gian ngắn sau đó, cha Lincoln cưới Sarah Bush Johnston. Sarah Lincoln đã dạy dỗ chú bé Lincoln như con mình. Nhiều năm sau này bà đã so sánh Lincoln với những người con riêng của mình và nói "Cả hai đều là những đứa trẻ ngoan, nhưng tôi phải nói rằng – vì cả hai đứa đều đã chết, nên Abe là đứa trẻ tuyệt nhất tôi từng thấy và hi vọng được thấy." (Lincoln, by David Herbert Donald, 1995)
Năm 1830, sau những khó khăn kinh tế và tranh chấp đất đai ở Indiana, gia đình họ định cư trên một khu đất của chính phủ do cha Lincoln lựa chọn tại Quận Macon, Illinois. Mùa đông năm sau đặc biệt khắc nghiệt, và gia đình họ hầu như sắp phải quay trở lại Indiana. Khi cha ông tái định cư gia đình ở một khu đất gần đó vào năm sau, Lincoln khi ấy đã 22 tuổi quyết định khám phá một mình, đi canô dọc Sông Sangamon tới Quận Sangamon, Illinois, ở làng New Salem. Cuối năm ấy, được một thương gia ở New Salem là Denton Offutt thuê, cùng vài người bạn ông mang hàng hoá từ New Salem đến New Orleans bằng bè trên các con sông Sangamon, Illinois và Mississippi. Trong khi ở New Orleans, có lẽ ông đã chứng kiến một phiên bán đấu giá nô lệ để lại những ấn tượng không thể gột sạch trong tâm trí trong cả cuộc đời còn lại. Dù trên thực tế ông có chứng kiến một phiên đấu giá nô lệ vào thời điểm ấy hay không, cuộc sống ở vùng nông thôn với sự hiện diện của nhiều nô lệ có lẽ cũng mang lại cho ông nhiều ví dụ tàn ác tương tự diễn ra hàng ngày.
Thời gian theo học thực sự của ông có lẽ chỉ kéo dài 18 tháng do các giáo viên không chuyên nghiệp dạy. Trên thực tế ông là người tự học, đọc mọi cuốn sách có thể mượn được. Ông thông thạo Kinh thánh, các tác phẩm của William Shakespeare, lịch sử Anh và lịch sử Mỹ, và học được phong cách trình bày giản dị trước thính giả. Ông không thích câu cá và săn bắn vì không muốn giết hại bất cứ một con vật nào kể cả để làm thực phẩm dù ông rất cao và khoẻ, ông dành nhiều thời gian đọc sách tới nỗi những người hàng xóm cho rằng ông cố tình làm vậy để tránh phải làm việc chân tay nặng nhọc. Ông giỏi dùng rìu (vì thế có tên hiệu "người xẻ gỗ"), ông cũng là một đô vật cừ.
a-Khởi nghiệp
Lincoln bắt đầu nghề nghiệp chính trị năm 1832 khi 23 khi chạy đua vào Quốc hội bang Illinois với tư cách thành viên Đảng Whig. Cương lĩnh tranh cử của ông là tiến hành những cải cách đường thuỷ trên Sông Sangamon với hy vọng thu hút vận tải bằng tàu hơi nước trên sông, điều này cho phép những vùng nghèo khó, dân cư thưa thớt dọc hai bên bờ sông phát triển thịnh vượng. Ông giữ chức đại uý trong một đại đội dân quân Illinois được thành lập ở New Salem trong Chiến tranh Black Hawk, dù ông chưa bao giờ tham chiến. Sau khi trúng cử ông đã viết thư cho những người bạn nói rằng ông chưa từng có "bất kỳ thành công nào đáng hài lòng như vậy trong cuộc sống."
Ông điều hành một cửa hiệu nhỏ trong một thời gian ngắn ở New Salem, Illinois. Sau khi đọc xong tập hai bộ sách bốn tập Bình luận luật pháp Anh của Ngài William Blackstone, ông đã tự học luật và được nhận vào Hội luật gia bang Illinois năm 1837. Cùng năm ấy, ông rời tới Springfield, Illinois, và bắt đầu làm nghề luật với Stephen T. Logan. Ông trở thành một trong những luật sư thành công và được kính trọng nhất ở Illinois với con đường sự nghiệp ngày càng rộng mở. Lincoln tham gia bốn nhiệm kỳ liên tục trong Hạ viện Illinois, với tư cách đại diện Đảng Whig thuộc Quận Sangamon, bắt đầu từ năm 1834. Ông trở thành một lãnh đạo Đảng Whig trong cơ quan lập pháp. Năm 1837, lần đầu tiên ông đứng ra chống lại chế độ nô lệ tại Quốc hội Illinois, cho rằng chế độ này đã “được lập lên một cách bất công và là một chính sách tồi”.
Năm 1837 Lincoln gặp người bạn thân nhất của mình Joshua Fry Speed, họ cùng sống với nhau trong bốn năm. "...rất khó để nói rằng ông là người bạn thân duy nhất — bởi vì rõ ràng ông là người bạn cuối cùng — Lincoln từng có."(Nicolay và Hay) Khi Speed cưới vợ tháng 2 năm 1842, từ Springfield Lincoln đã viết: "Hiện tại, tôi cảm thấy ghen tị với cả hai người, các bạn sẽ dành hết sự quan tâm cho nhau, tới mức chẳng còn chút nào dành cho tôi nữa."(Tuyển chọn các bài viết của Lincoln, Basler(ed))
Năm 1842, Lincoln viết một loạt các bức thư vô danh được đăng trên tờ Sangamo Journal, chế giễu nhân vật danh tiếng của Đảng Dân chủ và là Kiểm toán viên nhà nước James Shields. Khi Shields khám phá ra chính Lincoln là tác giả của những bức thư đó, ông đã thách đấu với Lincoln. Bởi vì Shields là người thách đấu, Lincoln được lựa chọn vũ khí và ông đã chọn loại "Kiếm kỵ binh cỡ lớn nhất." Lincoln cao, tay dài hơn nên có ưu thế rõ rệt; cuộc thách đấu đã bị hủy bỏ vào giây phút cuối cùng.
Năm 1841, Lincoln hành nghề luật cùng William Herndon, một người bạn trong Đảng Whig. Năm 1856, hai người tham gia Đảng Cộng hoà. Sau khi Lincoln chết, Herndon bắt đầu sưu tập các câu chuyện về Lincoln từ những người từng biết ông ở Illinois, và xuất bản chúng trong cuốn Lincoln của Herndon.
b-Gia đình
Ngày 4 tháng 11, 1842, khi 33 tuổi, Lincoln cưới Mary Todd. Họ có bốn người con.
* Robert Todd Lincoln (1 tháng 8, 1843 - 26 tháng 7, 1926): sinh tại Springfield, Illinois, mất tại Manchester, Vermont.
* Edward Baker Lincoln (10 tháng 3, 1846 - 1 tháng 2, 1850): sinh và mất tại Springfield.
* William Wallace Lincoln (21 tháng 12, 1850 - 20 tháng 2, 1862): sinh tại Springfield và mất tại Washington, D.C.
* Thomas "Tad" Lincoln (4 tháng 4, 1853 - 16 tháng 7, 1871): sinh tại Springfield và mất tại Chicago.
Chỉ Robert sống được tới tuổi trưởng thành. Robert có ba con và ba cháu. Không một ai trong số cháu của ông có con, vì thế dòng dõi Lincoln chấm dứt khi Robert Beckwith (cháu trai của Lincoln) chết ngày 24 tháng 12, 1985.
2_Làm chính trị tại Illinois
Năm 1846, Lincoln trúng cử một nhiệm kỳ Hạ viện Mỹ. Là một đảng viên trung thành của Đảng Whig, Lincoln thường coi lãnh đạo đảng Henry Clay là thần tượng chính trị của mình. Vì là thành viên lần đầu vào Hạ viện, Lincoln không có nhiều quyền lực hay ưởng hưởng tại đó. Ông đã lên tiếng chống lại cuộc chiến tranh với Mexico, mà ông coi là tham vọng giành "vinh quang quân sự - cây cầu vồng đẹp đẽ đó, xuất hiện sau những cơn mưa máu" của Tổng thống Polk. Bên cạnh cách nói hùng biện đó, ông cũng trực tiếp phản đối tuyên bố biên giới Texas của Polk.Lincoln là một trong 82 thành viên Đảng Whig đánh bại 81 thành viên Dân chủ trong một cuộc bầu cử thủ tục tháng 1 năm 1848 về việc sửa đổi nhằm gửi ngược lại một nghị quyết thông thường cho ủy ban với những hướng dẫn để ủy ban thêm vào câu sau "...một cuộc chiến tranh không cần thiết và phi hiến đã bắt đầu bởi Tổng thống Hoa Kỳ". Việc sửa đổi được thông qua, nhưng dự luật không bao giờ được ủy ban tái đề xuất và từ đó cũng không bao giờ được bỏ phiếu thông qua lần cuối.Lincoln đã mất một phần uy tín sau bài phát biểu quá khích trước Hạ viện. Ông tuyên bố, "Chúa trời đã quên không bảo vệ những kẻ yếu ớt và vô tội, và đã cho phép những băng đảng giết người cũng những tên quỷ sứ từ địa ngục giết hại đàn ông, phụ nữ và trẻ em, đưa rác rưởi và sự cướp bóc tới miền đất của sự công bằng". Chỉ hai tuần sau, Polk đã gửi một hiệp ước hòa bình tới Hạ viện. Không ai ở Washington có bất kỳ chú ý nào tới Lincoln, nhưng những thành viên Dân chủ đã tổ chức một cuộc phản đối tại quê hưởng ông, nơi chiến tranh được ủng hộ và nhiều người dân tình nguyện ra trận. Tại Hạt Morgan, các nghị quyết được thông qua theo chiều hướng ủng hộ chiến tranh và sự lên án đầy thịnh nộ trước "những cuộc tấn công phản nghịch của những tên du kích trong nước; những đảng mị dân;" những kẻ vu khống Tổng thống, những kẻ bảo vệ sự giết chóc tại Alamo, những kẻ phỉ báng tinh thần anh dũng tại San Jacinto. Đối tác pháp luật của Lincoln là William Herndon đã cảnh báo ông rằng sự chống đối đang tăng lên và uy tín của ông đang giảm sút không thể cứu chữa; chính Lincoln cũng thất vọng, và ông đã quyết định không ra tái tranh cử. Trong cuộc bầu cử mùa thu năm 1848 ông đã cổ vũ mạnh mẽ cho Zachary Taylor, vị tướng thành công nhưng từng bị ông tố cáo những hành động tàn ác trong tháng 1. Những cuộc tấn công của Lincoln về phía Polk sẽ lại quay trở lại trong cuộc Nội Chiến. [Beveridge 1: 428-33] Nội các đang được thành lập của Taylor trao cho Lincoln chức Thống đốc Lãnh thổ Oregon xa xôi. Chấp nhận điều này đồng nghĩa với việc chấm dứt công việc của ông tại bang Illinois đang phát triển nhanh chóng, vì thế ông đã từ chối. Lincoln quay trở lại Springfield, ông ngừng các hoạt động chính trị và quay sang kiếm sống với nghề luật sư, nghề này mang lại cho ông nhiều chuyến đi dài trên lưng ngựa từ hạt này sang hạt khác.
http://diendan.hocmai.vn/showthread.php?t=13184
Đọc thêm!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)