Kính lạy Đức Chúa Trời! Con nhận biết con là người có tội cần được sự tha thứ. Con tin chắc rằng Đức Chúa Giê-su đã giáng thế, sống một cuộc đời hoàn hảo, và chịu chết đền tội cho con trên thập tự giá, Ngài cũng đã sống lại để con được sự sống vĩnh cửu. Con xin ăn năn mọi tội lỗi và đặt lòng tin nơi Chúa ngay giờ này. Con xin Chúa ngự vào lòng con để hướng dẫn con trên bước đường theo Chúa. Con tạ ơn Chúa và cầu nguyện nhân danh Đức Chúa Cứu Thế Giê-su. Amen.
Chủ Nhật, 8 tháng 9, 2013
Margaret Thatcher, Một Nữ Chính Trị Gia, Một Cơ Đốc Nhân Yêu Chúa
Baroness Margaret Thatcher hưởng thọ 87 tuổi, từng là nhà lãnh đạo của những quan điểm mạnh mẽ và phần lớn những điều ấy bắt nguồn từ niềm tin Cơ Đốc.
Bà là con gái của Alfred Roberts, một tôi tớ Chúa thuộc Hội Thánh Giám Lý, và quan điểm chính trị của bà được định hình cách đáng kể trong niềm tin Cơ Đốc.
Hai yếu tố này hòa quyện vào nhau trong bài phát biểu đáng nhớ của bà vào năm 1988 tại Nhà thờ Scotland, những lời phát biểu đáng chú ý của vị chính trị gia giải thích tường tận sự ảnh hưởng mạnh mẽ của nền tảng Cơ Đốc đối với quan điểm chính trị của bà.
Bà đã bắt đầu bài diễn thuyết bằng việc nói với thính giả rằng, bà phát biểu “với tư cách là một Cơ Đốc Nhân cũng như là một chính trị gia” trước khi đi vào chia sẻ rằng Kinh Thánh đưa ra “cách nhìn của vụ trũ, quan điểm đúng đắn để làm việc và nguyên tắc để định hình đời sống kinh tế và xã hội”.
“Chúng ta được nói phải làm việc và sử dụng khả năng của mình để tạo ra của cải vật chất. Sứ đồ Phao-lô cũng viết cho Hội Thánh Tê-sa-lô-ni-ca rằng, ‘Nếu ai không muốn làm việc, thì cũng không nên ăn nữa’. Thật vậy, sự giàu có phong phú bắt nguồn từ chính bản chất của Đấng Tạo Hóa nghe có vẻ hợp lý hơn là sự nghèo nàn,” bà giải thích.
Bà thêm vào: “Chúng ta tuyên xưng đức tin và đến nhà thờ không phải đơn giản vì những điều ích lợi, vì chúng ta muốn cải cách xã hội cùng các phúc lợi đi kèm, hay vì những tiêu chuẩn đạo đức tốt đẹp của tôn giáo, mà bởi vì chúng ta tiếp nhận sự thiêng liêng trong cuộc sống Chúa ban tặng, trách nhiệm cùng sự tự do và sự hi sinh cao cả của Đức Chúa Jesus Christ.
Trong bài phát biểu, bà tin chắc rằng trách nhiệm cá nhân là trung tâm của mọi hoạt động xã hội.
“Bất kỳ thỏa thuận kinh tế, xã hội nào nếu không được thiết lập dựa trên trách nhiệm cá nhân đều chẳng làm được gì ngoài việc trở thành những mối nguy hại,” bà nói.
Những ý tưởng trong bài diễn thuyết được phác thảo trước khi diễn ra sự kiện bầu cử Thủ Tướng Chính Phủ năm 1979. Viết trong tờ Daily Telegraph một năm trước kỳ bầu cử, bà đã nêu lên những hiểu biết của mình về mối quan hệ giữa cá nhân đối với cộng đồng.
“Chúng ta hết thảy đều là các phần chi thể của nhau (và điều này) được thể hiện sống động nhất trong khái niệm Hội Thánh là thân thể của Đấng Christ; từ đây chúng ta hiểu biết được tầm quan trọng của việc phụ thuộc lẫn nhau và phục vụ Chúa, phục vụ người khác của mỗi cá nhân,” bà viết.
Baroness Thatcher death
Baroness Margaret Thatcher là lãnh tụ Đảng Bảo thủ kiêm Thủ tướng Anh từ năm 1979 đến 1990
Bài phát biểu tại Nhà Thờ Scotland không những khẳng định lại sự soi dẫn của Chúa trong quan điểm chính trị của bà mà nó còn tỏ rõ niềm tin của bà rằng di sản đức tin của đất nước Anh đáng được bảo tồn.
“Cơ Đốc Giáo cùng những nền tảng thuộc linh và chuẩn mực về đạo đức là một phần thiết yếu của di sản quốc gia,” bà nói trong đại hội.
“Và tôi tin rằng đây cũng là ước nguyện đại đa số mọi người, muốn di sản này được giữ gìn và nuôi dưỡng. Niềm tin ấy chảy trong huyết quản chúng tôi qua hàng thế kỷ.”
Một trong những câu nói nổi tiếng nhất dành cho các Cơ Đốc Nhân nói riêng cũng như cho mọi người nói chung mà bà phát biểu trên đường đi đến căn nhà số 10 phố Downing (dinh Thủ Tướng Anh) sau khi nhậm chức thủ tướng vào năm 1979 là câu nói dựa theo lời cầu nguyện của Thánh Francis: “Nơi nào có bất hòa, chúng ta có thể mang tới sự hòa hợp. Nơi nào có sai lầm, chúng ta có thể mang tới sự thật. Nơi nào có sự nghi ngờ, chúng ta có thể mang tới niềm tin. Và nơi nào có sự tuyệt vọng, chúng ta có thể mang tới hy vọng.”
Thậm chí sau khi không còn đứng trên cương vị lãnh đạo, nền tảng Cơ Đốc trong quan điểm chính trị của bà vẫn không hề thay đổi.
Trong cuốn sách Statecraft (Nghệ thuật quản lý nhà nước) xuất bản năm 2002 của mình, bà xác quyết niềm tin vào những giá trị Cơ Đốc: “Thực sự, tất cả triết lý chính trị của tôi đều đặt trên nền tảng ấy.”
Phát biểu tại lễ tang của bà, giám đốc điều hành của Hiệp hội Cơ Đốc truyền thống, Colin Bloom nói, đức tin của Thatcher chiếu sáng qua đời sống của bà.
Ông nói: “Người ta nói rằng, trong khi nhiều vị thủ tướng hoạt động như những cánh quạt của thời tiết, bà là tấm biển chỉ đường đáng tin cậy. Di sản bà để lại cho Vương Quốc Anh cùng cả thế giới nhiều không thể đếm được. Lịch sử sẽ cho thấy, trong vòng 60 năm qua, hơn bất kỳ một thủ tướng Anh nào khác, bà đã thay đổi thế giới trở nên tốt đẹp hơn.”
“Bà ấy đặc biệt thích câu nói của John Wesley, người sáng lập Hội Thánh Giám Lý: ‘Kiếm được tất cả những gì bạn có thể, tiết kiệm tất cả những gì bạn có thể, ban cho tất cả những gì bạn có thể.’ Chúng tôi nghĩ đây có lẽ là câu nói thích hợp nên được ghi trên tấm bia kỷ niệm về bà. Nguyện những lời cầu nguyện và ao ước của chúng tôi ở cùng bạn bè và gia quyến của bà.”
Rất nhiều các giám mục, nhà lãnh đạo Cơ Đốc đã gửi đến Margaret Thatcher những lời tri ân; trong số đó có Chủ tịch Hội đồng Giám Lý, mục sư tiến sĩ Mark Wakelin.
Ông nói: “Margaret Thatcher là một con người phức tạp, một nhân vật có tầm ảnh hưởng cực kỳ quan trọng và cũng gây nhiều tranh cãi trong thời kỳ hậu chiến tranh của nền chính trị Anh quốc. Bà đã đánh dấu một cột mốc quan trọng khi trở thành nữ thủ tướng đầu tiên của nước Anh, và khoảng thời gian hoạt động của bà trên căn bản đã thay đổi bản chất của xã hội Anh, đặc biệt là mối quan hệ giữa mỗi cá nhân và nhà nước.
Đối với nhiều người, bà là nhà lãnh đạo dũng cảm và đầy tâm huyết, một trong số những chính trị gia Anh quốc nổi tiếng nhất trên toàn thế giới - tinh thần trách nhiệm cá nhân trong niềm tin của bà khiến nhiều người phải khâm phục.
Oneway.vn: Thật tạ ơn Chúa vì Chúa vẫn dùng nhiều người theo cách riêng của Ngài. Kinh thánh 1 Ti-mô-thê 2:1-3 có chép: “Vậy, trước hết mọi sự ta dặn rằng, phải khẩn nguyện, cầu xin, kêu van, tạ ơn cho mọi người, cho các vua, cho hết thảy các bậc cầm quyền, để chúng ta được lấy điều nhân đức và thành thật mà ở đời cho bình tịnh yên ổn. Ấy là một sự lành và đẹp mắt Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa chúng ta.” Nguyện xin Chúa ban ơn, trí, sức để mỗi một chúng ta kết quả cho Chúa và sử dụng cuộc đời của mình làm Chúa vui lòng.
Theo Christiantoday.com (Susie Turner) – Lêvi biên dịch
Đọc thêm!
Margaret Thatcher's letter to nine-year-old boy about Jesus
When Margaret Thatcher wrote to a young boy 32 years ago admitting that she would “never be perfect” she could not have imagined her words would live on after her death.
But the handwritten letter to nine-year-old, David Liddelow, in which the former Prime Minister spoke of her Christian faith, has taken centre stage at her funeral in Paul’s Cathedral.
The note, written in April 1980, less than a year into her premiership, was read from the pulpit by the Bishop of London, the Rt Rev Richard Chartres, during his sermon at the service.
He hailed it as an example of her ability, even while in power, to “reach out” to the young and those not always deemed “important”.
But it also gives a glimpse of her personal religious faith, grounded in the Methodism of her parents.
She spoke of constantly striving to live up to an ideal and “trying even harder” to follow the “perfect example” she said she found in Jesus.
Its tone contrasts dramatically with that adopted by other politicians, summed up by Tony Blair’s chief Downing Street spin doctor Alastair Campbell years later when he said: “We don’t do God.”
David, a vicar’s son from Hertfordshire, had written to Mrs Thatcher to ask her whether she had ever sinned.
“Last night when we were saying prayers, my daddy said everyone has done wrong things except Jesus,” he wrote.
“I said I don’t think you have done bad things because you are the Prime Minister.
“Am I right or is my daddy?”
His question prompted laughter from the congregation when it was read out by the bishop.
But to the amazement of Mr Liddelow, who now lives in Australia and works as a quantity surveyor, she wrote back to him remarking: “What a difficult question you ask, but I will try to answer it.”
She went on: “However good we try to be, we can never be as kind, gentle and wise as Jesus. “There will be times when we do or say something we wish we hadn’t done and we shall be sorry and try not to do it again.
“We do our best but our best is not as good as his daily life.
“If you and I were to paint a picture, it wouldn’t be as good as the picture of great artists. So our lives can’t be as good as the life of Jesus.”
“As Prime Minister I try very hard to things right and because Jesus gave us a perfect example I try even harder.
“But your father is right in saying that we can never be perfect as he was.”
“I think it showed that the Iron Lady had a warm heart,” said Mr Liddelow, speaking last week.
“I remember being amazed and surprised that the Prime Minister, who was so important with such a busy life, still found the time to send a two-page, handwritten letter to a young boy and to tell him what his Dad had said was right.”
Mr Liddelow’s father, the Rev Peter Liddelow, 80, said: “The first I knew was when I watched the service.
"But minutes after the broadcast a letter arrived from the Bishop of London saying that he was going to use it and asking what David is doing now.”
Rev Liddelow explained that his son had also written to the Queen and the then Archbishop of Canterbury, Robert Runcie, who had also replied but that Mrs Thatcher’s had by far the most detail.
He explained that it had begun when he was been speaking with his son at bedtime one night in March 1980 about how no-one was perfect and said that everyone had done things which were wrong.
“He said: ‘Surely not the Queen?’ and I said ‘Yes, even the Queen, we’ve all done wrong’,” Rev Liddelow explained.
“Then he said: ‘What about the Prime Minister?’ and then ‘What about the Archbishop of Canterbury?’
“I came down the next morning to go to work and found David sitting at the table and he said ‘I’m writing a letter to the Queen’.
“Then he asked me for three stamps. I didn’t believe that any of them would reply but within a couple of weeks they had all kindly done so.
“I was surprised by all of them but the fact that Mrs Thatcher wrote a two page hand-written letter is amazing, it shows that she had a warm heart.”
The letter first came to attention in 1980 when Rev Liddelow mentioned it in a sermon at his local church.
It featured in an article in the Daily Express at the time and re-emerged last week amid the tributes to Lady Thatcher.
“When I spoke to David I said he probably thought he was safe in Australia … he is probably a little embarrassed to have something from when he was a child suddenly come up for the world to see.”
http://www.telegraph.co.uk/news/politics/margaret-thatcher/10001249/Margaret-Thatchers-letter-to-nine-year-old-boy-about-Jesus.html
Đọc thêm!
Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2013
Thoát chết thần kỳ khi bị cá mập tấn công
(Dân trí) - Một người đàn ông ở bang Florida, Mỹ có thể là người may mắn nhất thế giới sau khi bị cá mập, rắn chuông cắn và thậm chí là sét đánh nhưng vẫn sống sót.
Người đàn ông may mắn là anh Erik Norrie. Hiện Norrie đang được điều trị tại một bệnh viện và đang chờ để phẫu thuật ghép da sau khi bị cá mập cắn.
Chia sẻ với tờ MyFoxTampaBay, Erik Norrie cho biết, vào ngày 29/7 trong khi đi nghỉ cùng gia đình trên đảo Abaco ở Bahamas, anh đã đi đánh cá để kiếm thức ăn cho bữa trưa. Trong lúc đang đứng bắt cá dưới nước thì bất ngờ bị cá mập tấn công.
Đột nhiên tôi cảm thấy cái gì có cắn vào chân tôi. Tôi ngoảnh lại nhìn thì thấy một con cá mập đã cắn vào chân tôi rồi lặn mất, một phần chân của tôi cũng biến mất theo”, Erik Norrie nói.
Vợ của Erik Norrie là chị Spryng Norrie cùng với 4 người con của anh cũng chứng kiến sự việc, Erik Norrie nhanh chóng được sơ cứu băng bó vết thương.
“Đó là sự thật, tôi đã nhìn thấy máu loang lổ ra mặt nước”, chị Spryng Norrie nói.
Một bác sĩ đến từ San Diego cũng có mặt trong kỳ nghỉ đã giúp đỡ Norrie. Sau đó, anh này được chuyển đến bệnh viện khu vực Miami để chữa trị. Erik Norrie phải cấy ghép lại phần da ở chân và cần một thời gian dài mới hồi phục.
Được biết, đây không phải là tai nạn “thập tử nhất sinh” đầu tiên của Norrie. Tước đó, anh cũng đã từng bị sét đánh, bị rắn chuông cắn nhưng may mắn vẫn mỉm cười với anh.
Sau những tai nạn đó, Norrie thực sự cảm ơn Chúa đã mang lại sự may mắn cho anh.
Đình Kiên
Theo Foxnews
Đọc thêm!
Chủ Nhật, 17 tháng 3, 2013
Tìm được chứng cứ cuộc chiến giữa David và Goliath trong Kinh Thánh
Các nhà khảo cổ Israel đã khai quật được hiện vật bằng gốm ở khu vực Tell es - Safi được coi là Tổ quốc xa xưa của những người khổng lồ Goliath ở miền Nam Israel, trên đó có khắc tên của người khổng lồ này.
Giáo sư A-ren Ma-e của Trường đại học Bar ILan cho rằng hiện vật gốm với những chữ khắc trên đó được xác định niên đại vào năm 950 trước Công nguyên đã xác nhận cuộc chiến đấu giữa Goliath và chàng David được mô tả trong Kinh Thánh là có thực và câu chuyện trong Kinh Thánh đã mô tả thực tế văn hóa vào thời điểm lịch sử đó. Niên đại của hiện vật gốm khắc tên Goliath trùng hợp với biên niên sử trong Kinh Thánh khẳng định chàng David tí hon đã chinh phục được người khổng lồ Goliath.
Các nhà khảo cổ Israel cũng xác nhận khu vực Tell es - Safi là thành phố Gath cổ xưa của người Philistines, kẻ thù thời xa xưa của người Do Thái.
TTXVN
Theo Thanh Niên Online
http://www.khoahoc.com.vn/khampha/khao-co-hoc/1217_Tim-duoc-chung-cu-cuoc-chien-giua-David-va-Goliath-trong-Kinh-Thanh.aspx
Đọc thêm!
Tìm thấy kho báu huyền thoại của Nữ hoàng Sheba?
Mới đây, các nhà khảo cổ học đã khám phá ra những manh mối giúp giải quyết bí ẩn về nơi cất giữ số kho báu huyền thoại của Nữ hoàng Sheba từng được mô tả trong Kinh Thánh.
Sử sách ghi lại rằng, gần 3.000 năm trước đây, người cai trị xứ Sheba (kéo dài từ Ethiopia đếnYemen ngày nay) thực hiện chuyến đi tới Jerusalem mang theo cả một đoàn xe và lạc đà chuyên chở rất nhiều vàng bạc, đá quý dành tặng vua Solomon.
Vừa qua, một nhóm nghiên cứu đã phát hiện ra những tàn tích của một mỏ vàng khổng lồ thời cổ đại, một ngôi đền và một bãi chiến trường thuộc lãnh thổ của Nữ hoàng Sheba.
Cuộc khai quật được tiến hành tại cao nguyên Gheralta ở miền bắc Ethiopia. Đầu mối ban đầu nằm trong tấm bia đá cao hơn 6 mét với hình mặt trời và mặt trăng lưỡi liềm – biểu tượng của vùng đất Sheba, nhà khảo cổ học Louise Schofield cho biết. “Ngoài ra, chúng tôi còn tìm thấy một dòng chữ bằng tiếng Sabaean – thứ ngôn ngữ mà Nữ hoàng Sheba thường sử dụng”.
Trên gò đất gần đó, họ cũng phát hiện ra tàn tích của các cột đá được chạm khắc tinh xảo nằm dưới đống đổ nát mà nhiều khả năng từng là một ngôi đền thờ thần mặt trăng - vị thần tối cao của Sheba trong nền văn minh kéo dài 1.000 năm từ thế kỷ thứ 8 trước Công nguyên.
Thời kỳ đó, Sheba là một vương quốc thịnh vượng nhờ vào con đường buôn bán hương liệu với Jerusalem và đế chế La Mã.
Kinh Koran và Kinh Thánh đã mô tả chuyến thăm của Nữ hoàng Sheba tới vương quốc vua Solomon như sau: “Với một đoàn tùy tùng rất lớn, với những con lạc đà mang theo bao nhiêu là hương liệu, vàng, đá quý... Sau đó, Nữ hoàng đã dành tặng cho Đức vua 2500kg vàng và một lượng lớn các loại gia vị”.
Hình ảnh nữ hoàng Sheba đã truyền cảm hứng cho các tác phẩm Kitô giáo thời trung cổ, những bức tranh Thổ Nhĩ Kỳ và Ba Tư, hay cho một số bộ phim Hollywood. Bên cạnh đó, chuyện tình của Nữ hoàng Sheba và vua Salomon cũng được xem là hiện thân của tình yêu bất tử.
Theo Guardian, Đất Việt
Đọc thêm!
Thứ Năm, 3 tháng 1, 2013
Linh hồn có thật sự tồn tại?
Một số nhà khoa học hàng đầu thế giới vừa tuyên bố họ có thể chứng minh được sự tồn tại của linh hồn.
Tiến sĩ Stuart Hameroff – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Ý thức của Đại học Arizona tại Mỹ – và nhà vật lý người Anh Roger Penrose – một chuyên gia về thuyết lượng tử – khẳng định rằng linh hồn con người được chứa bên trong các cấu trúc được gọi là những ống siêu nhỏ của tế bào não.
Ý tưởng của họ được nghiên cứu dựa theo lý thuyết từ năm 1996. Theo hai nhà khoa học này, bộ não được ví như máy tính kết nối thành mạng thông tin với 100 tỉ tế bào thần kinh và những sợi siêu nhỏ liên kết.
Họ cho rằng kinh nghiệm hay ý thức của chúng ta là kết quả của hiệu ứng hấp dẫn lượng tử bên trong các vi ống của tế bào não.
Khi con người cận kề cái chết, các vi ống mất trạng thái lượng tử nhưng những thông tin bên trong chúng không mất đi, hay nói theo cách khác như con người vẫn gọi đó là linh hồn không mất đi mà trở lại với vũ trụ.
Tiến sĩ Hameroff giải thích: “Khi máu ngừng chảy, tim ngừng đập, vi ống sẽ mất trạng thái lượng tử của nó. Nhưng các thông tin lượng tử trong nó không bị tiêu diệt, nó không thể bị phá hủy, nó chỉ phân phối lại trong vũ trụ rộng lớn. Nếu bệnh nhân sống lại hay còn gọi là được hồi sinh, những thông tin này sẽ trở lại trong vi ống và bệnh nhân nói: “Tôi có cảm giác như cận kề cái chết”.
“Còn nếu trong trường hợp bệnh nhân đó tử vong, thông tin lượng tử này có thể tồn tại bên ngoài cơ thể một cách vô hạn và người ta vẫn gọi đó là linh hồn” – ông Hameroff cho biết thêm.
Công bố mới này của hai nhà nghiên cứu này đang gây ra tranh cãi gay gắt trong giới khoa học khắp thế giới.
Tuy nhiên, hai nhà khoa học này tin rằng những phát hiện mới về vai trò của lượng tử trong quá trình sinh học như quang hợp, thở hay sự định hướng của loài chim là một bằng chứng đầy thuyết phục cho lý thuyết của họ.
Linh San (NLD)
http://chutichhochiminh.net/linh-hon-co-that-su-ton-tai.html
Đọc thêm!
Thứ Tư, 23 tháng 5, 2012
THỰC TRẠNG TIN LÀNH Ở TÂY NGUYÊN
Đinh Văn Hạnh
LTS - Trong một lần về thăm quê, tôi được thân phụ giới thiệu bài viết này. Nguyên bài viết này của tác giả Đinh Văn Hạnh, đăng ở trang 22-25 của Tạp chí Xưa và Nay, thuộc Cơ Quan Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam, Số 370 Tháng 12/2010. Bài viết mô tả và đánh giá tình hình thực trạng của các tôn giáo ở Tây Nguyên đặc biệt là Tin Lành. Đây là một trong các bài viết hiếm hoi về Tin Lành trên trang báo ở Việt Nam. Bài viết có những số liệu cụ thể và sinh động về quyền phép của Đức Chúa Trời đang hành động ở Tây Nguyên. Hy vọng bài viết sẽ giúp các Cơ Đốc nhân và mọi người có cái nhìn đúng đắn về Tin Lành của Đấng Christ. Chúng tôi mong muốn mang lại những thông tin bổ ích và khích lệ cho các đầy tớ Chúa đã, đang, và sẽ hầu việc Chúa tại Tây Nguyên. (vietcampus.net)
Trước đây, khi cách dân tộc thiểu số Tây Nguyên sống gần như biệt lập với thế giới bên ngoài họ đều thờ đa thần với vô số nghi lễ cúng thần. Mọi sự vật, hiện tượng tự nhiên đều gắn liền với thần linh. Cồng chiêng cũng là vật thiêng mà trong chúng đều có thần linh trú ngụ. Tiếng chiêng là thanh âm kết nối cuộc sống thực tại của con người với thế giới thiêng liêng của thần linh. Bởi vậy, lễ nghi, tín ngưỡng truyền thống của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên chính là linh hồn cho sự tồn tại sống động của Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Nhưng tình hình đó đã có nhiều thay đổi. Sự du nhập của các tôn giáo thế giới vào cộng đồng các dân tộc thiểu số Tây Nguyên đã đưa đến cho họ những quan niệm mới, thay đổi so với quan niệm truyền thống. Mỗi khi quan niệm “nhất thần” đã thay cho lễ nghi đa thần là tiếng cồng, tiếng chiêng cũng thưa dần. Tất nhiên, tùy theo quan niệm, đức tin, đặc điểm cách thức hành đạo của mỗi loại tôn giáo thế giới mà mức độ tác động của nó đối với hệ thống tín ngưỡng, lễ tục truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên cũng khác nhau...
Trước hết, chúng ta có thể quan sát sự phân bố tôn giáo theo tỷ lệ dân cư trên địa bàn Tây Nguyên với sự hiện hữu chủ yếu của Thiên Chúa giáo, Tin Lành, Phật giáo, Cao đài và một số rất ít tôn giáo khác. Đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên chỉ theo Thiên Chúa giáo, Tin Lành hoặc Phật giáo. Họ không theo đạo Cao Đài hay Hòa Hảo. Riêng Đắk Nông cũng không có đồng bào dân tộc thiểu số nào theo Phật giáo.
Nếu như năm 1999, trên địa bàn Tây Nguyên số đồng bào theo Thiên Chúa giáo, Tin Lành, Phật giáo và Cao Đài chiếm 28,4% dân số thì 5 năm sau tỷ lệ đó là 33,9% và cho đến tháng 6-2009, tăng lên 34,9%. Tỷ lệ chung này có tăng nhưng không cao bằng tỷ lệ đó trong đồng bào các dân tộc thiểu số. Năm 1999, tỷ lệ đồng bào dân tộc ít người có đạo (chủ yếu là Thiên Chúa giáo và Tin Lành) chiếm 27,4% tổng số dân tộc có đạo trên địa bàn. 5 năm sau, tỷ lệ đó đã là 34% và chưa đến 5 năm tiếp theo đã chiếm tới 37,9% (trong khi dân số chỉ chiếm 30%)
.
Trong số 5 tỉnh Tây Nguyên, 10 năm trở lại đây là Kon Tum và Lâm Đồng là hai địa phương có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số theo Thiên Chúa giáo và Tin Lành tăng cao nấht, đặc biệt trong giai đoạn 1999-2004. Tỷ lệ đó ở Lâm Đồng còn tiếp tục tăng mạnh trong giai đoạn 2004-2009. Điều này dễ dàng lý giải vì đây là hai địa bàn có tỷ lệ đồng bào thiểu số theo Tin Lành thấp nhất so với ba tỉnh còn lại vốn đã có tỷ lệ rất cao và tăng mạnh từ nhiều năm trước đó.
Khảo sát sự phân bố của ba loại hình tôn giáo chủ yếu trên địa bàn là Thiên Chúa giáo, Tin Lành và Phật giáo chúng ta còn thấy sự chênh lệch rất lớn về tỷ lệ và mức độ phát triển khác nhau của ba tôn giáo này.
Nếu như trên toàn địa bàn Tây Nguyên năm 2004 có 11,9% dân số theo Phật giáo thì năm 2009 giảm xuống còn 11,4%. Tỷ lệ này của đồng bào các dân tộc thiểu số 0,4% cho năm 2004 và 0,6% tại thời điểm tháng 6-2009. Mặc dù tỷ lệ tín đồ theo đạo Phật có tăng trong đồng bào dân tộc thiểu số nhưng vẫn ở mức rất lớn so với Thiên Chúa giáo và nhất là so với Tin Lành. Những con số sau đây không những cho thấy sự chênh lệch mà còn cho thấy mức độ gia tăng đáng kể lượng tín đồ Tin Lành trong các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên trong những năm gần đây. Năm 2004, có 15% dân số trên địa bàn là tín đồ Thiên Chúa giáo, trong đó dân tộc thiểu số chiếm 14,3% trong số ấy. Năm 2009, tỷ lệ tương ứng là 15,9% (số dân trên địa bàn) và 16,2% (đối với các dân tộc thiểu số). Trong khi đó năm 2004, số tín đồ Tin Lành trên địa bàn Tây Nguyên chỉ chiếm 6,5% dân số thì đến năm 2009 tăng lên 7,2% dân số. Điều đáng nói là sự tăng trưởng đó chỉ tập trung trong đồng bào các dân tộc ít người: năm 2004 tín đồ Tin Lành là người dân tộc thiểu số chiếm 19,3% số tín đồ của tôn giáo này, đến năm 2009 tỷ lệ này đã tăng lên 21,1%. Một điểm rất đáng lưu ý nữa là: nếu số tín đồ Thiên Chúa giáo là người dân tộc thiểu số chỉ chiếm 31% thì tỷ lệ đó của đạo Tin Lành là người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ rất cao: Gia Lai 98,3%; Đắk Lắk 90,5%... Như vậy năm 2009 với tổng số 362.689 người theo đạo Tin Lành ở Tây Nguyên thì hầu hết trong số họ là người các dân tộc thiểu số, gấp 6,5 lần số tín đồ Tin Lành trên toàn lãnh thổ Việt Nam vào thời điểm 1954.
Hiện nay, gần ¼ số dân của 11 dân tộc thiểu số Tây Nguyên theo đạo Tin Lành. Nếu cộng cả Thiên Chúa giáo thì tỷ lệ đó là 37,2%.
Một câu hỏi rất được quan tâm đó là vì sao đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên theo đạo Tin Lành nhiều và với tốc độ nhanh như vậy? Chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy câu trả lời trong các tài liệu về mục đích lợi dụng của các thế lực chính trị trong thời kỳ đất nước bị chiến tranh. Nhưng sự lý giải này liện có còn phù hợp khi Tin Lành ở Tây Nguyên phát triển nhanh hơn trong thời kỳ đất nước đã hòa bình và ngay trong thời kỳ thực hiện công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hiện tượng xã hội bao giờ cũng bắt rễ từ chính cơ sở xã hội. Dù ở góc độ tôn giáo học hay văn hóa học, khách quan mà nói, đều không thể phủ nhận sự đáp ứng của tôn giáo này trong đời sống văn hóa, tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Hay nói chính xác hơn, Tin Lành chỉ có thể xâm nhập và phát triển trong cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên khi họ tìm thấy ở tôn giáo này sự phù hợp với quan niệm truyền thống vốn đã ăn sâu ngàn đời trong họ. Không như thế khó có một loại quan niệm thay thế (hay cảm nhận ban đầu có thể làm phai mờ) được “tâm thức cố hữu” của những con người Tây Nguyên bản địa vốn trung thực, chất chân, hiền lành...
Có lẽ cũng cần nói thêm là hãy khoan tìm nguyên nhân trình độ học vấn để trả lời cho lý do vì sao nhiều đồng bào các dân tộc thiểu số theo Tin Lành. Vì một điều tưởng như nghịch lý nhưng lại rất thuận là trình độ học vấn càng thấp con người ta càng bảo thủ, càng nhiều sức ì níu giữ quan niệm, lễ tục quá khứ đã ăn sâu trong máu. Đó là chưa nói hiện nay tỷ lệ người có học, được học ở các dân tộc thiểu số Tây Nguyên cao hơn rất nhiều so với mấy chục năm trước. Một điểm cũng cần lưu ý nữa là những người theo Tin Lành ở Tây Nguyên chủ yếu là lớp trẻ và trung niêm (thế hệ cận kề và tiếp nối bảo tồn và phát huy di sản văn hóa).
Để có cái nhìn khách quan và đầy đủ, hầu mong giải thích thuyết phục hơn về tốc độ phát triển của Tin Lành ở Tây Nguyên cũng như để thấy được sự tác động của tôn giáo này đối với Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên chúng tôi cho rằng không thể không tìm hiểu thêm về Tin Lành từ góc độ nhân học...
Đạo Tin Lành (Phúc Âm/Tin Mừng/Tin tức tốt lành) ra đời ở Tây Âu từ thế kỷ XVI. Nó là kết quả của sự vận động xã hội mà trong đó chủ nghĩa nhân văn đang bùng phát mạnh mẽ (sau đêm trường trung cổ) giữ vai trò chủ đạo với những báo hiệu thay thế của phương thức sản xuất mới, tiên tiến là chủ nghĩa tư bản đang đến với mọi nẻo đường Tây Âu. Đạo Tin Lành du nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX nhưng mãi đến năm 1911, Hội thánh Tin Lành đầu tiên của Việt Nam mới được xây dựng ở Đà Nẵng.
Do quan niệm Tin Lành là kết quả của phong trào cải cách tôn giáo mà cụ thể là cải cách Kitô giáo nên suốt một thời gian dài người ta cho rằng Tin Lành như là một sự phát triển hay một sự “tách ra” của/ từ Thiên Chúa giáo. Trong các tài liệu nghiên cứu cũng như ngay trong giáo trình ở bậc Đại học người ta nhấn mạnh Tin Lành và Thiên Chúa giáo gần như giống nhau hoàn toàn và chỉ khác nhau ở một số điểm, như quy mô về cấu trúc nhà thờ; quan niệm về thờ tượng, ảnh; quan niệm khác nhau về Đức Mẹ Đồng trinh; cách thức thành lập và vị trí của giáo hội cũng như sự khác nhau giữa linh mục và mục sư... (cũng xin nói ngay là những điểm không giống nhau này không đưa lại sự khác biệt của hai tôn giáo này khi đặt nó trước sự tác động đối với lễ tục truyền thống của một cộng đồng mà nó xâm nhập).
Thực ra, Tin Lành không phải là “một nhánh”, “một nhóm” hay đơn thuần chỉ là sự “cải cách” của Thiên Chúa giáo. Cần phải nhìn nhận đúng Tin Lành là sự trở lại Hội Thánh ban đầu thời chúa Giêsu. Tin Lành là sự hành động của những người tin chúa theo đúng tinh thần trong thời kỳ Giêsu xuất hiện (tức thế kỷ đầu Công nguyên). Sở dĩ có sự trở lại đó vì vào cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI người ta đã phát hiện Giáo hội Thiên Chúa giáo La Mã đã làm nhiều điều sau lạc so với Kinh thánh, không theo đúng đường lối chúa, thực hiện không đúng nghi thức thờ phụng và cách thức truyền giảng mà Giêsu đã phán trong Kinh thánh (nhất là từ sau thế kỷ thứ IV)
Đạo Tin Lành tôn trọng tư hữu, đề cao tự do cá nhân (tự do trong đức tin, tâm linh và tự do trong cuộc sống). Điều này đã tạo ra thích ứng và phù hợp với các cộng đồng trong thời kỳ công xã tan rã, là hiệu ứng dễ tiếp nhận trước sự chuyển biến của xã hội Tây Nguyên khi mà kinh tế thị trường đang thay thế dần kinh tế tự cung tự cấp, khép kín của công xã.
Đạo Tin Lành là tôn giáo của tình thương và lòng bác ái (Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết về lòng bác ái đáng trân trọng của Chúa Giêsu). Tín đồ Tin Lành sẵn sàng chia sẻ, tương trợ với những bạn hữu khốn khó và xem đây là một tiêu chí của đời sống đạo. Sự giúp sức, nâng đỡ bằng tinh thần và của cải vật chất đã giúp không ít người vốn còn nhiều khó khăn như đồng bào các dân tộc thiểu số vươn lên cải thiện cuộc sống là điều đã làm cho họ rất quan tâm. Sự giúp đỡ đôi khi dồi dào làm cho người ngoài dễ nghi ngờ thiện chí của hành động đó nên nói khác đi và điều này vô tình tạo ra sự ngăn cách ngày càng lớn vì khác nhau về quan niệm.
Nếu Thiên Chúa giáo bắt buộc phải xưng tội với linh mục, thiên huệ mà chúa ban cho được thông qua giáo hội, thông qua linh mục... thì người theo Tin Lành chỉ ăn năn với chúa và tin tưởng chắc chắn rằng thiên huệ mà chúa ban cho họ là trực tiếp bởi lòng thành và đức tin của họ chứ không phải xin ai và thông qua ai cả. Mọi việc con người, cá nhân Tin Lành tự tương giao với chúa và ơn phước mà họ được chúa ban là trọn vẹn. Với quan niệm sự cứu tinh chỉ đạt được nhờ lòng tin cá nhân và dựa vào ý muốn của Chúa, Tin Lành đã giải phóng nhận thức khỏi những ràng buộc của thế giới đa thần, phân tán quyền năng, thức tỉnh trong họ những tình cảm và tự do cá nhân – cái mà vốn trước đây bị ràng buộc chặt chẽ bởi công xã.
Đạo Tin Lành là một tôn giáo đặc biệt đề cao lý trí trong đức tin (quyền phép của Đức chúa Trời để cứu mọi kẻ tin). Sự cứu rỗi hay nhu cầu giải quyết các nan đề trong cuộc sống chỉ đến bởi đức tin và sự cầu nguyện chứ không phải vì những luật lệ hoài nghi. Vì vậy, cách thức hành đạo Tin Lành đơn giản, không cầu kỳ, rườm rà như các tôn giáo khác. Đây cũng là một điều thuận lợi nữa để Tin Lành dễ dàng phát triển ở Tây Nguyên.
Trong quan niệm truyền thống của đồng bào dân tộc Tây Nguyên, Giàng (tức là Trời) là vị thần tối tượng. Chính quan niệm này đã đưa đến cho họ sự gặp gỡ trong đức tin khi các nhà truyền giáo Tin Lành nói rõ hơn Trời cũng chính là Đức Chúa Trời. Nhưng Chúa Trời là chúa của muôn chúa, là vua của muôn vua, là đấng tể trị. Để nhận được quyền năng và ơn phước của chúa thì phải có đức tin tuyệt đối và trọn vẹn nơi chúa. Đã tin nơi ngài thì việc thờ cúng các thần linh khác không những trở nên thừa mà còn làm mất đi quyền năng và đời sống trong Chúa; không được hưởng ơn phước của chúa. Vì vậy, mỗi khi đã theo Tin lành thì người ta không còn quan tâm đến lễ nhi, đến việc thờ cúng các thần linh khác. Thậm chí nếu còn làm những việc đó thì sẽ phải chịu nhiều khó khăn, thử thách lớn trong cuộc sống. Ngay cả việc làm hình tượng (như tượng nhà Mồ chẳng hạn), thờ hình tượng, các dấu hiệu thần linh trong các nghi lễ... cũng sẽ ảnh hưởng đến đức tin. Theo quan niệm Tin Lành thì hình tượng là các biểu hiện khác nhau của sa tan, ma quỷ mà thôi... (Kinh thánh dạy rằng: “Hình tượng là công việc do tay người làm ra, hình tượng có miệng mà không nói, có tai mà không nghe, có lỗ mũi mà không ngửi, có tay nhưng k3.Như vậy chúng ta có thể thấy khi đồng bào các dân tộc ít người Tây Nguyên chưa có một tôn giáo độc tôn thì sự xuất hiện của Tin Lành mà ở đó người ta tìm thấy lòng yêu thương con người, tinh thần bác ái, sự giúp đỡ cộng đồng và những cảm nhận về quyền năng, phép lạ Chúa giải quyết các vấn đề của cuộc sống con người như một nhu cầu chung thì đó là lý do chính và trước hết để họ đến với Tin Lành. Nhưng với những quy định và quan niệm khắt khe để giữ trọn đức tin nơi Chúa đã tác động đến tập tục, lễ nghi và quan niệm truyền thống cộng đồng. Khi mà gần ¼ đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên không còn tin vào các vị thần linh, không thực hiện các lễ nghi truyền thống, không còn thấy trong cồng chiêng còn có thần linh trú ngụ thì âm thanh cồng chiêng hẳn sẽ “nhỏ hơn” và không gian văn hóa truyền thống của thanh âm ấy khó tránh khỏi bị thu hẹp. Chúng tôi nhấn mạnh chữ “truyền thống” (của không gian văn hóa cồng chiêng) sẽ bị thu hẹp, vì muốn lưu ý rằng văn hóa cồng chiêng sẽ chẳng mất đi. Văn hóa cồng chiêng vẫn tồn tại và phát triển, nhưng vị trí của nó trong đời sống sinh hoạt, đối tượng tín ngưỡng của nó đã được chuyển đổi. Mục đích tâm linh của cồng chiêng cũng không giống truyền thống. Âm thanh cồng chiêng trong cộng đồng Tin Lành là nơi nguyện cầu, chứa đựng ý nghĩa tương giao của người dân với Dức Chúa Trời. Như vậy, cấu trúc lễ hội văn hóa truyền thống đã thay đổi. Đó có thể là một không gian văn hóa cồng chiêng mới bên cạnh một không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên truyền thồng – là di sản văn hóa của nhân loại...
Tin Lành sẽ còn tiếp tục phát triển ở Tây Nguyên, vì những người Tin Lành tin rằng họ đã trở lại đúng với đường lối Chúa ban đầu. Đó cũng là lý do vì sao chúng ta thấy các nhà truyền giáo Tin Lành và bản thân mỗi một tín đồ Tin Lành được xem là người gieo hạt, rất tích cực và đặt nặng nhiệm vụ truyền đạo…
Rằng Tin Lành là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin. Amen!
Đinh Văn Hạnh
Tạp Chí Xưa Và Nay
(vietcampus.net)
Đọc thêm!
Thứ Ba, 15 tháng 5, 2012
HÃY SUY NGHĨ "BẠN LÀM ĐƯỢC!"
Con người không thể chọn lựa họ hàng của mình, nhưng lại có thể chọn lựa suy nghĩ. Lối sống mới, cách suy nghĩ tiên phong đôi khi còn mang lại nguồn của cải vô giá.
Tiến sĩ Bruce Wilkison, tác giả cuốn Lời cầu nguyện của Jabez (The Prayer of Jabez) và Bảy quy tắc dành cho người ham học hỏi (The 7 Laws of the Learner) và nhiều quyển sách bán chạy khác, đã thuật lại câu chuyện về phép nhiệm màu đến từ một lời phê bình có thể làm thay đổi hoàn toàn nhận thức về bản thân mình cũng như thay đổi cả tương lai của ông.
Khi còn theo học trong một trường dòng, Bruce không bao giờ vắng mặt trong tất cả các tiết học có giáo sư Howard Hendricks giảng dạy. Ai cũng biết Howard Hendricks là một giáo sư danh tiếng, một nhà diễn thuyết xuất chúng và là một người huấn luyện kỹ năng lãnh đạo tài ba. Bản thân Bruce rất thần tượng giáo sư Howard và luôn luôn lắng nghe những lời vàng ngọc mà giáo sư dành cho mình. Một ngày nọ, Bruce lấy làm hãnh diện khi nhận lại bài làm của mình với điểm số tuyệt đối là A . Thêm vào đó, Bruce còn cảm thấy vô cùng hạnh phúc khi vị giáo sư đáng kính đã để lại hàng chữ viết như thế này: “Bruce ạ! Tôi tin rằng anh có tiềm năng để trở thành một trong những người thuyết giảng Kinh Thánh vĩ đại nhất của thế hệ mình”.
Khi đọc xong, Bruce rảo bước về nhà, ông cầm bài làm của mình bằng cả hai tay áp vào lồng ngực, nâng niu như thể đó là chén thánh mà anh vừa được ban tặng. Anh phóng lên lầu, lao ngay vào căn hộ của mình và khoe với vợ những gì Tiến sĩ Hendricks đã viết. Và phần còn lại của câu chuyện đã trở thành lịch sử. Bruce Wilkinson đã trở thành một trong những giáo sư đồng thời là nhà thuyết giảng vĩ đại nhất nước Mỹ, không chỉ về Kinh Thánh mà còn về hàng loạt các đề tài khác nữa.
(Câu chuyện được trích từ quyển sách "Vươn tới sự hoàn thiện" do Công ty First News phát hành)
Bài học
Những suy nghĩ tích cực, một lời khen ngợi đúng lúc, một lời khẳng định "bạn làm được" có thể mang lại nguồn năng lượng và sức mạnh lớn lao cho người nhận nó. Nuôi dưỡng niềm đam mê, suy nghĩ "tôi làm được", không ngừng nỗ lực hành động vươn tới mục tiêu, ước mơ của mình, bạn sẽ thực sự đạt được những điều mình mong muốn và thành công trong cuộc sống.
“Chúng ta sẽ trở thành điều mà chúng ta hay nghĩ đến nhất. Cuộc cách mạng vĩ đại nhất của thời đại này là khám phá ra rằng, nhờ thay đổi thái độ từ trong chính nội tâm mà con người có thể thay đổi được cả thế giới bên ngoài.” - William James
Thêm nữa, đừng tiếc lời khen ngợi, động viên những người xung quanh nếu họ xứng đáng nhận những lời ấy và nếu chúng giúp họ mạnh mẽ hơn, vui vẻ hơn, đạt được mục tiêu của mình.
Lời khen ngợi đúng lúc sẽ giúp sưởi ấm và nuôi dưỡng ý chí cho người nhận nó
Quanh bạn sẽ ngập tràn niềm hi vọng, tiếng cười, những lời nói động viên, khích lệ, những điều tốt đẹp cho cuộc sống này. Điều đó không tuyệt vời sao !?
(Cheese Group - Đặng Hồng Quý)
http://cheesegroup.com/vi-vn/1235/4793/Bai-Hoc-Tu-Cheese-Group/Hay-Suy-Nghi-Ban-Lam-Duoc
Đọc thêm!
Thứ Năm, 22 tháng 3, 2012
Hồi trước, ở Nữu Ước, lúc nào rảnh, tôi thường qua sông East River để phiếm đ àm vài giờ thú vị với S Parkes Cadman ở Brooklyn. Ông là một trong những người nổi danh nhất ở Mỹ. Ông giảng đạo trong nhiều năm và là một người tiền phong về phát thanh.
Nếu bạn cho rằng bạn làm không kịp thở thì xin bạn nghe tôi kể những công việc thường ngày của ông.
Bảy giờ sáng ông dậy, trả lời hai chục hoặc ba chục bức thư, viết một ngàn rưỡi chữ cho tờ báo của ông, soạn một bài thuyết giáo, hoặc viết tiếp một cuốn sách, đi thăm năm hay sáu tín đồ, trở về nhà, đọc trọn một cuốn sách mới xuất bản, vậy là xong việc trong ngày đó, và đi ngủ vào khoảng hai giờ sáng. Theo chương trình đó trong bốn mươi tám giờ thì tôi sẽ tối tăm mặt mũi lại, vậy mà ông giữ đúng được hàng tháng, hàng năm! Bạn thử tưởng tượng xem! Có lần tôi hỏi ông làm cách nào. Ông đáp là dễ lắm, chỉ việc dự tính trước công việc.
Ông bảo không đọc thư cho thư ký đánh máy mà đọc trước một máy ghi âm, như vậy mỗi ngày tiết kiệm được một giờ. Ông lại nói chính Gladstone đã cho ông một bài học quý giá về cách làm việc. Khi điều khiển chính sự nước Anh, Gladstone kê bốn cái bàn trong phòng làm việc: một bàn cho các công việc văn học, một bàn cho thư từ, một bàn cho các việc chính trị và một bàn cho những việc nghiên cứu riêng. Gladstone nghĩ rằng thay đổi công việc thì làm việc được nhiều hơn, nên làm ở bàn này một lúc rồi qua bàn khác. Ông Cadman cũng theo đúng vậy, thay đổi công việc luôn và theo ông thì nhờ vậy óc ông được minh mẫn.
S. Parkes Cadman - Gương thành công
Ông thay đổi cả sách đọc. Nếu bạn tưởng rằng học giả Cadman chỉ đọc những sách về thần học, thì bạn lầm lớn. Ông cho rằng phải đổi sách đọc cũng như đổi món ăn. Vì vậy mỗi tuần ông đọc hai ba cuốn tiểu thuyết trinh thám. Ông thích Sherlock Holmes và cho truyện The hound of the Baskervilles là truyện trinh thám hay nhất từ trước tới nay.
Ngày tôi lại thăm ông, tôi thấy bốn cuốn sách trên bàn. Một cuốn giảng cách lựa thức ăn hàng ngày của bác sĩ Hay; một cuốn nhan đề là The Romance of Labrador (loại tiểu thuyết phiêu lưu), một cuốn hồi ký về triều đình vua Louis XIV, và một truyện trinh thám mới xuất bản.
Theo tôi cái điều lạ lùng nhất trong con người lạ lùng đó là ông làm phu trong mỏ than ở quê ông, ông mới mười một tuổi, và trong mười năm đằng đẳng ông tiếp tục làm dưới mỏ tám giờ mỗi ngày để nuôi một bầy em dại.
Bấy giờ ai mà chẳng nghĩ rằng ông không làm sao thành người có học được. Vậy mà sau này ông thành một người học rộng nhất châu Mỹ. Ông bảo tôi rằng bất kỳ về ngành nào trong văn học Anh, ông cũng biết được kha khá. Hồi ông làm mỏ, luôn luôn phải đợi một hoặc hai phút để người ta trút hết than trong xe ông đẩy, trong lúc đợi, ông rút trong túi ra một cuốn sách. Bạn biết rằng trong mỏ than tối tăm đến nỗi đưa bàn tay ra cũng khó thấy được, vậy mà ông ránh đọc sách nhờ ánh sáng mù mù của chiếc đèn cũ. Bạn lại nhớ mỗi lần ông được nhiều lắm là được một trăm hai mươi giây song ông vẫn mang sách theo. Ông bảo rằng thà không đem cơm theo chứ không chịu không đem sách theo.
Vì ông biết chỉ có mỗi một cách thoát được cảnh ngục trong mỏ là đọc sách. Cho nên trong mười năm làm phu mỏ, mượn hay xin được cuốn sách nào trong làng bên cạnh là ông cũng đọc, trước sau hơn một ngàn cuốn. Vậy thì sau ông thành công, có gì lạ đâu. Một người như ông thì không có sức gì làm cho phải ngừng bước mà không tiến nữa. Mười năm sau sức học của ông đã kha khá, ông thi đậu một cách vẻ vang và được học bổng vào trường đại học Richmond.
Mỗi chủ nhật ông giảng đạo cho trên năm triệu tín đồ. Ông là một nhà thuyết giáo nổi danh nhất. Khắp thế giới đều được nghe giọng ông. Một lần đề đốc Byrd đánh vô tuyến điện tín từ Litte American cho ông để tỏ nỗi vui của bọn thám hiểm khi bắt được tiếng ông ở một nơi chân trời, gần Nam Cực. Vậy mà khi Cadman mới tới châu Mỹ, ông chỉ xin được việc thuyết giáo trong một nhà thờ, cho một trăm rưỡi tín đồ ở Millbrook, tiểu bang Nữu Ước. Họ định trả ông mỗi năm một trăm hai mươi Anh kim, nhưng không đủ tiền, đành trả ông bằng heo, gà, trái bom, khoai tây. Có người tặng ông một đống rơm. Đọc thêm!
Thứ Tư, 22 tháng 2, 2012
KERTÉSZ IMRE VÀ SỰ KHẮC HỌA NỖI ĐAU HOLOCAUST
Đệ nhị Thế chiến không chỉ là cuộc chiến thảm khốc nhất trong lịch sử nhân loại với tổng số nạn nhân lên tới chừng 62 triệu người, mà còn để lại những biểu tượng kinh hoàng của chết chóc, hủy diệt, của sự sụp đổ của nền văn minh và văn hóa Châu Âu hiện đại, như holocaust và Auschwitz, mà ý nghĩa và những bài học của chúng, cho đến nay, vẫn còn nguyên tính thời sự.
Để hiểu được sự hình thành của những khái niệm được coi là “sự nhục nhã và tàn phá không bút nào tả xiết của nhân loại”, cần ngược dòng thời gian trở về những năm đầu thập niên 30 thế kỷ trước.
Năm 1933, ngay từ khi lên nắm quyền, lãnh tụ Đảng Quốc Xã Adolf Hitler đã tuyên bố rằng ông ta tìm ra một lý tưởng mới cho nước Đức: một dân tộc “thượng đẳng” không thể chấp nhận sự tồn tại của các sắc dân “hạ đẳng” và “đáng ghét” như Do Thái, Tzigane, Nga, Ba Lan và nhiều chủng tộc Slav khác, hay những người khuyết tật, bị bệnh tâm thần, đồng tính luyến ái hoặc những nhóm phản kháng chính trị và tôn giáo (những người cộng sản, xã hội hoặc Nhân chứng Jehovah...).
Đồng thời, tham vọng bành trướng vô độ để giành “không gian sinh tồn” cho nước Đức Quốc Xã cũng đã khiến việc tàn sát hàng loạt người dân ở những vùng bị Đức chiếm đóng trở thành một nền tảng của ý thức hệ phát-xít.
Để thực hiện ý tưởng diệt chủng ấy, Đế chế Thứ ba đã vận động cả một bộ máy hành chính, tuyên truyền và quân sự khổng lồ, khởi đầu từ trước Đệ nhị Thế chiến. Từ đầu những năm 30, người Do Thái đã dần dần bị phân biệt đối xử, bị cấm đoán, loại trừ khỏi đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội, giới trí thức Do Thái bị xua đuổi và trục xuất hàng loạt khỏi nước Đức.
Năm 1935, bộ luật Nuremberg ra đời tước bỏ quyền công dân và tất cả các quyền dân sự của người Do Thái ở Đức - thủ lĩnh Hitler cho rằng đây là một giải pháp khả dĩ để xử lý “vấn nạn Do Thái”, tuy nhiên, nhà độc tài khét tiếng này cũng đã đặt vấn đề phải tuyệt diệt sắc dân này như một “giải pháp tối hậu” (Endlösung) khi cần thiết.
Những vụ bách hại dân Do Thái khởi đầu vào cuối năm 1938 trong biến cố bạo động Đêm Kính vỡ (Kristallnacht), khi trên toàn nước Đức và nhiều nơi ở Áo, dân Do Thái bị tấn công, cướp bóc và tước đoạt tài sản, nhà cửa, cửa hiệu của họ bị đập phá hoặc tiêu hủy, hàng vạn người bị đưa đi các trại tập trung. Khái niệm holocaust ra đời như sự thảm sát, diệt chủng trên tầm nhà nước của Đức Quốc xã, được thực hiện ở quy mô công nghiệp, mà người Do Thái là những nạn nhân hàng đầu.
Khi Thế chiến nổ ra vào đầu tháng 9-1939, tại nhiều vùng đất bị quân đội Đức chiếm đóng ở phía Đông, những đơn vị đặc biệt (Einsatzgruppen - đội hành quyết) của phát-xít Đức được trao nhiệm vụ tàn sát hàng loạt người Do Thái và các đối thủ chính trị của nước Đức Quốc Xã.
Tại nhiều quốc gia Châu Âu, dân Do Thái bị gom lại trong các khu biệt cư (ghetto) rồi bị chở đi các trại lao động khổ sai để phục vụ cho công nghiệp chiến tranh Đức. Làm việc cực nhọc 12-14 tiếng mỗi ngày trong những điều kiện vệ sinh, ăn ở hết sức tệ hại, thường xuyên bị bạc đãi, đánh đập, không ít người đã thiệt mạng trong thời gian lao động cưỡng bức.
Người già, yếu, phụ nữ và trẻ em thường được chở hàng loạt tới các “trại tử thần”: những ai sống sót qua chặng đường dài vài trăm cây số, trong những hoàn cảnh hết sức khắc nghiệt và tàn nhẫn, thì đa phần cũng bỏ mạng trong các phòng hơi độc, thi thể họ bị thiêu hủy trong các lò thiêu.
Kính của tù nhân tại Trại tử thần Auschwitz - Ảnh tư liệu
Một hệ thống khổng lồ các trại tập trung, giam giữ, cấm cố, lao động khổ sai và hủy diệt được hình thành trên nhiều khu vực bị chiếm đóng để đáp ứng nhu cầu “xử lý” sắc dân Do Thái và các nhóm thiểu số khác, trong số đó, được biết đến nhiều nhất là khu trại chính (thường được gọi là “trại mẹ”) mang tên Auschwitz - Birkenau, tại ngoại ô thành phố nhỏ Oswiecim, cách cố đô Cracow (Ba Lan) chừng 60 cây số về phía Tây.
Trong gần 5 năm hoạt động (từ ngày 14/6/1940 đến 27/1/1945 khi được các đạo quân Liên Xô giải phóng), đã có hơn 1,5 triệu người bị thiệt mạng tại Auschwitz - hơn 90% số này là dân Do Thái. Cái tên Auschwitz đã đọng lại trong lịch sử như biểu tượng của holocaust, của khủng bố và hủy diệt, cũng như của sự chà đạp thô bạo những quyền con người căn bản nhất.
Những cuộc thảm sát holocaust đã khiến ít nhất 6 triệu người Do Thái thiệt mạng, trong tổng số 11 triệu mà Ban lãnh đạo Quốc xã đã trù liệu, theo một dự kiến hiện còn lưu lại trong văn bản (1). Nhưng con số toàn bộ các nạn nhân thì lớn hơn thế nhiều: 9-11 triệu, thậm chí có ước đoán còn lên tới 26 triệu!
*
Trong số những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của holocaust, Hungary là một trường hợp đặc biệt, ở chỗ tại đây, sự đày ải và diệt chủng sắc dân Do Thái đã diễn ra với sự “hợp tác” và ủng hộ hết sức nhiệt tình của chính quyền và lực lượng hiến binh (csendőrség) nước này.
Ngay sau khi bị Đức Quốc Xã chiếm đóng vào ngày 19/3/1944, chính phủ bù nhìn thân Đức của Hungary đã ban hành hàng trăm sắc lệnh có nội dung bài Do Thái, trước tiên buộc sắc dân này phải “cống nạp” các vật dụng được coi là quý thời đó, như xe hơi, điện thoại, đài điện... , để rồi sau đó, mọi tài sản của họ đều bị “phong tỏa”.
Không chỉ bị cấm hành nghề bác sĩ, ký giả, trạng sư, diễn viên, không được kinh doanh và có cửa hiệu, không được làm trong bộ máy hành chính, dân Do Thái tại Hungary còn bị cấm bén mảng tới những nơi vui chơi giải trí công cộng, rạp phim, nhà hát, bị hạn chế lượng thực phẩm hàng ngày, v.v…
Thậm chí, một học viện còn được thành lập để “nghiên cứu khoa học” về “tính chất chủng tộc” của sắc dân Do Thái. Ngôi sao vàng sáu cánh mà người Do Thái buộc phải đeo trên vạt áo – như một dấu hiệu nhục nhã - đã vĩnh viễn biến họ trở thành những tử tù tiềm ẩn.
Ít tuần sau, ngày 16/4/1944, một sắc lệnh đã được phê chuẩn nhằm “sung công” toàn bộ nhà cửa của dân Do Thái trên toàn quốc và người Do Thái thì bị ép buộc phải vào những biệt khu. Sau đó một tháng, ngày 15/5/1944, holocaust khởi đầu tại Hungary với cường độ chóng mặt ở mức độc nhất vô nhị: hàng ngày, có 4 đoàn tàu chật kín dân Do Thái chuyển bánh từ Hungary tới thẳng trại tử thần Auschwitz!
Những đôi giày bên bờ Dunube - tượng đài tưởng nhớ các nạn nhân của holocaust tại Hungary của hai tác giả Pauer Gyula và Can Togay
Chỉ với vỏn vẹn vài chục nhân viên Đức thuộc Đơn vị Trực chiến Đặc biệt (Sondereinsatz-kommando), nhưng Trung tá Quốc xã Adolf Eichmann - một trong những đao phủ chính yếu của holocaust - đã nhận được sự tiếp tay rất “hiệu quả” từ bộ máy hành chính và hiến binh Hungary, mà ông ta phải khâm phục thừa nhận là “chính xác và tỉ mỉ khủng khiếp, không kém gì của người Đức”. Trong vòng một tháng rưỡi, hầu như tất cả dân Do Thái ở các tỉnh và các miền quê ở Hungary đã bị đưa đến những trại tập trung và hủy diệt.
Đầu tháng 7/1944, sự phản đối của các nhân sĩ trong và ngoài nước - cùng những thất bại của quân đội Đức và cuộc đổ bộ Normandy của Đồng minh - đã khiến chính phủ Hungary buộc phải ngừng các cuộc đày ải. Bằng quyết định đó, chừng 200 ngàn người Do Thái đang bị giam giữ trong biệt khu Budapest được thoát chết, nhưng chỉ hai tháng của đại nạn holocaust cũng đã khiến chừng 500 ngàn dân Do Thái Hungary thiệt mạng tại các trại tập trung và lò thiêu người.
Tính ra, cứ 10 người Do Thái bị sát hại bởi bộ máy chiến tranh của Đức Quốc xã trong những năm của Đệ nhị Thế chiến, thì có một là người Do Thái Hungary!
*
Holocaust không kết thúc với sự chấm dứt của Đệ nhị Thế chiến: đa phần những người sống sót mang trong mình suốt đời vết thương âm ỉ cả về thể xác lẫn tinh thần, nỗi kinh hoàng thường trực và dai dẳng trong những năm tháng ấy đã khiến họ không sao hòa nhập được với cuộc sống đời thường.
Tuy nhiên, trong số đó, vẫn có những cá thể vượt lên được bi kịch cá nhân, biến trải nghiệm khổ đau của mình thành bài học lịch sử cho nhân loại. Đó là trường hợp Kertész Imre, nhà văn Hungary gốc Do Thái, giải Nobel Văn chương đầu tiên và đến giờ là duy nhất của xứ sở này, người được Ủy ban Giải thưởng Nobel vinh danh “vì một sự nghiệp văn học nói lên trải nghiệm mỏng manh của cá nhân, đối lập với sự độc đoán tàn bạo của lịch sử”.
Kertész Imre, người sống sót Auschwitz và Buchenwald, phát biểu tại Bảo tàng Do Thái Berlin (CHLB Đức)
Sinh tại Budapest năm 1929 trong một gia đình gốc Do Thái, vào năm 15 tuổi (hè 1944), Kertész Imre bị đưa đến Auschwitz, rồi Buchenwald. May mắn thoát chết và được quân đội Mỹ giải phóng vào ngày 11/4/1945, ông hồi hương và làm nhiều nghề (viết báo, công nhân trong phân xưởng, v.v...) để kiếm sống.
Từ năm 1953, ông trở thành một dịch giả văn học Đức và chuyển ngữ nhiều tác gia quan trọng như Sigmund Freud, Friedrich Nietzsche, Friedrich Dürrenmatt... Cũng trong những năm tháng đó, trải nghiệm Lò thiêu được ông nung nấu, và quyết định biến thành đề tài chủ đạo trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác sau này.
Tác phẩm đầu tay của Kertész - “Không số phận” (Sorstalanság) - mà bạn đọc đang cầm bản dịch Việt ngữ trong tay được tác giả thai nghén trong vòng 13 năm, từ 1960 tới 1973, giữa những điều kiện sống khó khăn cơ cực về vật chất, nhưng đặc biệt là o ép về tinh thần. Bởi lẽ, trên cương vị người cầm bút, Kertész không được sự thừa nhận của chính quyền và văn giới, và như một kẻ sống sót sau thảm cảnh holocaust, đề tài đó “không bao giờ trở thành quá khứ” đối với ông, theo một chia sẻ sau này (2).
Được ấn hành lần đầu năm 1975 sau nhiều lần bị từ chối, “Không số phận” không có ngay được vị trí xứng đáng trong dòng văn học holocaust nói chung, và giữa những tác phẩm lớn giàu tính nhân bản nói chung: về căn bản, độc giả Hungary cũng chỉ biết đến tác phẩm này một cách rộng rãi sau khi Kertész được trao giải Nobel Văn chương năm 2002. Cho dù, trước đó, sách đã được dịch ra tiếng Anh, Đức và Pháp, và tác giả đã được nhận nhiều giải thưởng văn học cao quý trong nước và quốc tế, trong đó có Giải thưởng lớn tại Hội chợ sách Leipzich (Đức, 1997), cho chính “Không số phận”.
Mang những nét tự sự, sách kể về số phận của Köves Gyuri, một cậu bé Do Thái ở Hungary. Năm 15 tuổi, cha cậu bị bắt đi lao động cưỡng bức, cậu sinh sống với mẹ kế và làm việc trong một binh xưởng. Một ngày nọ, cùng các đồng bạn, Köves bị dẫn độ tới một biệt khu dành cho dân Do Thái, rồi bị chở tới khu trại tử thần Auschwitz trong toa tàu bịt kín.
Nhờ có sức lao động, cậu và nhiều người bạn không bị giết ngay, mà được chuyển sang trại lao động cầm cố Buchenwald để làm việc khổ sai từ sáng sớm đến tối mịt trong một công binh xưởng cạnh trại. Một thời gian ngắn sau, cậu sang một trại nhỏ khác và tại đây, suy nhược sau những ngày tháng làm việc quá sức và ăn uống kham khổ, Köves đổ bệnh và được các bạn tù đưa đi bác sĩ.
Dù được nghỉ việc và điều trị, song các vết thương ngày càng nặng, Köves bị chở hết viện này qua viện khác, rồi lại về trại Buchenwald, nằm tại một bệnh xá dành cho tù nhân và chờ chết ở đó. Tuy nhiên, điều kỳ diệu không ai ngờ đã xảy ra: cậu hồi phục dần và đúng vào thời điểm ấy, khu trại Buchenwald được quân Đồng minh giải phóng vào mùa xuân 1945.
Được trở về nhà, nhưng Köves nhận ra tất cả mọi thứ đã đổi khác: cha cậu chết trong trại lao động khổ sai, mẹ kế đã lấy chồng khác, căn nhà của gia đình cậu những người khác đã tới ở..., nhưng cái chính là bản thân cậu đã thay đổi. Những trải nghiệm Auschwitz khiến cậu không thể tái hội nhập cuộc sống cũ và cuộc sống mới thì không dành cho cậu, một kẻ bơ vơ và mang trong lòng tâm cảm lưu đày ngay tại quê hương mình.
Bìa ấn bản Việt ngữ của “Không số phận”
Khác với nhiều tác phẩm văn học và điện ảnh trong dòng sáng tác về holocaust, “Không số phận” không nhằm đặc tả những nỗi kinh hoàng, những thảm cảnh mà các nhân vật phải trải qua khi cận kề với cái chết hàng ngày. Tác phẩm tập trung khắc họa bản năng sinh tồn, khả năng thích ứng của con người với thế giới xung quanh để giành giật sự sống trước tử thần thường trực rình rập.
Köves không chống lại số phận, không ngạc nhiên và không nổi loạn trước tình thế, cậu chấp nhận nó một cách bình thản và không tìm lối thoát. Đối với cậu, thực tế của các trại tập trung là một cái gì đó hoàn toàn tự nhiên, thường nhật, và cho dù những điều kiện sống có tệ hại đến mấy đi nữa, cậu vẫn có những khoảnh khắc hạnh phúc.
Köves nhìn nhận các sự kiện dưới con mắt trẻ thơ, không cảm thấy có gì phản tự nhiên hay đáng bất bình ở đó và đây là điều - như Ủy ban Giải thưởng Nobel nhận định - khiến cuốn sách trở nên xác tín ở mức độ gây sốc, vì cậu bé không thể hiện sự phẫn nộ đạo đức hoặc phản kháng siêu hình mà chúng ta hay thấy ở đề tài này.
Như thế, “Không số phận” đã xem xét thảm cảnh holocaust và Lò thiêu Auschwitz - “sự thật tận cùng về tha hóa của con người trong đời sống hiện đại” - theo một cách mới và khác so với nhiều tên tuổi lớn như Primo Lévi, Elie Wiesel, Claude Lanzmann, hoặc Spielberg và Polanski. Tác phẩm đã nhìn nhận khả năng để “cá nhân có thể sống và tư duy trong một thời đại mà con người ngày càng tự phụ thuộc vào chính thể xã hội”.
Khả năng đó, như thông điệp của Kertész, chính là thích ứng để tồn tại. Như nhà văn, nhà phê bình Hungary Spiró György nhận xét trong một nghiên cứu về cuốn tiểu thuyết, “chúng ta nhận được ở đây một điều gì đó khác với những gì chúng ta có thể chờ đợi từ một tiểu thuyết thông thường, hoặc giả một tiểu thuyết về tù ngục: đó là triết lý sinh tồn, gần như làm nổ tung những giới hạn của văn học”. (3)
Triết lý sinh tồn đó được thể hiện bàng bạc qua giọng kể dung dị và bình thản đến lạnh lùng của nhân vật tôi - người kể chuyện - trong suốt tiểu thuyết, và đọng lại ở những dòng cuối sách: “Ngay cả ở bên đó, bên cạnh những ống khói lò thiêu, giữa những đau đớn vẫn có một thứ gì đó giống như hạnh phúc. Ai cũng chỉ hỏi về những khổ ải, về “những nỗi kinh hoàng”: trong khi ấn tượng này có lẽ lưu lại đáng nhớ nhất. Đúng, phải nói về điều này, gần nhất tôi sẽ nói cho họ nghe về hạnh phúc của các trại tập trung, nếu sau này họ hỏi. Nếu như họ hỏi. Và chỉ nếu chính tôi cũng không quên điều đó”.
Thứ tình cảm phi lý và nghịch dị ấy của con người - coi thế giới tù ngục, trại tập trung như nơi thân thuộc của mình - về sau còn được Kertész tập trung mổ xẻ và phát triển trong “Kinh cầu cho một đứa trẻ không ra đời” (Kaddis a meg nem született gyermekért, 1990) (4), thường được coi là sự tiếp nối của “Không số phận”. Hai tác phẩm trên, cùng truyện vừa “Thất bại” (A kudarc, 1988) tạo thành một bộ ba, được giới nghiên cứu đánh giá là lời phê phán nghiêm khắc “tất cả các thể chế độc tài, đã bần cùng hóa những cơ chế xã hội được đặt cơ sở trên sự tôn trọng cá nhân” (5).
*
Hơn sáu thập niên đã trôi qua kể từ thảm cảnh holocaust, nhưng Lò thiêu vẫn là nỗi ám ảnh của văn minh nhân loại và vẫn không hề mất thời sự tính.
Tại các quốc gia Đông Âu, sau mấy chục năm bị coi là đề tài “nhạy cảm”, dễ “đụng chạm” và gây nguy hại tới sự “đồng thuận xã hội”, hiện tại, holocaust không còn là đề tài độc tôn của các nhà nghiên cứu mà đã đi sâu vào tâm thức xã hội như một trong những thảm kịch diệt chủng của lịch sử. Đa số các nước đã ban hành đạo luật lấy một ngày trong năm làm dịp tưởng nhớ các nạn nhân của độc tài phát-xít, của holocaust, để các thế hệ sau có được ý niệm về biến cố này.
Trong một phỏng vấn gần đây nhất (6), nói về sự nghiệp văn chương của mình, Kertész khẳng định sở dĩ ông viết về holocaust vì ông đã “phải sống và đã sống qua trải nghiệm độc nhất vô nhị này của thế kỷ XX”. Tuy nhiên, đối với ông, “thử nghiệm triệt tiêu sắc dân Do Thái cùng chủ nghĩa bài chủng tộc Do Thái không phải là một hiện tượng riêng lẻ, mà cần phải xem xét nó trong mối tương quan với một trải nghiệm lớn khác của thời đại: chủ nghĩa toàn trị”. Theo góc nhìn ấy, holocaust chưa chấm dứt với sự sụp đổ của chủ nghĩa Quốc Xã.
Đó cũng là lý do để độc giả Việt Nam rất nên làm quen với các tác phẩm của Kertész Imre, nhà văn tự coi mình là “người chuyển giao tinh thần Auschwitz” (7). Không chỉ để tìm hiểu và đồng cảm về “tấn thảm kịch lớn nhất của người châu Âu kể từ những cuộc thánh chiến” (8), mà còn để chiêm nghiệm, sao cho những bi kịch ấy không bao giờ lặp lại trong tương lai, dưới hình thức này hay hình thức khác...
Ghi chú:
(1) Theo biên bản Hội nghị Wannsee, họp tại ngày 20-1-1942 với sự tham gia của các quan chức Quốc xã, nhằm khởi thảo và thực hiện giải pháp tối hậu đối với sắc dân Do Thái trên toàn Châu Âu.
(2) Lời nói đầu tập tiểu luận “Ngôn ngữ lưu đày” (A száműzött nyelv, 2001).
(3) Trích “Non habent sua fata”, bài viết về “Không số phận” của Spiró György trên tạp chí “Cuộc sống và Văn học” (Élet és Irodalom, 1983).
(4) Nhã Nam sắp xuất bản.
(5) Bài giới thiệu “Không số phận” của Legeza Ilona.
(6) Kertész Imre trả lời phỏng vấn tờ nhật báo Đức “Die Welt” nhân dịp ông bước vào tuổi 80, đúng vào kỷ niệm bức tường Berlin sụp đổ (9-11-2009).
(7), (8): Trích “Nhật ký Gálya” (Gálya napló, 1992).
(*) Một phần bài viết là “Lời bạt” của bản Việt ngữ tác phẩm “Không số phận” (Giáp Văn Chung dịch - Công ty cổ phần Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam & NXB Lao Động ấn hành, tháng 10-2010).
Nguyễn Hoàng Linh, Budapest ngày 12/9/2010
http://nhipcauthegioi.hu/modules.php?name=News&op=viewst&sid=2608 Đọc thêm!
Để hiểu được sự hình thành của những khái niệm được coi là “sự nhục nhã và tàn phá không bút nào tả xiết của nhân loại”, cần ngược dòng thời gian trở về những năm đầu thập niên 30 thế kỷ trước.
Năm 1933, ngay từ khi lên nắm quyền, lãnh tụ Đảng Quốc Xã Adolf Hitler đã tuyên bố rằng ông ta tìm ra một lý tưởng mới cho nước Đức: một dân tộc “thượng đẳng” không thể chấp nhận sự tồn tại của các sắc dân “hạ đẳng” và “đáng ghét” như Do Thái, Tzigane, Nga, Ba Lan và nhiều chủng tộc Slav khác, hay những người khuyết tật, bị bệnh tâm thần, đồng tính luyến ái hoặc những nhóm phản kháng chính trị và tôn giáo (những người cộng sản, xã hội hoặc Nhân chứng Jehovah...).
Đồng thời, tham vọng bành trướng vô độ để giành “không gian sinh tồn” cho nước Đức Quốc Xã cũng đã khiến việc tàn sát hàng loạt người dân ở những vùng bị Đức chiếm đóng trở thành một nền tảng của ý thức hệ phát-xít.
Để thực hiện ý tưởng diệt chủng ấy, Đế chế Thứ ba đã vận động cả một bộ máy hành chính, tuyên truyền và quân sự khổng lồ, khởi đầu từ trước Đệ nhị Thế chiến. Từ đầu những năm 30, người Do Thái đã dần dần bị phân biệt đối xử, bị cấm đoán, loại trừ khỏi đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội, giới trí thức Do Thái bị xua đuổi và trục xuất hàng loạt khỏi nước Đức.
Năm 1935, bộ luật Nuremberg ra đời tước bỏ quyền công dân và tất cả các quyền dân sự của người Do Thái ở Đức - thủ lĩnh Hitler cho rằng đây là một giải pháp khả dĩ để xử lý “vấn nạn Do Thái”, tuy nhiên, nhà độc tài khét tiếng này cũng đã đặt vấn đề phải tuyệt diệt sắc dân này như một “giải pháp tối hậu” (Endlösung) khi cần thiết.
Những vụ bách hại dân Do Thái khởi đầu vào cuối năm 1938 trong biến cố bạo động Đêm Kính vỡ (Kristallnacht), khi trên toàn nước Đức và nhiều nơi ở Áo, dân Do Thái bị tấn công, cướp bóc và tước đoạt tài sản, nhà cửa, cửa hiệu của họ bị đập phá hoặc tiêu hủy, hàng vạn người bị đưa đi các trại tập trung. Khái niệm holocaust ra đời như sự thảm sát, diệt chủng trên tầm nhà nước của Đức Quốc xã, được thực hiện ở quy mô công nghiệp, mà người Do Thái là những nạn nhân hàng đầu.
Khi Thế chiến nổ ra vào đầu tháng 9-1939, tại nhiều vùng đất bị quân đội Đức chiếm đóng ở phía Đông, những đơn vị đặc biệt (Einsatzgruppen - đội hành quyết) của phát-xít Đức được trao nhiệm vụ tàn sát hàng loạt người Do Thái và các đối thủ chính trị của nước Đức Quốc Xã.
Tại nhiều quốc gia Châu Âu, dân Do Thái bị gom lại trong các khu biệt cư (ghetto) rồi bị chở đi các trại lao động khổ sai để phục vụ cho công nghiệp chiến tranh Đức. Làm việc cực nhọc 12-14 tiếng mỗi ngày trong những điều kiện vệ sinh, ăn ở hết sức tệ hại, thường xuyên bị bạc đãi, đánh đập, không ít người đã thiệt mạng trong thời gian lao động cưỡng bức.
Người già, yếu, phụ nữ và trẻ em thường được chở hàng loạt tới các “trại tử thần”: những ai sống sót qua chặng đường dài vài trăm cây số, trong những hoàn cảnh hết sức khắc nghiệt và tàn nhẫn, thì đa phần cũng bỏ mạng trong các phòng hơi độc, thi thể họ bị thiêu hủy trong các lò thiêu.
Kính của tù nhân tại Trại tử thần Auschwitz - Ảnh tư liệu
Một hệ thống khổng lồ các trại tập trung, giam giữ, cấm cố, lao động khổ sai và hủy diệt được hình thành trên nhiều khu vực bị chiếm đóng để đáp ứng nhu cầu “xử lý” sắc dân Do Thái và các nhóm thiểu số khác, trong số đó, được biết đến nhiều nhất là khu trại chính (thường được gọi là “trại mẹ”) mang tên Auschwitz - Birkenau, tại ngoại ô thành phố nhỏ Oswiecim, cách cố đô Cracow (Ba Lan) chừng 60 cây số về phía Tây.
Trong gần 5 năm hoạt động (từ ngày 14/6/1940 đến 27/1/1945 khi được các đạo quân Liên Xô giải phóng), đã có hơn 1,5 triệu người bị thiệt mạng tại Auschwitz - hơn 90% số này là dân Do Thái. Cái tên Auschwitz đã đọng lại trong lịch sử như biểu tượng của holocaust, của khủng bố và hủy diệt, cũng như của sự chà đạp thô bạo những quyền con người căn bản nhất.
Những cuộc thảm sát holocaust đã khiến ít nhất 6 triệu người Do Thái thiệt mạng, trong tổng số 11 triệu mà Ban lãnh đạo Quốc xã đã trù liệu, theo một dự kiến hiện còn lưu lại trong văn bản (1). Nhưng con số toàn bộ các nạn nhân thì lớn hơn thế nhiều: 9-11 triệu, thậm chí có ước đoán còn lên tới 26 triệu!
*
Trong số những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của holocaust, Hungary là một trường hợp đặc biệt, ở chỗ tại đây, sự đày ải và diệt chủng sắc dân Do Thái đã diễn ra với sự “hợp tác” và ủng hộ hết sức nhiệt tình của chính quyền và lực lượng hiến binh (csendőrség) nước này.
Ngay sau khi bị Đức Quốc Xã chiếm đóng vào ngày 19/3/1944, chính phủ bù nhìn thân Đức của Hungary đã ban hành hàng trăm sắc lệnh có nội dung bài Do Thái, trước tiên buộc sắc dân này phải “cống nạp” các vật dụng được coi là quý thời đó, như xe hơi, điện thoại, đài điện... , để rồi sau đó, mọi tài sản của họ đều bị “phong tỏa”.
Không chỉ bị cấm hành nghề bác sĩ, ký giả, trạng sư, diễn viên, không được kinh doanh và có cửa hiệu, không được làm trong bộ máy hành chính, dân Do Thái tại Hungary còn bị cấm bén mảng tới những nơi vui chơi giải trí công cộng, rạp phim, nhà hát, bị hạn chế lượng thực phẩm hàng ngày, v.v…
Thậm chí, một học viện còn được thành lập để “nghiên cứu khoa học” về “tính chất chủng tộc” của sắc dân Do Thái. Ngôi sao vàng sáu cánh mà người Do Thái buộc phải đeo trên vạt áo – như một dấu hiệu nhục nhã - đã vĩnh viễn biến họ trở thành những tử tù tiềm ẩn.
Ít tuần sau, ngày 16/4/1944, một sắc lệnh đã được phê chuẩn nhằm “sung công” toàn bộ nhà cửa của dân Do Thái trên toàn quốc và người Do Thái thì bị ép buộc phải vào những biệt khu. Sau đó một tháng, ngày 15/5/1944, holocaust khởi đầu tại Hungary với cường độ chóng mặt ở mức độc nhất vô nhị: hàng ngày, có 4 đoàn tàu chật kín dân Do Thái chuyển bánh từ Hungary tới thẳng trại tử thần Auschwitz!
Những đôi giày bên bờ Dunube - tượng đài tưởng nhớ các nạn nhân của holocaust tại Hungary của hai tác giả Pauer Gyula và Can Togay
Chỉ với vỏn vẹn vài chục nhân viên Đức thuộc Đơn vị Trực chiến Đặc biệt (Sondereinsatz-kommando), nhưng Trung tá Quốc xã Adolf Eichmann - một trong những đao phủ chính yếu của holocaust - đã nhận được sự tiếp tay rất “hiệu quả” từ bộ máy hành chính và hiến binh Hungary, mà ông ta phải khâm phục thừa nhận là “chính xác và tỉ mỉ khủng khiếp, không kém gì của người Đức”. Trong vòng một tháng rưỡi, hầu như tất cả dân Do Thái ở các tỉnh và các miền quê ở Hungary đã bị đưa đến những trại tập trung và hủy diệt.
Đầu tháng 7/1944, sự phản đối của các nhân sĩ trong và ngoài nước - cùng những thất bại của quân đội Đức và cuộc đổ bộ Normandy của Đồng minh - đã khiến chính phủ Hungary buộc phải ngừng các cuộc đày ải. Bằng quyết định đó, chừng 200 ngàn người Do Thái đang bị giam giữ trong biệt khu Budapest được thoát chết, nhưng chỉ hai tháng của đại nạn holocaust cũng đã khiến chừng 500 ngàn dân Do Thái Hungary thiệt mạng tại các trại tập trung và lò thiêu người.
Tính ra, cứ 10 người Do Thái bị sát hại bởi bộ máy chiến tranh của Đức Quốc xã trong những năm của Đệ nhị Thế chiến, thì có một là người Do Thái Hungary!
*
Holocaust không kết thúc với sự chấm dứt của Đệ nhị Thế chiến: đa phần những người sống sót mang trong mình suốt đời vết thương âm ỉ cả về thể xác lẫn tinh thần, nỗi kinh hoàng thường trực và dai dẳng trong những năm tháng ấy đã khiến họ không sao hòa nhập được với cuộc sống đời thường.
Tuy nhiên, trong số đó, vẫn có những cá thể vượt lên được bi kịch cá nhân, biến trải nghiệm khổ đau của mình thành bài học lịch sử cho nhân loại. Đó là trường hợp Kertész Imre, nhà văn Hungary gốc Do Thái, giải Nobel Văn chương đầu tiên và đến giờ là duy nhất của xứ sở này, người được Ủy ban Giải thưởng Nobel vinh danh “vì một sự nghiệp văn học nói lên trải nghiệm mỏng manh của cá nhân, đối lập với sự độc đoán tàn bạo của lịch sử”.
Kertész Imre, người sống sót Auschwitz và Buchenwald, phát biểu tại Bảo tàng Do Thái Berlin (CHLB Đức)
Sinh tại Budapest năm 1929 trong một gia đình gốc Do Thái, vào năm 15 tuổi (hè 1944), Kertész Imre bị đưa đến Auschwitz, rồi Buchenwald. May mắn thoát chết và được quân đội Mỹ giải phóng vào ngày 11/4/1945, ông hồi hương và làm nhiều nghề (viết báo, công nhân trong phân xưởng, v.v...) để kiếm sống.
Từ năm 1953, ông trở thành một dịch giả văn học Đức và chuyển ngữ nhiều tác gia quan trọng như Sigmund Freud, Friedrich Nietzsche, Friedrich Dürrenmatt... Cũng trong những năm tháng đó, trải nghiệm Lò thiêu được ông nung nấu, và quyết định biến thành đề tài chủ đạo trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác sau này.
Tác phẩm đầu tay của Kertész - “Không số phận” (Sorstalanság) - mà bạn đọc đang cầm bản dịch Việt ngữ trong tay được tác giả thai nghén trong vòng 13 năm, từ 1960 tới 1973, giữa những điều kiện sống khó khăn cơ cực về vật chất, nhưng đặc biệt là o ép về tinh thần. Bởi lẽ, trên cương vị người cầm bút, Kertész không được sự thừa nhận của chính quyền và văn giới, và như một kẻ sống sót sau thảm cảnh holocaust, đề tài đó “không bao giờ trở thành quá khứ” đối với ông, theo một chia sẻ sau này (2).
Được ấn hành lần đầu năm 1975 sau nhiều lần bị từ chối, “Không số phận” không có ngay được vị trí xứng đáng trong dòng văn học holocaust nói chung, và giữa những tác phẩm lớn giàu tính nhân bản nói chung: về căn bản, độc giả Hungary cũng chỉ biết đến tác phẩm này một cách rộng rãi sau khi Kertész được trao giải Nobel Văn chương năm 2002. Cho dù, trước đó, sách đã được dịch ra tiếng Anh, Đức và Pháp, và tác giả đã được nhận nhiều giải thưởng văn học cao quý trong nước và quốc tế, trong đó có Giải thưởng lớn tại Hội chợ sách Leipzich (Đức, 1997), cho chính “Không số phận”.
Mang những nét tự sự, sách kể về số phận của Köves Gyuri, một cậu bé Do Thái ở Hungary. Năm 15 tuổi, cha cậu bị bắt đi lao động cưỡng bức, cậu sinh sống với mẹ kế và làm việc trong một binh xưởng. Một ngày nọ, cùng các đồng bạn, Köves bị dẫn độ tới một biệt khu dành cho dân Do Thái, rồi bị chở tới khu trại tử thần Auschwitz trong toa tàu bịt kín.
Nhờ có sức lao động, cậu và nhiều người bạn không bị giết ngay, mà được chuyển sang trại lao động cầm cố Buchenwald để làm việc khổ sai từ sáng sớm đến tối mịt trong một công binh xưởng cạnh trại. Một thời gian ngắn sau, cậu sang một trại nhỏ khác và tại đây, suy nhược sau những ngày tháng làm việc quá sức và ăn uống kham khổ, Köves đổ bệnh và được các bạn tù đưa đi bác sĩ.
Dù được nghỉ việc và điều trị, song các vết thương ngày càng nặng, Köves bị chở hết viện này qua viện khác, rồi lại về trại Buchenwald, nằm tại một bệnh xá dành cho tù nhân và chờ chết ở đó. Tuy nhiên, điều kỳ diệu không ai ngờ đã xảy ra: cậu hồi phục dần và đúng vào thời điểm ấy, khu trại Buchenwald được quân Đồng minh giải phóng vào mùa xuân 1945.
Được trở về nhà, nhưng Köves nhận ra tất cả mọi thứ đã đổi khác: cha cậu chết trong trại lao động khổ sai, mẹ kế đã lấy chồng khác, căn nhà của gia đình cậu những người khác đã tới ở..., nhưng cái chính là bản thân cậu đã thay đổi. Những trải nghiệm Auschwitz khiến cậu không thể tái hội nhập cuộc sống cũ và cuộc sống mới thì không dành cho cậu, một kẻ bơ vơ và mang trong lòng tâm cảm lưu đày ngay tại quê hương mình.
Bìa ấn bản Việt ngữ của “Không số phận”
Khác với nhiều tác phẩm văn học và điện ảnh trong dòng sáng tác về holocaust, “Không số phận” không nhằm đặc tả những nỗi kinh hoàng, những thảm cảnh mà các nhân vật phải trải qua khi cận kề với cái chết hàng ngày. Tác phẩm tập trung khắc họa bản năng sinh tồn, khả năng thích ứng của con người với thế giới xung quanh để giành giật sự sống trước tử thần thường trực rình rập.
Köves không chống lại số phận, không ngạc nhiên và không nổi loạn trước tình thế, cậu chấp nhận nó một cách bình thản và không tìm lối thoát. Đối với cậu, thực tế của các trại tập trung là một cái gì đó hoàn toàn tự nhiên, thường nhật, và cho dù những điều kiện sống có tệ hại đến mấy đi nữa, cậu vẫn có những khoảnh khắc hạnh phúc.
Köves nhìn nhận các sự kiện dưới con mắt trẻ thơ, không cảm thấy có gì phản tự nhiên hay đáng bất bình ở đó và đây là điều - như Ủy ban Giải thưởng Nobel nhận định - khiến cuốn sách trở nên xác tín ở mức độ gây sốc, vì cậu bé không thể hiện sự phẫn nộ đạo đức hoặc phản kháng siêu hình mà chúng ta hay thấy ở đề tài này.
Như thế, “Không số phận” đã xem xét thảm cảnh holocaust và Lò thiêu Auschwitz - “sự thật tận cùng về tha hóa của con người trong đời sống hiện đại” - theo một cách mới và khác so với nhiều tên tuổi lớn như Primo Lévi, Elie Wiesel, Claude Lanzmann, hoặc Spielberg và Polanski. Tác phẩm đã nhìn nhận khả năng để “cá nhân có thể sống và tư duy trong một thời đại mà con người ngày càng tự phụ thuộc vào chính thể xã hội”.
Khả năng đó, như thông điệp của Kertész, chính là thích ứng để tồn tại. Như nhà văn, nhà phê bình Hungary Spiró György nhận xét trong một nghiên cứu về cuốn tiểu thuyết, “chúng ta nhận được ở đây một điều gì đó khác với những gì chúng ta có thể chờ đợi từ một tiểu thuyết thông thường, hoặc giả một tiểu thuyết về tù ngục: đó là triết lý sinh tồn, gần như làm nổ tung những giới hạn của văn học”. (3)
Triết lý sinh tồn đó được thể hiện bàng bạc qua giọng kể dung dị và bình thản đến lạnh lùng của nhân vật tôi - người kể chuyện - trong suốt tiểu thuyết, và đọng lại ở những dòng cuối sách: “Ngay cả ở bên đó, bên cạnh những ống khói lò thiêu, giữa những đau đớn vẫn có một thứ gì đó giống như hạnh phúc. Ai cũng chỉ hỏi về những khổ ải, về “những nỗi kinh hoàng”: trong khi ấn tượng này có lẽ lưu lại đáng nhớ nhất. Đúng, phải nói về điều này, gần nhất tôi sẽ nói cho họ nghe về hạnh phúc của các trại tập trung, nếu sau này họ hỏi. Nếu như họ hỏi. Và chỉ nếu chính tôi cũng không quên điều đó”.
Thứ tình cảm phi lý và nghịch dị ấy của con người - coi thế giới tù ngục, trại tập trung như nơi thân thuộc của mình - về sau còn được Kertész tập trung mổ xẻ và phát triển trong “Kinh cầu cho một đứa trẻ không ra đời” (Kaddis a meg nem született gyermekért, 1990) (4), thường được coi là sự tiếp nối của “Không số phận”. Hai tác phẩm trên, cùng truyện vừa “Thất bại” (A kudarc, 1988) tạo thành một bộ ba, được giới nghiên cứu đánh giá là lời phê phán nghiêm khắc “tất cả các thể chế độc tài, đã bần cùng hóa những cơ chế xã hội được đặt cơ sở trên sự tôn trọng cá nhân” (5).
*
Hơn sáu thập niên đã trôi qua kể từ thảm cảnh holocaust, nhưng Lò thiêu vẫn là nỗi ám ảnh của văn minh nhân loại và vẫn không hề mất thời sự tính.
Tại các quốc gia Đông Âu, sau mấy chục năm bị coi là đề tài “nhạy cảm”, dễ “đụng chạm” và gây nguy hại tới sự “đồng thuận xã hội”, hiện tại, holocaust không còn là đề tài độc tôn của các nhà nghiên cứu mà đã đi sâu vào tâm thức xã hội như một trong những thảm kịch diệt chủng của lịch sử. Đa số các nước đã ban hành đạo luật lấy một ngày trong năm làm dịp tưởng nhớ các nạn nhân của độc tài phát-xít, của holocaust, để các thế hệ sau có được ý niệm về biến cố này.
Trong một phỏng vấn gần đây nhất (6), nói về sự nghiệp văn chương của mình, Kertész khẳng định sở dĩ ông viết về holocaust vì ông đã “phải sống và đã sống qua trải nghiệm độc nhất vô nhị này của thế kỷ XX”. Tuy nhiên, đối với ông, “thử nghiệm triệt tiêu sắc dân Do Thái cùng chủ nghĩa bài chủng tộc Do Thái không phải là một hiện tượng riêng lẻ, mà cần phải xem xét nó trong mối tương quan với một trải nghiệm lớn khác của thời đại: chủ nghĩa toàn trị”. Theo góc nhìn ấy, holocaust chưa chấm dứt với sự sụp đổ của chủ nghĩa Quốc Xã.
Đó cũng là lý do để độc giả Việt Nam rất nên làm quen với các tác phẩm của Kertész Imre, nhà văn tự coi mình là “người chuyển giao tinh thần Auschwitz” (7). Không chỉ để tìm hiểu và đồng cảm về “tấn thảm kịch lớn nhất của người châu Âu kể từ những cuộc thánh chiến” (8), mà còn để chiêm nghiệm, sao cho những bi kịch ấy không bao giờ lặp lại trong tương lai, dưới hình thức này hay hình thức khác...
Ghi chú:
(1) Theo biên bản Hội nghị Wannsee, họp tại ngày 20-1-1942 với sự tham gia của các quan chức Quốc xã, nhằm khởi thảo và thực hiện giải pháp tối hậu đối với sắc dân Do Thái trên toàn Châu Âu.
(2) Lời nói đầu tập tiểu luận “Ngôn ngữ lưu đày” (A száműzött nyelv, 2001).
(3) Trích “Non habent sua fata”, bài viết về “Không số phận” của Spiró György trên tạp chí “Cuộc sống và Văn học” (Élet és Irodalom, 1983).
(4) Nhã Nam sắp xuất bản.
(5) Bài giới thiệu “Không số phận” của Legeza Ilona.
(6) Kertész Imre trả lời phỏng vấn tờ nhật báo Đức “Die Welt” nhân dịp ông bước vào tuổi 80, đúng vào kỷ niệm bức tường Berlin sụp đổ (9-11-2009).
(7), (8): Trích “Nhật ký Gálya” (Gálya napló, 1992).
(*) Một phần bài viết là “Lời bạt” của bản Việt ngữ tác phẩm “Không số phận” (Giáp Văn Chung dịch - Công ty cổ phần Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam & NXB Lao Động ấn hành, tháng 10-2010).
Nguyễn Hoàng Linh, Budapest ngày 12/9/2010
http://nhipcauthegioi.hu/modules.php?name=News&op=viewst&sid=2608 Đọc thêm!
Chiến thắng sa mạc
Thường tình người ta chỉ tính năng suất của đất đai theo diện tích, có nghĩa là mức sản xuất hàng năm được bao nhiêu mỗi héc-ta. Riêng tại Israël thì sự tính toán hơi lạ đời vì dân ở đây tính năng suất theo ... khối nước tưới ! Mỗi năm có bao nhiêu nước và mỗi khối nước sinh lợi được bao nhiêu. Bởi vậy, một mặt họ lo cách thức kiếm nước, một mặt họ tìm mọi cách hầu tránh chuyện nước bị hao hụt đi, chẳng hạn nước bị bốc hơi hay thấm vào lòng đất.
Phương pháp dẫn thủy nhập điền rất công phu tỉ mỉ ở Việt Nam hay ở Trung Quốc đã làm thế giới ngạc nhiên, song đem so với những nổ lực phi thường của dân tộc được Chúa chọn thì hãy còn kém xa.
Mỗi năm vùng sa mạc Neguev chỉ giữ được từ 2 đến 4 phân nước. Như vậy, muốn trồng trọt thì phải có nhiều nước, nhưng làm thế nào?
Vấn đề thiếu nước ở Israël là nguyên nhân sinh ra lắm thứ thuế oái oăm. Ví dụ: Trong giá tiền một chai bia được tiêu thụ, một nửa là thuế dành cho công cuộc tìm nước. Họ đã nghĩ đến việc đào giếng, dùng nước mưa và nước biển, nhưng lấy đâu cho đủ nước trong khi ở đây mưa chẳng mấy lúc; còn nước biển thì ngoài công dụng cho kỹ nghệ ra, súc vật còn chịu không nổi huống hồ cỏ cây. Cho nên họ bèn thăm dò những dòng nước ngầm dưới lòng đất nằm ven biển và đã khám phá ra những nơi nầy có một tầng đất không thấm nước, chứa lại khá nhiều nước ngọt, chẳng hạn trong khu Avedat.
Hiện nay số nước rút được từ các nơi đó là khoảng 140 triệu thước khối trong một năm. Những vùng có nước ngầm đã trở nên bồn nước thiên nhiên dành cho cả khu vực Yarkon – Neguev. Nhất là từ khi sử dụng được dòng sông lịch sử Jourdain, tổng lượng số nước rút được hàng năm lên tới 5 tỉ thước khối đủ dùng cho mọi nhà, mọi ngành kỹ nghệ và 4 triệu dounams đất khô cháy (10 dounams tương đương với 1 héc-ta).
Để tránh việc phí phạm nước, dân israéliens bơm xuống lòng đất hàng triệu thước khối nước - kể cả nước cống đã được lọc và khử trùng – cho khỏi bị bốc hơi. Thật chưa dân tộc nào cần"nước"như người Do Thái. Song xét ra phương pháp đặt ống dẫn nước vẫn hiệu nghiệm hơn cả. Ống dẫn nước ở Israël có lẽ là loại ống dẫn kỹ lục: dài từ 4 đến 170 cs, nặng không dưới 32 tấn, mỗi đoạn 5 thước đường kính và 3 thước bề dài, đặt ngay trên mặt đất, có khi phải xuyên núi, vượt đèo và thung lũng. Hệ thống dẫn nước của họ là cho nước chạy theo ống dẫn lớn, qua ống nhỏ, phân ra làm muôn ngàn nhánh mỗi lúc mỗi bé để rồi tung ra ruộng nương, vườn tược qua các máy nước chẳng khác gì các trận mưa nhân tạo.
Nước chảy đến đâu, người dân tìm theo đến đấy và sự canh tác tiến triển tùy nhịp nước lan mau hay chậm.
Thủ đô của sa mạc Neguev là thành phố Beersheva, tụ điểm của hầu hết những người Do Thái hồi hương từ khắp nơi trên thế giới. Chính Abraham đã đặt ra tên Beersheva (Giếng thề).
Dưới bầu trời sa mạc nóng cháy Neguev (trung bình 36° C), người ta thấy gồm đủ hạng người, từ anh kỹ sư, nhạc sĩ đến chị bán hàng, chú thợ máy; từ bác tiến sĩ, thím giáo sư đến cô y tá, em sinh viên, cậu cu li. Bấy giờ mọi dị biệt xã hội giữa họ đều được san bằng, tất cả chỉ còn là những đứa con của Israël chung vai sát cánh hồi sinh vùng Đất Hứa.
Nhờ những cố gắng, những hy sinh như thế mà ngày nay du khách ghé Israël sẽ thấy cả vùng sa mạc Neguev đã mơn mởn màu xanh của lúa và trổ đầy hoa trái. Các giống nho lừng danh của Pháp như Bordelais, Beaujolais, Bourgogne cũng đã"sống"được trên sa mạc, khai sinh ra một thứ rượu vang nổi tiếng trong vùng Darom. Mỗi độ thu về, các vườn cam, vườn quýt, vườn bưởi, vườn chanh, vườn chuối, vườn chà-là ... trổ bông hương thơm ngào ngạt đến tận châu thành Tel Aviv.
Và không thể không nhắc tới tiến sĩ Samuel Appelbaum (sinh năm 1942), giám đốc trung tâm Bengis thuộc đại học Ben Gourion (Beersheva), người đã thành công trong công trình nghiên cứu ứng dụng nước mặn và nóng dưới lòng sa mạc Neguev vào canh tác trồng trọt, đặc biệt như aquaculture và pisciculture (tạm dịch: Thủy canh và Bể canh). Trước thập niên 1990, ý nghĩ nuôi tôm cá trên sa mạc là điều không tưởng, là ý tưởng làm phịch cười giới khoa học, thế mà nay Samuel Appelbaum đã kiên trì và đã làm được, do đó được mệnh danh là nhà tiên tri thời hiện đại.
(St) Đọc thêm!
Phương pháp dẫn thủy nhập điền rất công phu tỉ mỉ ở Việt Nam hay ở Trung Quốc đã làm thế giới ngạc nhiên, song đem so với những nổ lực phi thường của dân tộc được Chúa chọn thì hãy còn kém xa.
Mỗi năm vùng sa mạc Neguev chỉ giữ được từ 2 đến 4 phân nước. Như vậy, muốn trồng trọt thì phải có nhiều nước, nhưng làm thế nào?
Vấn đề thiếu nước ở Israël là nguyên nhân sinh ra lắm thứ thuế oái oăm. Ví dụ: Trong giá tiền một chai bia được tiêu thụ, một nửa là thuế dành cho công cuộc tìm nước. Họ đã nghĩ đến việc đào giếng, dùng nước mưa và nước biển, nhưng lấy đâu cho đủ nước trong khi ở đây mưa chẳng mấy lúc; còn nước biển thì ngoài công dụng cho kỹ nghệ ra, súc vật còn chịu không nổi huống hồ cỏ cây. Cho nên họ bèn thăm dò những dòng nước ngầm dưới lòng đất nằm ven biển và đã khám phá ra những nơi nầy có một tầng đất không thấm nước, chứa lại khá nhiều nước ngọt, chẳng hạn trong khu Avedat.
Hiện nay số nước rút được từ các nơi đó là khoảng 140 triệu thước khối trong một năm. Những vùng có nước ngầm đã trở nên bồn nước thiên nhiên dành cho cả khu vực Yarkon – Neguev. Nhất là từ khi sử dụng được dòng sông lịch sử Jourdain, tổng lượng số nước rút được hàng năm lên tới 5 tỉ thước khối đủ dùng cho mọi nhà, mọi ngành kỹ nghệ và 4 triệu dounams đất khô cháy (10 dounams tương đương với 1 héc-ta).
Để tránh việc phí phạm nước, dân israéliens bơm xuống lòng đất hàng triệu thước khối nước - kể cả nước cống đã được lọc và khử trùng – cho khỏi bị bốc hơi. Thật chưa dân tộc nào cần"nước"như người Do Thái. Song xét ra phương pháp đặt ống dẫn nước vẫn hiệu nghiệm hơn cả. Ống dẫn nước ở Israël có lẽ là loại ống dẫn kỹ lục: dài từ 4 đến 170 cs, nặng không dưới 32 tấn, mỗi đoạn 5 thước đường kính và 3 thước bề dài, đặt ngay trên mặt đất, có khi phải xuyên núi, vượt đèo và thung lũng. Hệ thống dẫn nước của họ là cho nước chạy theo ống dẫn lớn, qua ống nhỏ, phân ra làm muôn ngàn nhánh mỗi lúc mỗi bé để rồi tung ra ruộng nương, vườn tược qua các máy nước chẳng khác gì các trận mưa nhân tạo.
Nước chảy đến đâu, người dân tìm theo đến đấy và sự canh tác tiến triển tùy nhịp nước lan mau hay chậm.
Thủ đô của sa mạc Neguev là thành phố Beersheva, tụ điểm của hầu hết những người Do Thái hồi hương từ khắp nơi trên thế giới. Chính Abraham đã đặt ra tên Beersheva (Giếng thề).
Dưới bầu trời sa mạc nóng cháy Neguev (trung bình 36° C), người ta thấy gồm đủ hạng người, từ anh kỹ sư, nhạc sĩ đến chị bán hàng, chú thợ máy; từ bác tiến sĩ, thím giáo sư đến cô y tá, em sinh viên, cậu cu li. Bấy giờ mọi dị biệt xã hội giữa họ đều được san bằng, tất cả chỉ còn là những đứa con của Israël chung vai sát cánh hồi sinh vùng Đất Hứa.
Nhờ những cố gắng, những hy sinh như thế mà ngày nay du khách ghé Israël sẽ thấy cả vùng sa mạc Neguev đã mơn mởn màu xanh của lúa và trổ đầy hoa trái. Các giống nho lừng danh của Pháp như Bordelais, Beaujolais, Bourgogne cũng đã"sống"được trên sa mạc, khai sinh ra một thứ rượu vang nổi tiếng trong vùng Darom. Mỗi độ thu về, các vườn cam, vườn quýt, vườn bưởi, vườn chanh, vườn chuối, vườn chà-là ... trổ bông hương thơm ngào ngạt đến tận châu thành Tel Aviv.
Và không thể không nhắc tới tiến sĩ Samuel Appelbaum (sinh năm 1942), giám đốc trung tâm Bengis thuộc đại học Ben Gourion (Beersheva), người đã thành công trong công trình nghiên cứu ứng dụng nước mặn và nóng dưới lòng sa mạc Neguev vào canh tác trồng trọt, đặc biệt như aquaculture và pisciculture (tạm dịch: Thủy canh và Bể canh). Trước thập niên 1990, ý nghĩ nuôi tôm cá trên sa mạc là điều không tưởng, là ý tưởng làm phịch cười giới khoa học, thế mà nay Samuel Appelbaum đã kiên trì và đã làm được, do đó được mệnh danh là nhà tiên tri thời hiện đại.
(St) Đọc thêm!
Nghĩ Về Ảnh Hưởng Của Chúa Giê-Su
Mục Sư Nguyễn Văn Huệ
Trong lịch sử của nhân loại không có một người nào có ảnh hưởng tốt cho thế giới nầy hơn Chúa Giê-su. Danh Chúa Giê-su được nhắc đến, được tôn vinh hơn tất cả mọi danh. Sự xuất hiện của Chúa Giê-su trên thế giới đã chia đôi dòng lịch sử của nhân loại. Không một người nào có ngày sinh hay ngày chết mà không dựa trên năm sinh của Chúa Giê-su. Hiện nay có hơn 2 tỉ người tin nhận Chúa Giê-su, tôn thờ Ngài là Đấng Cứu Thế, cầu nguyện với Ngài và noi gương Ngài để tiếp tục biến đổi thế giới trở nên tốt đẹp hơn.
Skip to content
Skip to main navigation
Skip to 1st column
Skip to 2nd column
Skip to 2nd column
Hội ThánhHình Ảnh
Bài GiảngMS Võ Bá Thanh
MS Lê Thành Chung
MS Lâm Bảo Nhơn
Khách Mời
Phấn Hưng
Truyền Giảng-Tâm Tình Chứng Đạo
. ..
Nghĩ Về Ảnh Hưởng Của Chúa Giê-Su
Thursday, 29 July 2010 10:03 Mục sư Võ Bá Thanh
.
Mục Sư Nguyễn Văn Huệ
Trong lịch sử của nhân loại không có một người nào có ảnh hưởng tốt cho thế giới nầy hơn Chúa Giê-su. Danh Chúa Giê-su được nhắc đến, được tôn vinh hơn tất cả mọi danh. Sự xuất hiện của Chúa Giê-su trên thế giới đã chia đôi dòng lịch sử của nhân loại. Không một người nào có ngày sinh hay ngày chết mà không dựa trên năm sinh của Chúa Giê-su. Hiện nay có hơn 2 tỉ người tin nhận Chúa Giê-su, tôn thờ Ngài là Đấng Cứu Thế, cầu nguyện với Ngài và noi gương Ngài để tiếp tục biến đổi thế giới trở nên tốt đẹp hơn.
NGÀI ĐÃ ĐẾN TRONG THẾ GIỚI CÓ QUÁ NHIỀU NGƯỜI NÔ LỆ
Chúa Giê-su đã giáng thế cách nay hơn 2000 năm. Các môn đồ đầu tiên của Ngài đều là người Do Thái, nhưng nền văn hóa thế tục lúc bấy giờ chịu ảnh hưởng nặng bởi văn hóa Hy Lạp và La Mã. Ảnh hưởng văn hóa Hy Lạp do A-lịch-sơn Đại Đế truyền bá đã thâm nhập vào Đế Quốc La Mã tiếp theo sau đó và đã tạo nên văn hóa Hy La. Ngôn ngữ Hy Lạp được phát triển như một sinh ngữ quốc tế trong thế giới đương thời giống như tiếng Anh trong thế giới ngày nay. Kinh Thánh Tân Ước được viết bằng tiếng Hy Lạp. Nhưng văn hóa Hy La không coi trọng con người, chẳng hạn các triết gia Hy lạp như Aristote và Plato tin rằng hầu hết nhân loại đều mang bản tính nô lệ và chỉ xứng làm nô lệ. Tinh thần tương tự như thế đã mang vào nền văn hóa của người La Mã. Theo William Barclay, "Có khoảng 60,000,000 người nô lệ trong Đế Quốc La Mã, mỗi người nô lệ dưới mắt luật pháp không phải là một người nhưng chỉ là một vật, không có quyền gì cả."
Chúa Giê-su đã đến và sống giữa một thế giới mà con người không được coi trọng. Tuy nhiên, Ngài đã coi trọng con người. Các môn đồ đầu tiên của Ngài là những người bình dân, người đánh cá. Ngài tiếp xúc và đi lại giữa những người nghèo. Ngài nói chuyện với những người thâu thuế, những người phụ nữ sa ngã, những người bệnh tật, những thiếu nhi. Ngài được mô tả là "ăn chung với phường thâu thế và những tội nhân" (Mác 2:16).
Các môn đồ của Chúa đều chấp nhận sự kiện rằng trong cộng đồng tân tạo của Chúa là Hội Thánh, mọi thành viên đều bình đẳng trước mặt Đức Chúa Trời. Sứ đồ Phao-lô mô tả, "Tại đây không còn chia ra người Do Thái hoặc người Hy Lạp, không còn người nô lệ hay chủ nhân, không còn đàn ông hay đàn bà, vì trong Đức Chúa Giê-su Christ, anh em thảy đều làm một" (Ga-la-ti 3:28; Cô-lô-se 3:10-11). Nhờ Chúa Giê-su mà ngày nay nhân quyền được tôn trọng khắp nơi.
NGÀI DẠY MỌI NGƯỜI ĐỀU BÌNH ĐẲNG TRƯỚC MẶT ĐỨC CHÚA TRỜI
Quan điểm của Chúa Giê-su về sự bình đẳng của mọi người trước mặt Đức Chúa Trời đã làm cho người đương thời sững sốt, ngạc nhiên. Các môn đồ của Chúa thuộc đủ mọi thành phần xã hội. Thử tưởng tượng trong Hội Thánh đầu tiên có những người nô lệ được chọn lên làm lãnh đạo Hội Thánh, còn những chủ nhân thì làm hội viên. Dưới chân thập giá mọi người đều bằng nhau. Hội Thánh không chủ trương thay đổi ngay cục diện xã hội đương thời vì Chúa Giê-su muốn xây dựng vương quốc thiêng liêng trong lòng người, những người được thay đổi từ bên trong. Ngài phán, "Nước ta không thuộc thế gian nầy." Một thế kỷ trước đó, có một người tên Spartacus lãnh đạo một cuộc nỗi dậy của những người nô lệ, hậu quả là cuộc nỗi dậy đã bị đàn áp thẳng tay và có 6,000 người nô lệ đã bị tử hình. Truyền thống văn hóa của con người không dễ đổi thay. Người theo Chúa luôn luôn kiên nhẩn, chờ đợi thời điểm của Chúa làm. Cuối cùng chế độ nô lệ đã chấm dứt, bắt đầu bằng những người tin Chúa được thúc đẩy bởi tư tưởng của Chúa Giê-su. Tín hữu Chúa Giê-su là nhóm người đầu tiên phát động phong trào chống tệ buôn bán nô lệ. Ở Anh Quốc có William Wiberforce chỉ nhờ niềm tin nơi lời dạy của Chúa Giê-su đã tranh đấu cho việc chấm dứt nô lệ và sau rất nhiều gian khổ ông đã thành công. Năm 1833 chế độ nô lệ bị đặt ra ngoài vòng pháp luật ở Anh Quốc. Bị áp lực bởi những nhóm tín hữu trong nước, Anh Quốc đã đi đầu trong việc chống lại nạn nô lệ trên thế giới. Việc nầy ảnh hưởng đến Hoa Kỳ và nạn nô lệ tại đây đã chấm dứt trong thời Tổng Thống Abraham Lincoln. Nhờ Chúa Giê-su mà ý niệm "mọi người do Đức Chúa Trời sinh ra đều bình đẳng" đã được nói đến trong nhiều bản hiếp pháp của nhiều quốc gia.
NHỜ NGÀI, GIỚI PHỤ NỮ ĐƯỢC TÔN TRỌNG
Văn hóa thế kỷ thứ nhất coi người phụ nữ như đồ vật chứ không như con người. Dưới nền văn minh Hy Lạp, phụ nữ phải ở trong nhà và vâng lời chồng. "Họ phải thấy ít, nghe ít và nói ít." Họ không thể sống độc lập nhưng có thể bị chồng bỏ cách dễ dàng. Dưới luật La Mã, người phụ nữ không có quyền hạn gì. Họ mãi mãi giống như những đứa con nít. Ở nhà họ ở dưới quyền cha, theo đó người cha có quyền để cho sống hay giết chết, khi có chồng thì họ được chuyển qua quyền của chồng giống y như vậy. William Barclay cho biết một người La mã tên là Cato the Censor đã viết, "Nếu anh bắt được vợ anh đang có hành động bất trung, anh có thể giết nàng mà không cần xét xử."
Trong văn hóa Do Thái thế kỷ thứ nhất, người phụ nữ cũng bị coi thường. Lời làm chứng của họ được xem không có giá trị, vì thế họ thường không được phép làm chứng trước toà. Phụ nữ cũng được xem là không xứng đáng để được dạy dỗ những việc thuộc linh. Các môn đồ của Chúa Giê-su đều là người Do Thái, họ chịu ảnh hưởng của truyền thống văn hóa đương thời và đã kinh ngạc trước lời dạy và thái độ cũa Chúa Giê-su với giới phụ nữ. Họ kinh ngạc khi Chúa Giê-su nói chuyện với người đàn bà Sa-ma-ri, một phụ nữ và là người dân thuộc về một dân tộc bị người Do Thái coi khinh. Nhưng Chúa Giê-su đã nêu gương tốt yêu thương kính trọng mọi người, không phân biệt nam nữ, giàu nghèo và sau này các môn đồ đã noi theo gương Ngài. Họ đã dạy dỗ các phụ nữ và chấp nhận phụ nữ có đủ tư cách thành viên trong Hội Thánh. Các môn đồ sau nầy cũng đến giảng Tin Lành cho người dân Sa-ma-ri. Một môn đồ của Chúa Giê-su là Phi-e-rơ đã viết cho những người chồng rằng vợ của họ "sẽ cùng anh em hưởng phước sự sống, nên phải kính nể họ" (1 Phi-e-rơ 3:7). Sứ đồ Phao-lô cũng kính nể và làm việc chung với giới phụ nữ. Ông nhắc đến nhiều người phụ nữ danh tiếng trong thư ông gởi cho Hội Thánh Rô-ma (Rô-ma 16:12). Giới phụ nữ đã không được kính trọng như thế trong các truyền thống các tôn giáo và xã hội khác. Nếu không có Chúa Giê-su và những giáo huấn của Ngài, tình trạng "trọng nam khinh nữ" sẽ khó mà thay đổi trong xã hội loài người. Nhờ Chúa Giê-su mà nữ giới ngày nay bình đẳng với nam giới trong mọi phương diện.
NHỜ NGÀI, TRẺ EM ĐƯỢC BẢO VỆ VÀ YÊU THƯƠNG
Trẻ em là thành phần dễ bị thương tổn trong xã hội. Xã hội Hy La đối xử tàn bạo và lạnh lùng với giới trẻ em. Nhưng trong thời Cơ-đốc giáo thì khác. Ngay từ đầu Cơ-đốc giáo đã tử tế yêu thương, bảo vệ và nuôi dưỡng trẻ em. Việc giết chết trẻ em rất phổ biến ngoài xã hội. Những trẻ em mới sinh bị dị dạng, yếu sức thường bị trấn nước cho chết. Những bé gái mới sinh không được bảo vệ. Rất hiếm có gia đình Hy Lạp nuôi nhiều hơn một cô con gái cho dù gia đình đó giàu có đến đâu. Trong xã hội La Mã những ông cha giàu có thường quyết định giết con để khỏi phiền phức chia gia tài. Trẻ em cũng bị bỏ rơi. Thế giới Hy La vứt bỏ trẻ em ra đường, ai muốn nuôi thì đem về nuôi. Thông thường những người theo Chúa chẳng những lên án hành động vứt bỏ trẻ con nhưng đã đem các em về làm con nuôi. Truyền thống "Adoption" (nhận con nuôi) bắt đầu từ những người theo Chúa.
Nạn giết và vứt bỏ trẻ em đã không thấy xảy ra trong xã hội Do Thái vào thế kỷ thứ nhất. Chắc chắn truyền thống nầy chịu ảnh hưởng bởi lời dạy của Chúa trong Kinh Thánh Cựu Ước. Qua lời Chúa dạy, người Do Thái tin rằng mỗi người sinh ra đều mang hình ảnh Đức Chúa Trời và vì thế họ tin mạng sống con người là quý. Tuy nhiên Chúa Giê-su đã đi xa hơn xã hội đương thời trong thái độ đối với trẻ em. Trong Ma-thi-ơ 19:13-14, Chúa Giê-su bảo các môn đồ, hãy để con trẻ đến cùng Ngài, đừng ngăn cản, vì nước trời thuộc về những kẻ giống như con trẻ ấy. Xem thêm Lu-ca 18:15 cũng có lời Chúa dạy như thế. Đối với Chúa Giê-su, trẻ em là quan trọng và Ngài dạy chúng ta hãy nên đối xử với các em một cách yêu thương, đặc biệt quan tâm chăm sóc, không bao giờ làm cho trẻ em vấp phạm. Sứ đồ Phao-lô cũng dạy, "Hỡi các người làm cha, chớ chọc cho con cái mình giận dữ, hãy dùng sự sửa phạt khuyên bảo của Chúa mà nuôi nấng chúng nó (Ê-phê-sô 6:4). Trong một xã hội mà quyền người cha được tôn tuyệt đối như trong xã hội La Mã, những lời dạy của Phao-lô cho thấy tinh thần yêu thương đối với trẻ em là cân đối, đáng quý trọng. Trẻ em là cơ nghiệp Chúa ban và cũng hưởng ơn cứu rỗi giống như cha mẹ. Nhờ Chúa Giê-su mà thiếu nhi ngày nay được quý trọng và có tương lai.
NHỜ NGÀI, NHỮNG NGƯỜI ĐAU ỐM TẬT NGUYỀN ĐƯỢC THƯƠNG XÓT, CHỮA LÀNH
Thế giới thế kỷ thứ nhất không có chút cảm tình với người đau ốm tật nguyền. Không ai quan tâm đến việc làm giảm bớt khổ đau cho dân chúng. Lòng thương xót thật hiếm, chẳng hạn Plato (427-347 B.C.) nói rằng một người nghèo không làm việc được nữa vì bệnh phải để cho chết. Khi đến thế gian trong một thế giới thiếu lòng thương người như thế, Chúa Giê-su đã có thái độ khác biệt hoàn toàn. Ma-thi-ơ 14:14 mô tả, "Ngài ở thuyền bước lên, thấy đoàn dân đông đúc, động lòng thương xót, mà chữa cho kẻ bệnh được lành." Luca 9:1-2 mô tả, "Chúa Giê-su nhóm họp 12 sứ đồ, ban quyền năng phép tắc để trị quỷ chữa bệnh. Rồi Ngài sai đi rao giảng về nước Đức Chúa Trời cùng chữa lành kẻ có bệnh." Thế kỷ đầu tiên không có bệnh viện, nhà thương. Sau nầy những cơ sở từ thiện và bệnh viện đều là do các Hội Thánh của Chúa xây dựng và phát triển. Một sử gia đã viết, "Vào năm 750 sự phát triển của các bệnh viện Cơ-đốc, hoặc đứng riêng hoặc dính với các tu viện, đã lan tràn từ lục địa Âu Châu đến Anh Quốc." Trong thời hiện đại nhất là thế kỷ 20, nhiều bệnh viện lớn được xây dựng ở các nước Tây Phương. Ảnh hưởng của nền văn hóa Cơ-đốc về tình thương đối với người bệnh được tỏ ra trong con số rất lớn những bệnh viện danh tiếng mang tên của những tín hữu Cơ-đốc, những nhà lãnh đạo Cơ-đốc hay theo tên những Giáo Phái Tin Lành. Nhờ Chúa Giê-su mà nỗi đau của nhân loại đã vơi đi rất nhiều.
NHỜ NGÀI, TRAI GÁI ĐỀU ĐƯỢC HỌC HÀNH
Trường học không phải là mới trong thế kỷ thứ nhất. Thế nhưng chỉ có Cơ-đốc giáo mới đem lại quyền được học hành của mọi người, cả nam lẫn nữ, trai lẫn gái. Trong nền văn hóa Hy La chỉ có con trai của những người nhà giàu khá giả mới được học hành. Khi Hội Thánh được thành lập mọi tín hữu được khuyến khích học tập, để biết đọc và làm theo lời Chúa. Dần dần ảnh hưởng giáo dục của Hội Thánh lan tràn ra xã hội. Nhiều trường đại học đầu tiên ở Mỹ và Anh đều được thành lập với mục đích đào tạo giới lãnh đạo Hội Thánh và giúp các sinh viên học Kinh Thánh. Chẳng hạn khi trường Harvard College được chính thức thành lập năm 1650 nhằm mục đích giáo dục "những người trẻ của quốc gia nầy trong sự hiểu biết và tin kính Chúa". Cơ-đốc Giáo là cha đẻ của nền giáo dục hiện đại. Ở hầu hết các nước Âu Châu, Phi Châu và Nam Mỹ và nhiều nước trên thế giới, nạn thất học đã được đẩy lùi, chữ viết và sách vở được xuất bản, không phải là chuyện tình cờ nhưng là kết quả do những cố gắng của các giáo sĩ đem đến với lòng mong muốn mọi người đều được biết chữ để chẳng những đọc được lời Chúa nhưng để thoát cảnh tối tăm và theo kịp đà tiến của nhân loại. Chúng ta không quên chữ Quốc Ngữ (Việt Ngữ) do một Linh mục Công Giáo sáng chế và phổ biến. Các giáo sĩ Hội Dịch Kinh Thánh Wycliff cũng đã tạo ra chữ viết cho hàng ngàn dân tộc trên khắp thế giới. Kinh Thánh đã được dịch ra hơn 2000 thứ tiếng. Nhờ Chúa Giê-su mà nạn dốt chữ đang được đẩy lùi.
NHỜ NGÀI, NGƯỜI NGHÈO ĐƯỢC GIÚP ĐỠ
Trong xã hội Hy La, tinh thần vị kỷ "sống chết mặc ai" rất phổ biến như một lối sống. Chúa Giê-su đem đến lối sống vị tha, thương người như thể thương thân, hy sinh cứu giúp người khác, quên mình vì chính nghĩa, coi người khác như tôn trọng hơn mình. So với những người ngoại đạo, các tín hữu của Chúa Giê-su là những người rộng rãi nhất, họ ban ơn mà không mong người nhận ơn trả lại. Hơn nữa họ không chỉ ban cho những tín hữu khác mà còn ban cho cả người không tin nữa. Sứ đồ Phao-lô dạy, "Trong lúc có dịp tiện, hãy làm điều thiện cho mọi người, nhất là cho anh em cùng đức tin (Ga-la-ti 6:10). Đạo đức học Cơ-đốc luôn khuyến khích sự ban cho cách rộng rãi. Lời Chúa Giê-su luôn được nhắc đến, "Ban cho thì có phước hơn là nhận lãnh." Gương người Sa-ma-ri nhân lành do Chúa kể là gương thương người, cứu người hoạn nạn đã trở thành động cơ mạnh mẽ của những hội từ thiện khắp thế giới. Những đức tính khiêm nhường, thương xót, tha thứ, hy sinh vì người khác đều là những lời dạy và lối sống do Chúa Giê-su mang đến cho nhân loại. Nhiều người hiện nay đang làm theo gương Chúa Giê-su. Xã hội loài người có thay đổi lớn là nhờ ảnh hưởng của Chúa Giê-su. Một học giả Tây phương đã viết, "Dù là người tin hay không tin bạn cũng phải kính trọng Cơ-đốc giáo như là một phong trào đã tạo ra nền văn minh của chúng ta" (Believer and non-believer alike should respect Christianity as the movement that created our civilization. -D'Souza).
NGÀI LÀ MỘT NGƯỜI DO THÁI
Chúa Giê-su đến thế gian không phải làm người Trung Hoa, Ấn Độ hay Việt Nam, Ngài đến trong dòng giống người Do Thái. Ngài phán, "Sự cứu rỗi từ người Do Thái mà đến." Vậy bạn không nên nhờ cậy người Trung Hoa hay người Ấn Độ để được cứu rỗi nữa. Hãy nghe lời dạy của Chúa Giê-su. Hãy làm theo lời khuyên của Kinh Thánh. Đức Chúa Trời đã chọn Áp-ra-ham, tổ phụ của dân Do Thái, để làm nguồn phước cho các dân tộc trên thế giới. Áp-ra-ham là tổ phụ đức tin của cả khối người theo Do Thái Giáo, Cơ-đốc Giáo và Hồi Giáo. Ngày nay người Do Thái vẫn là một dân tộc đặc biệt trên thế giới. Từ năm 1901 đến năm 2007 trên thế giới có 777 giải Nobel dành cho những nhà bác học giỏi nhất và những nhân tài lỗi lạc nhất trên thế giới. Trong số đó có 176 người Do Thái được chọn trúng giải Nobel. Dân số Do Thái hiện nay khoảng 13 triệu người trên thế giới, nghĩa là chưa đến tỉ lệ 1% dân số thế giới, nhưng họ đã chiếm được 23.6% số giải Nobel trên thế giới. Thế giới vẫn tiếp tục ngạc nhiên về người Do Thái và lịch sử dân tộc Do Thái.
Bạn thân mến:
Trải qua hơn hai ngàn năm, thế giới có dân Do Thái tản lạc, tồn tại và hồi hương lập quốc. Nhân dân khắp năm châu có Cơ-đốc Giáo, có Lễ Giáng Sinh và Lễ Phục Sinh, có ngày Chúa Nhật, có niên hiệu Dương lịch Trước Chúa (TC) và Sau Chúa (SC), hằng năm có hàng triệu người hành hương thánh địa, có di tích ngôi mộ trống, có một phần ba dân số thế giới xưng mình là Cơ-đốc nhân (Christian), có nhà thờ, bệnh viện, có các Trường Đại Học, có các Đại Chủng Viện, có Hội Hồng Thập Tự và các tổ chức bác ái từ thiện, có nền văn minh, văn hóa hiện đại, có khoa học kỹ thuật tiên tiến, đời sống phụ nữ và trẻ em được nâng cao, nhân quyền được tôn trọng v.v... Rồi còn bao nhiêu cuộc đời đã được đổi mới với kinh nghiệm ngọt ngào, vui tươi, sống động khi gặp gỡ Chúa Cứu Thế Giê-su.
Tất cả những thực tế đó là kết quả của đời sống và ảnh hưởng của Chúa Giê-su. Chúng ta có thể kết luận rằng Chúa Giê-su là Đấng Cứu Nhân Độ Thế và thế giới không được như ngày nay nếu không có Ngài.
Những bằng chứng thực tế hùng hồn nói trên về đời sống và ảnh hưởng của Chúa Giê-su có làm cho bạn suy nghĩ ít nhiều về bổn phận của bạn đối với Chúa Giê-su hay không? Chỉ cần bình tĩnh sáng suốt suy nghĩ một chút cũng đủ để chúng ta tin Ngài, chạy đến với Ngài, cảm tạ Ngài và cảm kích tôn thờ Ngài. Chúa Giê-su xứng đáng làm Chúa, làm chủ của lòng bạn và lòng tôi.
Mục Sư Nguyễn Văn Huệ
http://www.vcbc-aurora.org/cms/index.php?option=com_content&view=article&id=37:ngh-v-nh-hng-ca-chua-gie-su&catid=7:truyen-giang&Itemid=12 Đọc thêm!
Trong lịch sử của nhân loại không có một người nào có ảnh hưởng tốt cho thế giới nầy hơn Chúa Giê-su. Danh Chúa Giê-su được nhắc đến, được tôn vinh hơn tất cả mọi danh. Sự xuất hiện của Chúa Giê-su trên thế giới đã chia đôi dòng lịch sử của nhân loại. Không một người nào có ngày sinh hay ngày chết mà không dựa trên năm sinh của Chúa Giê-su. Hiện nay có hơn 2 tỉ người tin nhận Chúa Giê-su, tôn thờ Ngài là Đấng Cứu Thế, cầu nguyện với Ngài và noi gương Ngài để tiếp tục biến đổi thế giới trở nên tốt đẹp hơn.
Skip to content
Skip to main navigation
Skip to 1st column
Skip to 2nd column
Skip to 2nd column
Hội ThánhHình Ảnh
Bài GiảngMS Võ Bá Thanh
MS Lê Thành Chung
MS Lâm Bảo Nhơn
Khách Mời
Phấn Hưng
Truyền Giảng-Tâm Tình Chứng Đạo
. ..
Nghĩ Về Ảnh Hưởng Của Chúa Giê-Su
Thursday, 29 July 2010 10:03 Mục sư Võ Bá Thanh
.
Mục Sư Nguyễn Văn Huệ
Trong lịch sử của nhân loại không có một người nào có ảnh hưởng tốt cho thế giới nầy hơn Chúa Giê-su. Danh Chúa Giê-su được nhắc đến, được tôn vinh hơn tất cả mọi danh. Sự xuất hiện của Chúa Giê-su trên thế giới đã chia đôi dòng lịch sử của nhân loại. Không một người nào có ngày sinh hay ngày chết mà không dựa trên năm sinh của Chúa Giê-su. Hiện nay có hơn 2 tỉ người tin nhận Chúa Giê-su, tôn thờ Ngài là Đấng Cứu Thế, cầu nguyện với Ngài và noi gương Ngài để tiếp tục biến đổi thế giới trở nên tốt đẹp hơn.
NGÀI ĐÃ ĐẾN TRONG THẾ GIỚI CÓ QUÁ NHIỀU NGƯỜI NÔ LỆ
Chúa Giê-su đã giáng thế cách nay hơn 2000 năm. Các môn đồ đầu tiên của Ngài đều là người Do Thái, nhưng nền văn hóa thế tục lúc bấy giờ chịu ảnh hưởng nặng bởi văn hóa Hy Lạp và La Mã. Ảnh hưởng văn hóa Hy Lạp do A-lịch-sơn Đại Đế truyền bá đã thâm nhập vào Đế Quốc La Mã tiếp theo sau đó và đã tạo nên văn hóa Hy La. Ngôn ngữ Hy Lạp được phát triển như một sinh ngữ quốc tế trong thế giới đương thời giống như tiếng Anh trong thế giới ngày nay. Kinh Thánh Tân Ước được viết bằng tiếng Hy Lạp. Nhưng văn hóa Hy La không coi trọng con người, chẳng hạn các triết gia Hy lạp như Aristote và Plato tin rằng hầu hết nhân loại đều mang bản tính nô lệ và chỉ xứng làm nô lệ. Tinh thần tương tự như thế đã mang vào nền văn hóa của người La Mã. Theo William Barclay, "Có khoảng 60,000,000 người nô lệ trong Đế Quốc La Mã, mỗi người nô lệ dưới mắt luật pháp không phải là một người nhưng chỉ là một vật, không có quyền gì cả."
Chúa Giê-su đã đến và sống giữa một thế giới mà con người không được coi trọng. Tuy nhiên, Ngài đã coi trọng con người. Các môn đồ đầu tiên của Ngài là những người bình dân, người đánh cá. Ngài tiếp xúc và đi lại giữa những người nghèo. Ngài nói chuyện với những người thâu thuế, những người phụ nữ sa ngã, những người bệnh tật, những thiếu nhi. Ngài được mô tả là "ăn chung với phường thâu thế và những tội nhân" (Mác 2:16).
Các môn đồ của Chúa đều chấp nhận sự kiện rằng trong cộng đồng tân tạo của Chúa là Hội Thánh, mọi thành viên đều bình đẳng trước mặt Đức Chúa Trời. Sứ đồ Phao-lô mô tả, "Tại đây không còn chia ra người Do Thái hoặc người Hy Lạp, không còn người nô lệ hay chủ nhân, không còn đàn ông hay đàn bà, vì trong Đức Chúa Giê-su Christ, anh em thảy đều làm một" (Ga-la-ti 3:28; Cô-lô-se 3:10-11). Nhờ Chúa Giê-su mà ngày nay nhân quyền được tôn trọng khắp nơi.
NGÀI DẠY MỌI NGƯỜI ĐỀU BÌNH ĐẲNG TRƯỚC MẶT ĐỨC CHÚA TRỜI
Quan điểm của Chúa Giê-su về sự bình đẳng của mọi người trước mặt Đức Chúa Trời đã làm cho người đương thời sững sốt, ngạc nhiên. Các môn đồ của Chúa thuộc đủ mọi thành phần xã hội. Thử tưởng tượng trong Hội Thánh đầu tiên có những người nô lệ được chọn lên làm lãnh đạo Hội Thánh, còn những chủ nhân thì làm hội viên. Dưới chân thập giá mọi người đều bằng nhau. Hội Thánh không chủ trương thay đổi ngay cục diện xã hội đương thời vì Chúa Giê-su muốn xây dựng vương quốc thiêng liêng trong lòng người, những người được thay đổi từ bên trong. Ngài phán, "Nước ta không thuộc thế gian nầy." Một thế kỷ trước đó, có một người tên Spartacus lãnh đạo một cuộc nỗi dậy của những người nô lệ, hậu quả là cuộc nỗi dậy đã bị đàn áp thẳng tay và có 6,000 người nô lệ đã bị tử hình. Truyền thống văn hóa của con người không dễ đổi thay. Người theo Chúa luôn luôn kiên nhẩn, chờ đợi thời điểm của Chúa làm. Cuối cùng chế độ nô lệ đã chấm dứt, bắt đầu bằng những người tin Chúa được thúc đẩy bởi tư tưởng của Chúa Giê-su. Tín hữu Chúa Giê-su là nhóm người đầu tiên phát động phong trào chống tệ buôn bán nô lệ. Ở Anh Quốc có William Wiberforce chỉ nhờ niềm tin nơi lời dạy của Chúa Giê-su đã tranh đấu cho việc chấm dứt nô lệ và sau rất nhiều gian khổ ông đã thành công. Năm 1833 chế độ nô lệ bị đặt ra ngoài vòng pháp luật ở Anh Quốc. Bị áp lực bởi những nhóm tín hữu trong nước, Anh Quốc đã đi đầu trong việc chống lại nạn nô lệ trên thế giới. Việc nầy ảnh hưởng đến Hoa Kỳ và nạn nô lệ tại đây đã chấm dứt trong thời Tổng Thống Abraham Lincoln. Nhờ Chúa Giê-su mà ý niệm "mọi người do Đức Chúa Trời sinh ra đều bình đẳng" đã được nói đến trong nhiều bản hiếp pháp của nhiều quốc gia.
NHỜ NGÀI, GIỚI PHỤ NỮ ĐƯỢC TÔN TRỌNG
Văn hóa thế kỷ thứ nhất coi người phụ nữ như đồ vật chứ không như con người. Dưới nền văn minh Hy Lạp, phụ nữ phải ở trong nhà và vâng lời chồng. "Họ phải thấy ít, nghe ít và nói ít." Họ không thể sống độc lập nhưng có thể bị chồng bỏ cách dễ dàng. Dưới luật La Mã, người phụ nữ không có quyền hạn gì. Họ mãi mãi giống như những đứa con nít. Ở nhà họ ở dưới quyền cha, theo đó người cha có quyền để cho sống hay giết chết, khi có chồng thì họ được chuyển qua quyền của chồng giống y như vậy. William Barclay cho biết một người La mã tên là Cato the Censor đã viết, "Nếu anh bắt được vợ anh đang có hành động bất trung, anh có thể giết nàng mà không cần xét xử."
Trong văn hóa Do Thái thế kỷ thứ nhất, người phụ nữ cũng bị coi thường. Lời làm chứng của họ được xem không có giá trị, vì thế họ thường không được phép làm chứng trước toà. Phụ nữ cũng được xem là không xứng đáng để được dạy dỗ những việc thuộc linh. Các môn đồ của Chúa Giê-su đều là người Do Thái, họ chịu ảnh hưởng của truyền thống văn hóa đương thời và đã kinh ngạc trước lời dạy và thái độ cũa Chúa Giê-su với giới phụ nữ. Họ kinh ngạc khi Chúa Giê-su nói chuyện với người đàn bà Sa-ma-ri, một phụ nữ và là người dân thuộc về một dân tộc bị người Do Thái coi khinh. Nhưng Chúa Giê-su đã nêu gương tốt yêu thương kính trọng mọi người, không phân biệt nam nữ, giàu nghèo và sau này các môn đồ đã noi theo gương Ngài. Họ đã dạy dỗ các phụ nữ và chấp nhận phụ nữ có đủ tư cách thành viên trong Hội Thánh. Các môn đồ sau nầy cũng đến giảng Tin Lành cho người dân Sa-ma-ri. Một môn đồ của Chúa Giê-su là Phi-e-rơ đã viết cho những người chồng rằng vợ của họ "sẽ cùng anh em hưởng phước sự sống, nên phải kính nể họ" (1 Phi-e-rơ 3:7). Sứ đồ Phao-lô cũng kính nể và làm việc chung với giới phụ nữ. Ông nhắc đến nhiều người phụ nữ danh tiếng trong thư ông gởi cho Hội Thánh Rô-ma (Rô-ma 16:12). Giới phụ nữ đã không được kính trọng như thế trong các truyền thống các tôn giáo và xã hội khác. Nếu không có Chúa Giê-su và những giáo huấn của Ngài, tình trạng "trọng nam khinh nữ" sẽ khó mà thay đổi trong xã hội loài người. Nhờ Chúa Giê-su mà nữ giới ngày nay bình đẳng với nam giới trong mọi phương diện.
NHỜ NGÀI, TRẺ EM ĐƯỢC BẢO VỆ VÀ YÊU THƯƠNG
Trẻ em là thành phần dễ bị thương tổn trong xã hội. Xã hội Hy La đối xử tàn bạo và lạnh lùng với giới trẻ em. Nhưng trong thời Cơ-đốc giáo thì khác. Ngay từ đầu Cơ-đốc giáo đã tử tế yêu thương, bảo vệ và nuôi dưỡng trẻ em. Việc giết chết trẻ em rất phổ biến ngoài xã hội. Những trẻ em mới sinh bị dị dạng, yếu sức thường bị trấn nước cho chết. Những bé gái mới sinh không được bảo vệ. Rất hiếm có gia đình Hy Lạp nuôi nhiều hơn một cô con gái cho dù gia đình đó giàu có đến đâu. Trong xã hội La Mã những ông cha giàu có thường quyết định giết con để khỏi phiền phức chia gia tài. Trẻ em cũng bị bỏ rơi. Thế giới Hy La vứt bỏ trẻ em ra đường, ai muốn nuôi thì đem về nuôi. Thông thường những người theo Chúa chẳng những lên án hành động vứt bỏ trẻ con nhưng đã đem các em về làm con nuôi. Truyền thống "Adoption" (nhận con nuôi) bắt đầu từ những người theo Chúa.
Nạn giết và vứt bỏ trẻ em đã không thấy xảy ra trong xã hội Do Thái vào thế kỷ thứ nhất. Chắc chắn truyền thống nầy chịu ảnh hưởng bởi lời dạy của Chúa trong Kinh Thánh Cựu Ước. Qua lời Chúa dạy, người Do Thái tin rằng mỗi người sinh ra đều mang hình ảnh Đức Chúa Trời và vì thế họ tin mạng sống con người là quý. Tuy nhiên Chúa Giê-su đã đi xa hơn xã hội đương thời trong thái độ đối với trẻ em. Trong Ma-thi-ơ 19:13-14, Chúa Giê-su bảo các môn đồ, hãy để con trẻ đến cùng Ngài, đừng ngăn cản, vì nước trời thuộc về những kẻ giống như con trẻ ấy. Xem thêm Lu-ca 18:15 cũng có lời Chúa dạy như thế. Đối với Chúa Giê-su, trẻ em là quan trọng và Ngài dạy chúng ta hãy nên đối xử với các em một cách yêu thương, đặc biệt quan tâm chăm sóc, không bao giờ làm cho trẻ em vấp phạm. Sứ đồ Phao-lô cũng dạy, "Hỡi các người làm cha, chớ chọc cho con cái mình giận dữ, hãy dùng sự sửa phạt khuyên bảo của Chúa mà nuôi nấng chúng nó (Ê-phê-sô 6:4). Trong một xã hội mà quyền người cha được tôn tuyệt đối như trong xã hội La Mã, những lời dạy của Phao-lô cho thấy tinh thần yêu thương đối với trẻ em là cân đối, đáng quý trọng. Trẻ em là cơ nghiệp Chúa ban và cũng hưởng ơn cứu rỗi giống như cha mẹ. Nhờ Chúa Giê-su mà thiếu nhi ngày nay được quý trọng và có tương lai.
NHỜ NGÀI, NHỮNG NGƯỜI ĐAU ỐM TẬT NGUYỀN ĐƯỢC THƯƠNG XÓT, CHỮA LÀNH
Thế giới thế kỷ thứ nhất không có chút cảm tình với người đau ốm tật nguyền. Không ai quan tâm đến việc làm giảm bớt khổ đau cho dân chúng. Lòng thương xót thật hiếm, chẳng hạn Plato (427-347 B.C.) nói rằng một người nghèo không làm việc được nữa vì bệnh phải để cho chết. Khi đến thế gian trong một thế giới thiếu lòng thương người như thế, Chúa Giê-su đã có thái độ khác biệt hoàn toàn. Ma-thi-ơ 14:14 mô tả, "Ngài ở thuyền bước lên, thấy đoàn dân đông đúc, động lòng thương xót, mà chữa cho kẻ bệnh được lành." Luca 9:1-2 mô tả, "Chúa Giê-su nhóm họp 12 sứ đồ, ban quyền năng phép tắc để trị quỷ chữa bệnh. Rồi Ngài sai đi rao giảng về nước Đức Chúa Trời cùng chữa lành kẻ có bệnh." Thế kỷ đầu tiên không có bệnh viện, nhà thương. Sau nầy những cơ sở từ thiện và bệnh viện đều là do các Hội Thánh của Chúa xây dựng và phát triển. Một sử gia đã viết, "Vào năm 750 sự phát triển của các bệnh viện Cơ-đốc, hoặc đứng riêng hoặc dính với các tu viện, đã lan tràn từ lục địa Âu Châu đến Anh Quốc." Trong thời hiện đại nhất là thế kỷ 20, nhiều bệnh viện lớn được xây dựng ở các nước Tây Phương. Ảnh hưởng của nền văn hóa Cơ-đốc về tình thương đối với người bệnh được tỏ ra trong con số rất lớn những bệnh viện danh tiếng mang tên của những tín hữu Cơ-đốc, những nhà lãnh đạo Cơ-đốc hay theo tên những Giáo Phái Tin Lành. Nhờ Chúa Giê-su mà nỗi đau của nhân loại đã vơi đi rất nhiều.
NHỜ NGÀI, TRAI GÁI ĐỀU ĐƯỢC HỌC HÀNH
Trường học không phải là mới trong thế kỷ thứ nhất. Thế nhưng chỉ có Cơ-đốc giáo mới đem lại quyền được học hành của mọi người, cả nam lẫn nữ, trai lẫn gái. Trong nền văn hóa Hy La chỉ có con trai của những người nhà giàu khá giả mới được học hành. Khi Hội Thánh được thành lập mọi tín hữu được khuyến khích học tập, để biết đọc và làm theo lời Chúa. Dần dần ảnh hưởng giáo dục của Hội Thánh lan tràn ra xã hội. Nhiều trường đại học đầu tiên ở Mỹ và Anh đều được thành lập với mục đích đào tạo giới lãnh đạo Hội Thánh và giúp các sinh viên học Kinh Thánh. Chẳng hạn khi trường Harvard College được chính thức thành lập năm 1650 nhằm mục đích giáo dục "những người trẻ của quốc gia nầy trong sự hiểu biết và tin kính Chúa". Cơ-đốc Giáo là cha đẻ của nền giáo dục hiện đại. Ở hầu hết các nước Âu Châu, Phi Châu và Nam Mỹ và nhiều nước trên thế giới, nạn thất học đã được đẩy lùi, chữ viết và sách vở được xuất bản, không phải là chuyện tình cờ nhưng là kết quả do những cố gắng của các giáo sĩ đem đến với lòng mong muốn mọi người đều được biết chữ để chẳng những đọc được lời Chúa nhưng để thoát cảnh tối tăm và theo kịp đà tiến của nhân loại. Chúng ta không quên chữ Quốc Ngữ (Việt Ngữ) do một Linh mục Công Giáo sáng chế và phổ biến. Các giáo sĩ Hội Dịch Kinh Thánh Wycliff cũng đã tạo ra chữ viết cho hàng ngàn dân tộc trên khắp thế giới. Kinh Thánh đã được dịch ra hơn 2000 thứ tiếng. Nhờ Chúa Giê-su mà nạn dốt chữ đang được đẩy lùi.
NHỜ NGÀI, NGƯỜI NGHÈO ĐƯỢC GIÚP ĐỠ
Trong xã hội Hy La, tinh thần vị kỷ "sống chết mặc ai" rất phổ biến như một lối sống. Chúa Giê-su đem đến lối sống vị tha, thương người như thể thương thân, hy sinh cứu giúp người khác, quên mình vì chính nghĩa, coi người khác như tôn trọng hơn mình. So với những người ngoại đạo, các tín hữu của Chúa Giê-su là những người rộng rãi nhất, họ ban ơn mà không mong người nhận ơn trả lại. Hơn nữa họ không chỉ ban cho những tín hữu khác mà còn ban cho cả người không tin nữa. Sứ đồ Phao-lô dạy, "Trong lúc có dịp tiện, hãy làm điều thiện cho mọi người, nhất là cho anh em cùng đức tin (Ga-la-ti 6:10). Đạo đức học Cơ-đốc luôn khuyến khích sự ban cho cách rộng rãi. Lời Chúa Giê-su luôn được nhắc đến, "Ban cho thì có phước hơn là nhận lãnh." Gương người Sa-ma-ri nhân lành do Chúa kể là gương thương người, cứu người hoạn nạn đã trở thành động cơ mạnh mẽ của những hội từ thiện khắp thế giới. Những đức tính khiêm nhường, thương xót, tha thứ, hy sinh vì người khác đều là những lời dạy và lối sống do Chúa Giê-su mang đến cho nhân loại. Nhiều người hiện nay đang làm theo gương Chúa Giê-su. Xã hội loài người có thay đổi lớn là nhờ ảnh hưởng của Chúa Giê-su. Một học giả Tây phương đã viết, "Dù là người tin hay không tin bạn cũng phải kính trọng Cơ-đốc giáo như là một phong trào đã tạo ra nền văn minh của chúng ta" (Believer and non-believer alike should respect Christianity as the movement that created our civilization. -D'Souza).
NGÀI LÀ MỘT NGƯỜI DO THÁI
Chúa Giê-su đến thế gian không phải làm người Trung Hoa, Ấn Độ hay Việt Nam, Ngài đến trong dòng giống người Do Thái. Ngài phán, "Sự cứu rỗi từ người Do Thái mà đến." Vậy bạn không nên nhờ cậy người Trung Hoa hay người Ấn Độ để được cứu rỗi nữa. Hãy nghe lời dạy của Chúa Giê-su. Hãy làm theo lời khuyên của Kinh Thánh. Đức Chúa Trời đã chọn Áp-ra-ham, tổ phụ của dân Do Thái, để làm nguồn phước cho các dân tộc trên thế giới. Áp-ra-ham là tổ phụ đức tin của cả khối người theo Do Thái Giáo, Cơ-đốc Giáo và Hồi Giáo. Ngày nay người Do Thái vẫn là một dân tộc đặc biệt trên thế giới. Từ năm 1901 đến năm 2007 trên thế giới có 777 giải Nobel dành cho những nhà bác học giỏi nhất và những nhân tài lỗi lạc nhất trên thế giới. Trong số đó có 176 người Do Thái được chọn trúng giải Nobel. Dân số Do Thái hiện nay khoảng 13 triệu người trên thế giới, nghĩa là chưa đến tỉ lệ 1% dân số thế giới, nhưng họ đã chiếm được 23.6% số giải Nobel trên thế giới. Thế giới vẫn tiếp tục ngạc nhiên về người Do Thái và lịch sử dân tộc Do Thái.
Bạn thân mến:
Trải qua hơn hai ngàn năm, thế giới có dân Do Thái tản lạc, tồn tại và hồi hương lập quốc. Nhân dân khắp năm châu có Cơ-đốc Giáo, có Lễ Giáng Sinh và Lễ Phục Sinh, có ngày Chúa Nhật, có niên hiệu Dương lịch Trước Chúa (TC) và Sau Chúa (SC), hằng năm có hàng triệu người hành hương thánh địa, có di tích ngôi mộ trống, có một phần ba dân số thế giới xưng mình là Cơ-đốc nhân (Christian), có nhà thờ, bệnh viện, có các Trường Đại Học, có các Đại Chủng Viện, có Hội Hồng Thập Tự và các tổ chức bác ái từ thiện, có nền văn minh, văn hóa hiện đại, có khoa học kỹ thuật tiên tiến, đời sống phụ nữ và trẻ em được nâng cao, nhân quyền được tôn trọng v.v... Rồi còn bao nhiêu cuộc đời đã được đổi mới với kinh nghiệm ngọt ngào, vui tươi, sống động khi gặp gỡ Chúa Cứu Thế Giê-su.
Tất cả những thực tế đó là kết quả của đời sống và ảnh hưởng của Chúa Giê-su. Chúng ta có thể kết luận rằng Chúa Giê-su là Đấng Cứu Nhân Độ Thế và thế giới không được như ngày nay nếu không có Ngài.
Những bằng chứng thực tế hùng hồn nói trên về đời sống và ảnh hưởng của Chúa Giê-su có làm cho bạn suy nghĩ ít nhiều về bổn phận của bạn đối với Chúa Giê-su hay không? Chỉ cần bình tĩnh sáng suốt suy nghĩ một chút cũng đủ để chúng ta tin Ngài, chạy đến với Ngài, cảm tạ Ngài và cảm kích tôn thờ Ngài. Chúa Giê-su xứng đáng làm Chúa, làm chủ của lòng bạn và lòng tôi.
Mục Sư Nguyễn Văn Huệ
http://www.vcbc-aurora.org/cms/index.php?option=com_content&view=article&id=37:ngh-v-nh-hng-ca-chua-gie-su&catid=7:truyen-giang&Itemid=12 Đọc thêm!
“Bên bờ sông Babylon, ta ngồi ta khóc ta nhớ Zion”
SGTT.VN - Đó là lời ca ai oán của dân Do Thái thuở bị lưu đày sang Babylon. Zion (hay Sion) là một ngọn núi nằm bên ngoài thành Jerusalem và được xem như một biểu tượng của đất nước Do Thái (cũng từ đó ra đời phong trào phục quốc của người Do Thái cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20 có tên là phong trào Sion, chủ nghĩa Sion).
Từ thế kỷ thứ 2, sau khi cuộc nổi dậy cuối cùng chống đế quốc La Mã bị đè bẹp, dân Do Thái bắt đầu thời kỳ gọi là Diaspora, bị lưu tán khắp nơi gần 2.000 năm, cho đến tận năm 1948 khi họ tái lập được nhà nước của mình. Trong thời kỳ Diaspora dài dằng dặc ấy, người Do Thái sống cảnh lưu đày, bị cô lập trong những khu ghetto khép kín ở các đô thị khắp châu Âu, nhưng vẫn cố gắng duy trì cộng đồng tôn giáo, văn hoá, lối sống, tập quán của mình và nuôi hy vọng một ngày trở về Đất hứa, trở về núi Zion. Cuối cùng, nương theo thời thế và cục diện thế giới với phong trào phục quốc Sion làm nòng cốt, ước mơ trở về quê hương của họ đã thành hiện thực.
Các đế quốc từng chinh phục mảnh đất Israel hưng thịnh rồi suy tàn, các triều đại đến rồi đi, chỉ có khát vọng tái lập quốc của dân tộc Do Thái là vẫn dai dẳng qua bao nhiêu thế kỷ dù 6 triệu người Do Thái đã bị tàn sát trong các trại tập trung của Đức quốc xã, 15 triệu trẻ em Do Thái bị chết trong những cuộc tàn sát (pogroms) khắp châu Âu. Như vậy, xét về mặt bị đoạ đày và khổ đau vì bị mất nước, bị bắt làm nô lệ cho người ngoài, giữa dân tộc Do Thái và dân tộc Việt Nam, xem ra chưa biết ai bị đày đoạ, khổ đau hơn ai.
Trong lịch sử và Kinh Thánh của người Do Thái cũng có nhiều câu chuyện khá gần với lịch sử và truyền thuyết của dân tộc Việt Nam: câu chuyện chàng David nhỏ bé nhưng thông minh đánh bại người khổng lồ Goliath khiến ta liên tưởng đến câu chuyện Phù Đổng từ một cậu bé vươn vai thành một dũng sĩ đánh bại giặc Ân xâm lược nước ta; hay câu chuyện tình bi thảm giữa Samson, người hùng của dân Do Thái và Delilah, một phụ nữ ngoại tộc (người đã ăn cắp được bí mật về sức mạnh phi thường của Samson trong cuộc chiến chống bộ tộc Philistines thù địch khiến cuối cùng Samson phải trả giá bằng chính mạng sống của mình, còn dân Do Thái thì bị ngoại nhân thống trị) có cái gì đó giống như câu chuyện tình Trọng Thuỷ – Mỵ Châu và bí mật về chiếc nỏ thần bị Trọng Thuỷ đánh cắp, dẫn đến việc An Dương Vương mất nước và Mỵ Châu bị vua cha chém.
Nếu Việt Nam từng bị mất nước, bị rơi vào vòng nô lệ trong 1.000 năm Bắc thuộc và 100 năm bị Pháp đô hộ, hai lần bị chia cắt lâu dài và trải qua nhiều cuộc kháng chiến gian khổ chống xâm lược thì dân Do Thái nhiều lần bị bắt làm nô lệ không phải ngay trên đất nước mình mà bị lưu đày khỏi quê hương đến những đất nước xa lạ. Nếu dân tộc Việt Nam có thể tự hào vì nhiều lần kiên cường, bất khuất chống ngoại xâm trong suốt chiều dài lịch sử của mình thì người Do Thái cũng từng kiên cường chống xâm lược La Mã cho đến khi nhà nước của họ bị diệt vong, nhưng họ vẫn bền bỉ nuôi dưỡng ý chí phục quốc cho đến ngày thành công.
Gần hơn, nếu Việt Nam giành độc lập năm 1945 từ tay thực dân Pháp thì Israel cũng tuyên bố độc lập vào năm 1948, sau khi nổi dậy chống chính quyền uỷ trị của Anh. Cái khác là, trong khi Việt Nam phải tiến hành hai cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập, thống nhất đất nước thì Israel, bị bao vây giữa những nước Arập thù địch, đã buộc phải dựa vào cái ô che chắn của cường quốc mạnh nhất thế giới và sự ủng hộ về nhân lực, tài chính, chất xám của cộng đồng Do Thái ở khắp nơi trên thế giới để tập trung xây dựng tiềm lực quân sự, kinh tế, khoa học kỹ thuật để trở thành một quốc gia phát triển như ngày nay, với thu nhập bình quân đầu người trên 27.000 đôla (năm 2008), đứng hàng thứ 25 trên thế giới, theo World Bank.
Theo Cựu ước (Kinh Thánh của người Do Thái), Samson được Chúa ban cho sức mạnh phi thường nhằm giải thoát dân Do Thái khỏi ách thống trị của người Philistines. Sức mạnh của Samson nằm ở bảy mớ tóc trên đầu mà Samson đã hứa với Chúa sẽ không bao giờ cắt. Nhưng vì chiều lòng Delilah, Samson đã tiết lộ bí quyết sức mạnh của mình cho vợ, bị vợ lén cắt bảy mớ tóc lúc ngủ và vì thế mất hết sức mạnh và bị quân địch bắt. Cuối cùng, khi bị giải ra trước công đường, Samson, lúc này tóc đã bắt đầu mọc lại, đã giật sập công đường, giết nhiều quân địch và cùng chết dưới đống đổ nát. Câu chuyện tình Samson – Delilah đã trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều loại hình nghệ thuật ở phương Tây và đã hai lần được dựng thành phim.
Israel hàng năm vẫn nhận được 3 tỉ đôla viện trợ Mỹ và 500 triệu đôla của nước Đức như một sự đền bù cho những khổ đau mà Đức quốc xã đã gây ra cho người Do Thái trong Thế chiến 2. Tuy vậy, đó không phải là tất cả. Dù lúc nào cũng phải căng mình ra đối phó với các quốc gia Arập láng giềng, gần như ở trong trạng thái chiến tranh thường trực, tài nguyên thiên nhiên ít ỏi, kinh tế Israel vẫn phát triển với những ngành mũi nhọn như công nghệ viễn thông liên lạc, công nghệ máy tính, chế tác kim cương, nông nghiệp công nghệ cao. Viện công nghệ Technion ở thành phố cảng Haifa là một viện nghiên cứu công nghệ cao nổi tiếng quốc tế của Israel với hai giáo sư của trường từng đoạt giải Nobel hoá học, được thành lập từ năm 1912, tức 36 năm trước ngày nhà nước Israel được thành lập. Còn đại học Hebrew ở Jerusalem đã được những người Do Thái theo phong trào Sion thai nghén từ năm 1884, đặt viên đá đầu tiên vào năm 1918 và khai trương năm 1925, tức 23 năm trước khi thành lập nhà nước Israel. Trong hội đồng quản lý đầu tiên của trường có tên của những nhà khoa học lừng danh như Albert Einstein, Sigmund Freud, Martin Buber… Trường có hai người đoạt giải Nobel Kinh tế, hai người tốt nghiệp từ trường này đoạt giải Nobel Hoá học, một người đoạt Nobel Vật lý.
Điều đó cho thấy tầm nhìn của người Do Thái và việc họ đặt trọng tâm phát triển vào đâu trong một đất nước ít tài nguyên thiên nhiên, lại nằm trong vòng vây của những láng giềng thù địch. Cũng cần nói thêm, dù ở trong tình trạng chiến tranh thường trực và phải thường xuyên đối phó với những cuộc tấn công khủng bố, Israel vẫn là một nước dân chủ đại nghị.
bài và ảnh: Đoàn Khắc Xuyên
http://sgtt.vn/Am-thuc-du-lich/148054/%E2%80%9CBen-bo-song-Babylon-ta-ngoi-ta-khoc-ta-nho-Zion%E2%80%9D.html
Đọc thêm!
Từ thế kỷ thứ 2, sau khi cuộc nổi dậy cuối cùng chống đế quốc La Mã bị đè bẹp, dân Do Thái bắt đầu thời kỳ gọi là Diaspora, bị lưu tán khắp nơi gần 2.000 năm, cho đến tận năm 1948 khi họ tái lập được nhà nước của mình. Trong thời kỳ Diaspora dài dằng dặc ấy, người Do Thái sống cảnh lưu đày, bị cô lập trong những khu ghetto khép kín ở các đô thị khắp châu Âu, nhưng vẫn cố gắng duy trì cộng đồng tôn giáo, văn hoá, lối sống, tập quán của mình và nuôi hy vọng một ngày trở về Đất hứa, trở về núi Zion. Cuối cùng, nương theo thời thế và cục diện thế giới với phong trào phục quốc Sion làm nòng cốt, ước mơ trở về quê hương của họ đã thành hiện thực.
Các đế quốc từng chinh phục mảnh đất Israel hưng thịnh rồi suy tàn, các triều đại đến rồi đi, chỉ có khát vọng tái lập quốc của dân tộc Do Thái là vẫn dai dẳng qua bao nhiêu thế kỷ dù 6 triệu người Do Thái đã bị tàn sát trong các trại tập trung của Đức quốc xã, 15 triệu trẻ em Do Thái bị chết trong những cuộc tàn sát (pogroms) khắp châu Âu. Như vậy, xét về mặt bị đoạ đày và khổ đau vì bị mất nước, bị bắt làm nô lệ cho người ngoài, giữa dân tộc Do Thái và dân tộc Việt Nam, xem ra chưa biết ai bị đày đoạ, khổ đau hơn ai.
Trong lịch sử và Kinh Thánh của người Do Thái cũng có nhiều câu chuyện khá gần với lịch sử và truyền thuyết của dân tộc Việt Nam: câu chuyện chàng David nhỏ bé nhưng thông minh đánh bại người khổng lồ Goliath khiến ta liên tưởng đến câu chuyện Phù Đổng từ một cậu bé vươn vai thành một dũng sĩ đánh bại giặc Ân xâm lược nước ta; hay câu chuyện tình bi thảm giữa Samson, người hùng của dân Do Thái và Delilah, một phụ nữ ngoại tộc (người đã ăn cắp được bí mật về sức mạnh phi thường của Samson trong cuộc chiến chống bộ tộc Philistines thù địch khiến cuối cùng Samson phải trả giá bằng chính mạng sống của mình, còn dân Do Thái thì bị ngoại nhân thống trị) có cái gì đó giống như câu chuyện tình Trọng Thuỷ – Mỵ Châu và bí mật về chiếc nỏ thần bị Trọng Thuỷ đánh cắp, dẫn đến việc An Dương Vương mất nước và Mỵ Châu bị vua cha chém.
Nếu Việt Nam từng bị mất nước, bị rơi vào vòng nô lệ trong 1.000 năm Bắc thuộc và 100 năm bị Pháp đô hộ, hai lần bị chia cắt lâu dài và trải qua nhiều cuộc kháng chiến gian khổ chống xâm lược thì dân Do Thái nhiều lần bị bắt làm nô lệ không phải ngay trên đất nước mình mà bị lưu đày khỏi quê hương đến những đất nước xa lạ. Nếu dân tộc Việt Nam có thể tự hào vì nhiều lần kiên cường, bất khuất chống ngoại xâm trong suốt chiều dài lịch sử của mình thì người Do Thái cũng từng kiên cường chống xâm lược La Mã cho đến khi nhà nước của họ bị diệt vong, nhưng họ vẫn bền bỉ nuôi dưỡng ý chí phục quốc cho đến ngày thành công.
Gần hơn, nếu Việt Nam giành độc lập năm 1945 từ tay thực dân Pháp thì Israel cũng tuyên bố độc lập vào năm 1948, sau khi nổi dậy chống chính quyền uỷ trị của Anh. Cái khác là, trong khi Việt Nam phải tiến hành hai cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập, thống nhất đất nước thì Israel, bị bao vây giữa những nước Arập thù địch, đã buộc phải dựa vào cái ô che chắn của cường quốc mạnh nhất thế giới và sự ủng hộ về nhân lực, tài chính, chất xám của cộng đồng Do Thái ở khắp nơi trên thế giới để tập trung xây dựng tiềm lực quân sự, kinh tế, khoa học kỹ thuật để trở thành một quốc gia phát triển như ngày nay, với thu nhập bình quân đầu người trên 27.000 đôla (năm 2008), đứng hàng thứ 25 trên thế giới, theo World Bank.
Theo Cựu ước (Kinh Thánh của người Do Thái), Samson được Chúa ban cho sức mạnh phi thường nhằm giải thoát dân Do Thái khỏi ách thống trị của người Philistines. Sức mạnh của Samson nằm ở bảy mớ tóc trên đầu mà Samson đã hứa với Chúa sẽ không bao giờ cắt. Nhưng vì chiều lòng Delilah, Samson đã tiết lộ bí quyết sức mạnh của mình cho vợ, bị vợ lén cắt bảy mớ tóc lúc ngủ và vì thế mất hết sức mạnh và bị quân địch bắt. Cuối cùng, khi bị giải ra trước công đường, Samson, lúc này tóc đã bắt đầu mọc lại, đã giật sập công đường, giết nhiều quân địch và cùng chết dưới đống đổ nát. Câu chuyện tình Samson – Delilah đã trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều loại hình nghệ thuật ở phương Tây và đã hai lần được dựng thành phim.
Israel hàng năm vẫn nhận được 3 tỉ đôla viện trợ Mỹ và 500 triệu đôla của nước Đức như một sự đền bù cho những khổ đau mà Đức quốc xã đã gây ra cho người Do Thái trong Thế chiến 2. Tuy vậy, đó không phải là tất cả. Dù lúc nào cũng phải căng mình ra đối phó với các quốc gia Arập láng giềng, gần như ở trong trạng thái chiến tranh thường trực, tài nguyên thiên nhiên ít ỏi, kinh tế Israel vẫn phát triển với những ngành mũi nhọn như công nghệ viễn thông liên lạc, công nghệ máy tính, chế tác kim cương, nông nghiệp công nghệ cao. Viện công nghệ Technion ở thành phố cảng Haifa là một viện nghiên cứu công nghệ cao nổi tiếng quốc tế của Israel với hai giáo sư của trường từng đoạt giải Nobel hoá học, được thành lập từ năm 1912, tức 36 năm trước ngày nhà nước Israel được thành lập. Còn đại học Hebrew ở Jerusalem đã được những người Do Thái theo phong trào Sion thai nghén từ năm 1884, đặt viên đá đầu tiên vào năm 1918 và khai trương năm 1925, tức 23 năm trước khi thành lập nhà nước Israel. Trong hội đồng quản lý đầu tiên của trường có tên của những nhà khoa học lừng danh như Albert Einstein, Sigmund Freud, Martin Buber… Trường có hai người đoạt giải Nobel Kinh tế, hai người tốt nghiệp từ trường này đoạt giải Nobel Hoá học, một người đoạt Nobel Vật lý.
Điều đó cho thấy tầm nhìn của người Do Thái và việc họ đặt trọng tâm phát triển vào đâu trong một đất nước ít tài nguyên thiên nhiên, lại nằm trong vòng vây của những láng giềng thù địch. Cũng cần nói thêm, dù ở trong tình trạng chiến tranh thường trực và phải thường xuyên đối phó với những cuộc tấn công khủng bố, Israel vẫn là một nước dân chủ đại nghị.
bài và ảnh: Đoàn Khắc Xuyên
http://sgtt.vn/Am-thuc-du-lich/148054/%E2%80%9CBen-bo-song-Babylon-ta-ngoi-ta-khoc-ta-nho-Zion%E2%80%9D.html
Đọc thêm!
QUÀ TẶNG GIÁNG SINH
NHẬT THỊNH
Ngày nay nước Do Thái (Israel) có một vị trí quan trọng tại Trung Đông và trên hành tinh. Đặc biệt dân Do Thái chỉ chiếm một nửa của một phần trăm dân số thế giới, nhưng họ đã chiếm đến hai mươi phần trăm giải Nobel được trao tặng trên toàn cầu. Những thành quả của các danh nhân Do Thái, điển hình Jonas Salk phát triển thuốc ngừa bại liệt (polio vaccine), nhà khoa học Albert Einstein phát triển thuyết tương đối đưa thế giới đến thời đại nguyên tử, Sigmund Freud cha đẻ của khoa phân tâm học.
Do Thái giáo của người Do Thái phát triển trước Ấn Độ giáo, Phật giáo, Khổng giáo và Hồi giáo. Cơ Đốc giáo tiếp nối Do Thái giáo đem sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời đến cho con người khắp nơi.
Chúa Cứu Thế Giê-su người Do Thái, từng có lần tuyên bố:"Sự cứu rỗi bởi người Do Thái mà đến" (Giăng 4:22). Ý Ngài muốn đề cập đến sự cứu rỗi không xuất phát từ người Ấn Độ, Trung Hoa mà từ người Do Thái tức dân tuyển của Đức Chúa Trời. Lãnh tụ Môi-se tuyên bố với dân chúng:"Đức Chúa Trời trìu mến và chọn lấy các người, không phải bởi các người đông hơn mọi dân tộc khác, thực sự số các người ít hơn những dân tộc khác. Nhưng đó bởi Đức Chúa Trời thương yêu các người và và tôn trọng lời thề Ngài đã lập cùng tổ phụ các người" (Phục-truyền 7:7-8). Sự biểu lộ tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho loài người là sự chết của Con Ngài trên thập tự giá."Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đức Christ vì chúng ta chịu chết" (Rô-ma 5:8)
Giáng Sinh tức mùa tặng quà. Sau ngày Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving) người ta chuẩn bị mua sắm quà cáp. Quà giá trị đòi hỏi phải có thì giờ chọn lựa và chuẩn bị cho đúng quà, đúng giá. Hơn nữa quà có giá trị còn tùy thuộc người tặng quà là ai, có quan trọng và liên hệ thế nào với người nhận, món quà dù ít tiền mà đến từ người mình quý mến vẫn thích hơn đồ đắt tiền. Vả lại, quà có trao tặng đúng người nhận hay không, nếu nhận lầm quà của người khác, thiết nghĩ không có gì vui vẻ lắm, vì không phải người ta cho mình. Lại nữa, quà có đúng nhu cầu của người được tặng hay không mới thực sự quan trọng. Nhiều món quà sớm bị quên lãng chỉ vì những gì người ta nhận được đó đã không bao giờ họ cần dùng đến.
Phong tục trao tặng quà Giáng Sinh bắt đầu từ khi những người mục đồng được các thiên sứ báo tin về món quà rất đặc biệt được dành cho loài người. Tại sao quà này lại giá trị hơn tất cả quà người ta nhận được xưa nay? Vì quà này chỉ có giá trị trong một thời gian hay trong một hoàn cảnh nào. Đằng này người tặng quà chính là Thượng Đế. Ngài đã chuẩn bị chu đáo để có thể tặng quà này vào đúng lúc và đúng người. Và người được tặng chính loài người. Quà Giáng Sinh của Chúa ban cho giá trị không thay đổi theo thời gian và không gian vì quà này không phải một món đồ bình thường như những quà mà con người có thể tặng nhau.
Quà đặc biệt này là Chúa Cứu Thế Giê-su. Khi nhận quà này con người có biết trong đó có những gì không? Hãy thử xem Thượng Đế đã tặng cho con người như thế nào, trong đó có gì và làm sao để nhận.
Khi nói đến Thượng Đế cảm giác đầu tiên của nhiều người là sợ hãi, vì thế khi các thiên sứ muốn cho những người chăn chiên an lòng để đón nhận tin vui Chúa ra đời, đã loan tin: "Đừng sợ chi, vì này ta báo cho các ngươi một tin lành, sẽ là một sự vui mừng lớn cho muôn dân." (Lu-ca 2:10) Điều này thật đáng chú ý vì đầu tiên khi tuyên bố hài nhi Giê-su được sinh đã có một lời trấn an: "Đừng sợ chi." Thế tại sao Chúa đến với con người trong thân hình của một hài nhi? Đó bởi Chúa muốn cảm thông với muôn loài và có mối liên hệ tốt với con người, nên trở thành giống con người. Ngài muốn đến thế gian như mọi người, ra đời như một hài nhi, bởi không ai sợ hãi một đứa bé.
Hài nhi giáng thế - Giê-su - tức Đức Chúa Trời giải cứu. Ý nghĩa của Giáng Sinh có nghĩa Thượng Đế xuống trần để cứu rỗi loài người. Cho nên thiên sứ căn dặn Ma-ri và Giô-sép đặt tên Giê-su cho hài nhi. Chính vì sự giáng sinh của hài nhi đã thực hiện chương trình cứu rỗi của Đức Chúa Trời cho loài người. Kinh Thánh dạy rằng Chúa Giê-su xuống thế gian để giải cứu tội lỗi cho loài người. Tội lỗi nhiều lúc con người mù mờ vì chính tội lỗi đã che mắt họ. Sự mù mờ này được phơi bày qua tư tưởng của con người khi nghe nói về tội lỗi. Nhắc đến tội lỗi người ta thường nghĩ đến tội lỗi của người khác, mà mình chưa hề phạm, chẳng hạn tội giết người, trộm cướp, tham nhũng, cưỡng hiếp...Như thế có thể coi tội lỗi là một điều gì đó xa cách với bản thân mình. Và khi mình phạm trọng tội thì cũng dễ để tâm trí mình bào chữa hầu che đậy hay chối cãi. Bản tính chung của loài người thường hay che đậy tội lỗi của mình và quên đi sự che đậy này là hậu quả của tội lỗi.
Một nhà văn người Anh Malcolm Muggeridge kể chuyện hồi còn làm ký giả ở Ấn Độ, một lần đi bơi sông. Khi xuống nước nhìn thấy một phụ nữ thay đồ xuống tắm. Malcolm Muggeridge bị choáng ngợp trước hiện tượng đó, nhưng dẹp ngay được sự cám dỗ đến ngây ngất ấy khi nghĩ đến hình ảnh của vợ mình. Malcolm Muggeridge do dự trong vài giây, sau dẹp bỏ lương tâm, bơi nhanh đến gần bà. Tới nơi, Malcolm Muggeridge thấy ngỡ ngàng, choáng váng, vì đây không phải một cô gái trẻ đẹp, có thân hình quyến rũ, hấp dẫn, trái lại là một bà già da dẻ nhăn nheo như trái táo khô, và tệ hơn nữa bà còn mắc chứng bệnh cùi ghê sợ. Malcolm Muggeridge nghĩ thầm hình bóng ghẻ lở đó đã chê cười mình, mồm móm mép không răng đã thốt ra những lời nguyền rủa mình thậm tệ. Malcolm Muggeridge vội bơi thật xa, trốn chạy cho nhanh, cảm thấy bà ta không đến nỗi ghê tởm, mà chính tâm hồn mình mới đáng ghê tởm.
Khi con người nhạy cảm với cá nhân mình lúc sa ngã, họ mới thấm thía câu Kinh Thánh: "Mọi người đều đã phạm tội và thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời" (Rô-ma 3:23). Dù có phủ nhận hay che đậy, hậu quả của tội lỗi hiển nhiên trong đời sống: bất an, tranh chấp, kèn cựa, chán chường, thấy đời vô nghĩa...Tin lành của Giáng Sinh là Thượng Đế xuống trần để giải cứu con người thoát khỏi đời sống hư ảo này. Đây chính món quà Giáng Sinh của Thượng Đế cho loài người, thay thế cho món nợ tội lỗi. Kinh Thánh chép:"Tiền công của tội lỗi là sự chết, nhưng tặng phẩm của Đức Chúa Trời là sự sống vĩnh phúc trong Chúa Cứu Thế Giê-su." (Rô-ma 6: 23).
Hơn 2000 năm trước tại vùng Bê-tha-ny cạnh dòng sông Giô-đanh ở Do Thái, người ta thấy xuất hiện một tiên tri giảng dạy:"Hãy ăn năn vì nước Chúa Thiên Đàng đã kế cận". Tiên tri này được dân chúng đặt tên Giăng Báp-tít, vì đã làm phép rửa tội cho những ai ăn năn tội mình. Giăng Báp-tít tuyên bố có một Đấng Cứu Thế đến sau Ngài và không xứng đáng để xách dép cho Ngài. Khi Đức Giê-su đến để nhận phép rửa tội của Ngài, Ngài liền nói: "Chính tôi mới cần Ngài làm phép rửa tội". Và Ngài tuyên bố cùng toàn dân và các môn đệ của mình: "Đây là Chiên Con của Đức Chúa Trời, Đấng xóa tội lỗi cho loài người". Chiên Con của Đức Chúa Trời là danh xưng để giúp con người giải đáp câu hỏi:"Làm sao Đức Chúa Trơi giải cứu loài người?"
Đối với người Do Thái, hình ảnh chiên con nhắc nhở họ nhớ đến ngày Lễ Vượt Qua, dánh dấu đêm dân chúng được giải thoát khỏi ách nô lệ của Ai Cập nhờ quyền năng của Thượng Đế. Đêm hôm ấy Thượng Đế gửi tử thần đi khắp nước Ai Cập sát hại mọi con đầu lòng, không bỏ sót một nơi nào. Ngoại trừ các nhà người Do Thái đã được bôi huyết chiên con để làm dấu trên khung cửa nhà thì tử thần vượt qua. Thấy Thượng Đế có quyền năng như vậy, vua quan Ai Cập vội hối thúc dân Do Thái rời khỏi nước mình ngay trong đêm ấy. Từ đó đến nay, người Do Thái vẫn giữ Lễ Vượt Qua, tế lễ dâng hiến một con chiên đực không tỳ vết.
Khi Giăng Báp-tít gọi Đức Giê-su là"Chiên Con của Đức Chúa Trời" hàm ý Đức Giê-su sẽ trở thành Chiên Con mà Đức Chúa Trời dự trù dùng huyết của Ngài để cứu rỗi loài người. Cho nên Đức Giê-su đến thế gian để chết trên thập tự giá. Ngài chết thay cho loài người. Đó một phương cách Thượng Đế giải cứu loài người.
Có một bà người Ý sinh một đứa bé trai. Nó được sinh ra mục đích để cứu anh nó đang cần được cấy ghép tủy xương tương ứng. Sau cuộc giải phẫu hai anh em đều sống. Chúa Giê-su được sinh ra nhưng phải chết để cứu loài người. Máu của Ngài phải đổ vì"Theo Kinh luật...không đổ huyết thì không có sự tha tội" (Hê-bơ-rơ 9:22).
Trước sự thánh khiết của Thượng Đế, mới thấy tội lỗi của con người thật khiếp sợ, đáng chịu hình phạt. Vì thế Chúa Giê-su xuống thế gian mang hình hài con người, từng trải sự yếu đuối của xác thịt, cám dỗ, đau khổ và chót hết chết trên thập tự giá cho loài người. Không phải những cái đinh đã giữ Ngài trên thập tự giá mà là tình thương yêu của Ngài với loài người. Là Con Đức Chúa Trời, Ngài đã tham dự trong công cuộc sáng tạo ra sắt, chế thành đinh để đóng tay Ngài. Ngài tình nguyện làm Em-ma-nu-ên, Giê-su, Chiên Con của Đức Chúa Trời để cứu loài người, vì Ngài thực sự thương yêu loài người.
Nguyên Em-ma-nu-ên tức danh xưng thứ nhất của Ngài. "Nầy, một gái đồng trinh sẽ chịu thai, và sanh một trai. Rồi người ta sẽ đặt tên con trai đó là Em-ma-nu-ên, nghĩa là Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta." (Ma-thi-ơ 1:23). Danh xưng này được tiên đoán bởi tiên tri Êsai 700 năm trước khi Đức Giê-su giáng sinh. Chúa Giáng Sinh vì yêu thương loài người. Thật kỳ diệu khi Thượng Đế, Đấng vĩ đại mà vũ trụ đối với loài người bao la là tù túng, với Ngài lại trói buộc mình trở nên một hài nhi nhỏ bé. Khi Thượng Đế thành người phàm tục, Ngài không giáng trần nơi cung điện nguy nga, mà sinh ở một chuồng chiên, máng cỏ đơn sơ. Ngài không muốn để ai cảm thấy sợ hãi, xa cách, khó khăn, mà không dám đến gần Ngài. Chỉ một sự xuất hiện của thiên sứ, sứ giả hay người đưa tin cho Thượng Đế đã khiến con người hoảng sợ, huống chi khi Đấng Toàn Năng xuất hiện. Vì thế Ngài đến với loài người một cách đơn sơ ở dạng hài nhi để con người không sợ hãi. Kinh Thánh chép: "Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài" (Giăng 3:16) Đây chính là ý nghĩa của Giáng Sinh: Đức Chúa Trời yêu thương con người và giáng thế để đến gần loài người. Con người khát khao được yêu thương và quý trọng, thì Thượng Đế đã bầy tỏ tình yêu thương và quý trọng con người nơi Chúa Giáng Sinh.
Có người hỏi Chúa giáng sinh hơn hai ngàn năm trước thì có liên hệ gì đến niềm vui của con người ngày nay. Thường con người vui mừng khi có điều gì xảy đến theo ý muốn, hơn lòng mong muốn, hay đúng như nhu cầu đang có. Trái lại, con người sẽ buồn khổ nếu gặp những khó khăn, thua thiệt, đổ vỡ hay mất mát. Khi các cố gắng của con người không đem lại kết quả mong muốn, và khi những bất công, bất hòa không giải quyết ổn thỏa. Những người chăn chiên sống trong tâm trạng sau, thuộc tầng lớp thấp kém trong xã hội người Do Thái thời bấy giờ, sống nghèo hèn, kém văn hóa. Thế tại sao những thiên sứ lại đến với họ, mà không đến với những người có học thức, có địa vị hay giới lãnh đạo tinh thần? Họ là những người đầu tiên và có lẽ duy nhất được lựa chọn để báo tin mừng.
Họ cảm thấy ngạc nhiên, sợ hãi, thắc mắc, nghĩ Thượng Đế đã bỏ quên dân tộc họ. Những công việc to lớn Ngài thực hiện tưởng chỉ là quá khứ, qua sách vở hay truyện cổ tích. Thế mà họ đã chứng kiến phép lạ trong tối nọ. Chính mắt, tai họ đã trông thấy, nghe thấy những lời báo tin mừng một thời đại mới đã ló dạng. Đây một tin vui cho bản thân và dân tộc họ: Thượng Đế vẫn quan tâm, cảm thông đến những buồn khổ, thiếu thốn, đau thương của họ. Ngài thương, còn thương xót đến hoàn cảnh ngặt nghèo, đến những mong ước của lòng họ. Ngài thấy sự khao khát, tấm lòng trông chờ và đoái xem đến trường hợp những người bị xã hội khinh rẻ như họ: thật lạ lùng, bất ngờ.
Niềm vui của những người chăn chiên này không là những thỏa mãn về vật chất hay những hứa hẹn giàu sang, danh vọng. Niềm vui của họ là sự biết chắc Thượng Đế quan tâm đến họ, gần gũi, chăm sóc đến những nhu cầu sâu sa, thầm kín nhất của họ. Một sự cảm thông chan hòa. Không nói ra thành lời nhưng trong thâm tâm mỗi con người đều mong muốn có một Đấng gần gũi, cảm thông, chia sẻ với những khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày của mình. Chúa Giê-su giáng sinh chính là Quà Vui Mừng cho người buồn khổ. Làm thế nào Ngài là quà của Thượng Đế cho loài người? Có lẽ vì thấy được thắc mắc này của những người chăn chiên và của con người nên thiên sứ giải thích: "Ấy là hôm nay tại thành Đa-vít đã sanh cho các ngươi một Đấng Cứu Thế, là Christ, là Chúa." (Lu-ca 2:11) Vậy tại sao Chúa Cứu Thế giáng sinh là Hy Vọng cho Người Khốn Cùng?
Thời bấy giờ, xét về mặt chính trị người Do Thái bị người La Mã đô hộ, nền văn hóa Hy Lạp đang có ảnh hưởng lớn và trên phần lớn đất nước họ. Tiếng Hê-bơ-rơ, ngôn ngữ của người Do Thái, bị tiếng A-Ram và Hy Lạp thay thế. Những nhà lãnh đạo tinh thần đã thoái hóa và trở thành bất động với những luật lệ khắc khe không còn đáp ứng được nhu cầu tâm linh của dân chúng. Từ đó, các âm mưu nổi loạn, chống La Mã nổi dậy. Dân Do Thái trông mong, đặt hy vọng nơi một Đấng Cứu Thế đến giải phóng cho dân tộc họ.
Quà hy vọng của Chúa tất nhiên không thỏa mãn hết những ước vọng cá nhân, vì Ngài đến để ban cho con người một nếp sống mới, một mối quan hệ mới với Thượng Đế. Người ta liệt kê "Bảy mức độ ban cho" nhằm cứu giúp kẻ thiếu thốn mà điều kiện có tính cách hạn định chưa thể giải quyết được hết các mong muốn:
1-Bố thí người nghèo khó, thiếu thốn, nhưng bởi gượng ép hay do trách nhiệm nên tâm hồn không thoải mái.
2-Vui lòng ban phát, nhưng mức độ cung cấp giới hạn, không giải đáp được nhu cầu.
3-Cung cấp đầy đủ, tuy nhiên chỉ giải đáp nhu cầu nếu có sự cầu khẩn.
4-Tự động bố thí trước khi có những nhu cầu đòi hỏi cấp phát.
5-Cung cấp mà không cần biết người được cung cấp thuộc giới nào, thành phần nào trong xã hội.
6-Bố thí mà không muốn để lộ danh tánh, không muốn người nhận tặng vật biết đã cung cấp cho mình, ân nhân của mình.
7-Chống đỡ sự nghèo khó bằng cách tạo phương tiện để người nghèo đói tự túc được mà thoát khỏi sự nghèo khó, thiếu thốn trong tâm hồn.
Đây coi như mức độ của món quà Chúa muốn ban cho con người hầu giải thoát họ khỏi nghèo túng, thiếu thốn trong tâm hồn. Sở dĩ Chúa Cứu Thế Giê-su được xem là món quà của Thượng Đế ban cho con người, vì Thượng Đế biết rõ nhu cầu to lớn của con người là sự Cứu Rỗi, nên Thượng Đế đã gửi Đấng Cứu Thế.
Đấng Cứu Thế này "là Christ, là Chúa" có ý nghĩa gì? Christ là đấng "chịu xức dầu". Trong văn hóa Do Thái, đấng "chịu xức dầu" được Thượng Đế lựa chọn để thi hành ba nhiệm vụ:
1-"Thầy Tế Lễ" có trách nhiệm chuẩn bị con người để đem họ đến gần Thượng Đế.
2-"Tiên Tri" để truyền đạt ý chỉ của Ngài cho con người .
3-"Vua" với trách nhiệm đại diện Thượng Đế để cai trị trong sự công bình, chính trực, hoà bình và yêu thương."Chúa" có quyền tể trị trên mọi nền chính trị, xã hội, kinh tế, thiên nhiên, vạn vật.
Thượng Đế muốn giải phóng con người khỏi mọi tội lỗi và đau thương bằng cách ban cho Chúa Cứu Thế Giê-su để khi mời Ngài vào làm chủ cuộc đời, con người sẽ tiếp nhận được sự Cứu Rỗi, được cởi trói khỏi những xiềng xích của tội lỗi, nguồn gốc của những khổ đau trong đời sống. Sự Cứu Rỗi có ba yếu tố:
1-Sự tha thứ những lỗi lầm trong quá khứ của con người.
2-Sự giải thoát khỏi những những nan đề hiện đang trói buộc con người.
3-Sự thỏa mãn hoàn toàn khi con người bước vào sự sống bất diệt
Vậy làm sao để có được sự cứu rỗi? Nếu con người vẫn còn cố gắng tự cứu chính mình, Thượng Đế không thể cứu họ. Nếu họ tự suy nghĩ: "Họ sẽ tìm ra cách giải quyết mọi nan đề của đời người. Họ có những chương trình. Họ không cần đến Chúa. Họ tự làm chủ cuộc đời mình". Chúa sẽ tôn trọng quyền tự do của họ, và để họ cứ tiếp tục, cố gắng sống theo ý họ muốn. Họ sẽ thấy trong cuộc đời họ còn đầy dẫy những bực dọc, căng thẳng, giận dữ. Và những lo lắng, mặc cảm tội lỗi, cay đắng và buồn chán sẽ tiếp tục dày vò trong đời sống họ. Những điều đó từ đâu đến, ấy là do họ cố làm chuyện của Chúa.
Chúa muốn nói với họ rằng: "Con hãy thong thả và bình tĩnh. Con cần ngừng việc tự cứu lấy mình, việc con cố gắng tự tạo con đường đến Thiên Đàng, việc con cố gắng để lấy điểm với Chúa. Hãy nghỉ ngơi là tiếp nhận món quà Cứu Rỗi và Hy Vọng của Chúa"
"Sáng danh Chúa trên các tầng trời rất cao, bình an dưới đất, ân trạch cho loài người" (Lu-ca 2:14). Sự Giáng Sinh của Chúa đem cho con người món quà quý nhất của Thượng Đế. Đó là sự bình an. Xưa nay con người thường sống trong sợ hãi, lo âu. Họ có những lo lắng và sợ hãi cho tương lai, công ăn việc làm, sức khỏe, hạnh phúc trong gia đình. Họ sẽ giải quyết thế nào khi sợ hãi?
Người chủ trương đối diện với sự sợ hãi. Nhưng mỗi người có cách ứng phó riêng: tậu nhà trong khu an ninh, tìm mua bảo hiểm sức khỏe của các hãng uy tín, gắn máy báo động trong nhà, mua xe hơi lớn để lái cho an toàn. Người lo xa nghĩ đến việc...học võ tự vệ.
Tuy nhiên, sự bình an trong xã hội, cộng đồng, gia đình, Hội Thánh tùy thuộc vào mỗi cá nhân trong đó có sự bình an của Chúa nơi tâm hồn mình hay không. Khi tâm hồn mỗi cá nhân có sự bình an thì những bất hòa với nhau sẽ được giải hòa từng thời kỳ. Đó là nguyên nhân Chúa giáng sinh. Ngài đến để giải hòa giữa mỗi cá nhân và Thượng Đế và giữa con người với nhau. Ngài hứa:"Ta để sự bình an lại cho các ngươi; ta ban sự bình an cho các ngươi; ta cho các ngươi sự bình an chẳng phải như thế gian cho. Lòng các ngươi chớ bối rối và đừng sợ hãi" (Giăng 14:27).
Món quà Chúa muốn ban cho mỗi con người là sự hòa bình với Thượng Đế, qua Chúa Giê-su, sự hòa bình với chính bản thân, với hoàn cảnh và với người khác sống bao vây mình. Chúa muốn con người không những có mối tương quan thuận hòa với Ngài mà còn liên hệ tốt đẹp với những thành viên trong gia đình, bạn bè, bà con, xóm làng...Ngài muốn nói với con người rằng: "Ta muốn con có mối liên hệ đứng đắn với Ta và sau đó con có thể có mối liên hệ tốt đẹp với những người khác".
Giáng Sinh chính là thời điểm giải hòa, là thời cơ phá đổ những ngăn cách, nối kết lại những tình thân bị đổ vỡ. Đây là cơ hội để nói lời xin lỗi và xin sự tha thứ. Đối với nhiều người, Giáng Sinh là thời gian căng thẳng vì phải đối đầu với những bạn bè, bà con mà họ đã có những sự bất hòa. Chúa muốn nhắc nhở con người không những chỉ dàn hòa với Chúa mà cũng phải giải hòa với con người nữa. Như thế cần có sự bình an với Chúa, khi đã bình an với Chúa tất có bình an của Chúa trong cuộc đời mình. Và khi đã có sự bình an của Chúa trong người thì sẽ có bình an với người khác:"Ngài là Đấng đã nhờ Chúa Cứu Thế hòa giải với chúng ta và ban cho chúng ta chức vụ hòa giải" (2 Cô-rinh-tô 8:8)
Tất nhiên không khỏi có người đổ lỗi cho rằng nhà lãnh đạo tinh thần không biết những điều người khác đã làm tổn thương họ, thế thì làm sao họ có thể tha thứ được. Chính đó là lý do tại sao con người cần đến Chúa Cứu Thế Giê-su. Bởi sự tha thứ của con người có giới hạn nên họ cần tới tình yêu của Chúa, tình yêu đó vô hạn. Hãy thưa với Ngài: "Xin Chúa thương yêu những người ấy qua con". Kinh Thánh nói: "Cảm tạ Đức Chúa Trời vì tặng phẩm không sao tả xiết của Ngài" (2 Cô-rinh-tô 9:15)
Có người từ Giáng Sinh này đến Giáng Sinh khác, bởi lý do này hay lý do khác, vẫn chưa chịu mở Món Quà được Chúa tặng. Họ chưa tiếp nhận Món Quà ấy, Chúa Cứu Thế Giê-su và trong Ngài có cả hy vọng, hạnh phúc và hòa thuận. Hãy mau mở Món Quà mà Thượng Đế đã tặng và mời Ngài bước vào cuộc đời mình. Muốn được bình an với Thượng Đế con người cần có Chúa trong lòng, và muốn có Chúa trong lòng thì cần mời Ngài nhập vào cuộc đời.
Thử hỏi trước tình thương yêu của Chúa Giê-su, món quà Cứu Rỗi của Ngài, con người có trách nhiệm gì. Truyện kể có một gia đình ở trong đêm tử thần đến xứ Ai Cập ngày Lễ Vượt Qua đầu tiên. Buổi chiều họ tụ họp nhau ăn uống theo lệnh của Thượng Đế. Trên bàn có bát huyết chiên con và bó bài hương thảo dùng để quệt trên khung cửa. Họ cầu nguyện và đi ngủ, tin rằng đây là đêm chót họ nô lệ ở Ai Cập. Đêm đang yên tĩnh, bỗng bị cô bé út làm náo động. Bé lo sợ khẽ hỏi anh cả:
-Liệu thần chết có thấy dấu huyết chiên con trên khung cửa không?
-Em cứ đánh thức cha mà hỏi để được bảo đảm.
Trước nửa đêm, bé gái lần nữa đánh thức cha mình. Ông bực dọc vì con nghi ngờ và quả quyết:
-Không sao đâu con , Thượng Đế đã hứa.
-Cha có chắc huyết thật rõ chăng?
Người cha hoảng hồn, ngồi bật dậy, dắt bé gái ra cửa. Ông mở cửa định nói "con xem kìa", bỗng kinh hoàng vì điều mắt mình thấy. Trên khung cửa không có huyết chiên con bôi. Ông vội vã bỏ tay con gái chạy vào bàn lấy bó bài hương thảo quẹt huyết chiên con vào khung cửa. Với bao sự trang bị để sửa soạn rời bỏ nơi đây ra đi, việc quan trọng nhất ông đã quên lãng. Ông quệt huyết chiên con vừa kịp lúc, nhờ vậy người con đầu lòng được an toàn. Đây cho thấy Thượng Đế đã đánh thức em bé gái trở dậy để gia đình thực thi lệnh truyền của Chúa, tránh tai họa cho cả gia đình.
Thượng Đế thương yêu con người đã dành cho họ một con đường Cứu Rỗi qua sự chết của Chúa Giê-su trên thập tự giá. Đức Chúa Giê-su gánh thế mọi hình án của nhân loại trên cây gỗ, đổ huyết vô tội của Ngài, và chết thay cho con người, nên con người khi tin nhận Đức Chúa Giê-su, thì nhận được sự tha thứ hoàn toàn, vì :"Huyết của Đức Chúa Giê-su, Con Ngài, làm sạch mọi tội chúng ta." (1 Giăng 1:7b). Điều mỗi con người cần làm là bôi huyết báu đó trên thành cửa của cuộc đời mình. Đó có nghĩa đặt niềm tin cậy nơi Chúa Giê-su, ăn năn tội lỗi của mình, và huyết báu của Ngài đã rửa sạch tội lỗi cho loài người.
Khi con người đặt niềm tin nơi Ngài tức họ tin Chúa Giê-su là Đức Chúa Trời ở cùng người, đã giáng trần để cứu vớt loài người, đồng thời là lúc con người kinh nghiệm sự yêu thương quý trọng của Thượng Đế dành cho họ, sự bình an và hy vọng đời này và đời sau. Chúa Giê-su, Đấng sống lại sau ba ngày ở mộ phần, được Thượng Đế trao cho mọi thẩm quyền trên trời dưới đất, và hứa cho kẻ tin nhận Ngài sự sống đời đời.
Nhiều người ngày nay có một nỗi sợ hãi trong lòng khiến họ trốn tránh mối tương giao với Thượng Đế, cho dù Thượng Đế sẵn sàng đến với họ để giúp họ tìm giải pháp. Thay vì trực tiếp kêu cầu Thượng Đế, tin tưởng nơi Thượng Đế, con người thường đi tìm giải pháp khác, lý do biện hộ khác hay một ai đó dường như có khả năng tiếp kiến Thượng Đế thay cho họ.
Từ những nỗi sợ hãi mang trong người, khiến con người đâm sợ mỗi khi phải đối diện với Thượng Đế, Đấng biết rõ mọi tâm tư, suy tưởng của con người. Tội lỗi đầu tiên làm nỗi sợ hãi xâm chiếm đời sống con người và tiếp tục kéo dài theo dòng lịch sử. Hễ sợ hãi nhiều bao nhiêu, con người thêm xa lánh Thượng Đế bấy nhiêu. Và hễ xa lánh Thượng Đế thì con người lại miệt mài đi tìm một thứ gì để lấp khoảng trống tâm linh. Đi tìm nhiều, hụt hẫng nhiều. Hụt hẫng chán chê con người tăng thêm sợ hãi. Con người đã và đang sống một cái vòng lẩn quẩn của sự"thiếu vinh hiển của Đức Chúa Trời". Nhiều người không có lối thoát giữa cuộc sống bon chen này. Sự giáng sinh của một Đấng từ Trời là giải pháp duy nhất nhấc con người ra khỏi cảnh bế tắt đó. Khi Ngài vào đời, sứ điệp đầu tiên của thiên sứ báo tin cho những người chăn chiên, những đại diện loài người đầu tiên nhận Tin Mừng từ Thượng Đế, là "đừng sợ chi" (Lu-ca 2:10), mở đầu một Tin Lành giải phóng con người thoát khỏi bất an, mở ra một trang sử mới để trực tiếp đến với Thượng Đế. Sự giáng sinh của Đức Chúa Giê-su phá tan xiềng xích sợ hãi cho những ai bằng lòng bước vào mối tương giao với Thượng Đế. Nhưng trước khi nhận Tin Mừng đó, con người phải thuần phục đối diện với Thượng Đế. Xưa một cố vấn tôn giáo đã bầy tỏ kinh nghiệm này khi thốt lên: "Khốn nạn cho tôi! Xong đời tôi rồi! Vì tôi là người có môi dơ dáy, ở giữa một dân có môi dơ dáy, bởi mắt tôi đã thấy Vua (trời)" (Ê-sai 6:5) Chỉ khi nào đối diện toàn diện với Thượng Đế, con người mới thấy được một cách toàn diện những bất toàn của mình mà bằng lòng tiếp nhận giải pháp của Thượng Đế cho con người.
Mùa Giáng Sinh là thời gian nhiều trẻ con liệt kê những món quà chúng ao ước: đồ chơi, quần áo, bánh kẹo...Nếu con người liệt kê những mong muốn của mình chắc chắn có một số người sẽ ao ước có thêm áo quần mới, xe hơi mới hay thêm tiền bạc. Nhưng không khỏi có người ao ước được thương yêu, bình an, vui thỏa và có hy vọng. Điều kỳ diệu của Giáng Sinh là Giáng Sinh hứa hẹn thỏa đáp cả bốn điều này cho họ.
Chúa Giáng Sinh có liên hệ gì với ước nguyện của con người. Để thấy được sự liên hệ giữa ước nguyện của con người và Giáng Sinh, con người cần hướng về nhân vật chính của đêm Giáng Sinh đầu tiên, một hài nhi sinh ra trong chuồng chiên, máng cỏ. Hài nhi này có ba danh xưng nói lên bản chất của người mang tên, nói một cách khác có thể nhận thức ý nghĩa và sự liên hệ giữa Giáng Sinh và con người: 1.Em-ma-nu-ên nghĩa là Đức Chúa Trời ở cùng người (Ma-thi-ơ 1:23) - 2.Giê-su nghĩa là Đức Chúa Trời giải cứu loài người thoát khỏi tội lỗi (Ma-thi-ơ 1:21) - 3.Chiên Con của Đức Chúa Trời nghĩa là Đấng xóa tội lỗi cho loài người (Giăng 1:29)
Đây là ý nghĩa của Giáng Sinh: Đức Chúa Trời yêu thương rất mực con người và giáng thế để đến gần loài người.
http://www.vannghesi.net/Articles/Sacto/Qua%20Tang%20Giang%20Sinh.html Đọc thêm!
Ngày nay nước Do Thái (Israel) có một vị trí quan trọng tại Trung Đông và trên hành tinh. Đặc biệt dân Do Thái chỉ chiếm một nửa của một phần trăm dân số thế giới, nhưng họ đã chiếm đến hai mươi phần trăm giải Nobel được trao tặng trên toàn cầu. Những thành quả của các danh nhân Do Thái, điển hình Jonas Salk phát triển thuốc ngừa bại liệt (polio vaccine), nhà khoa học Albert Einstein phát triển thuyết tương đối đưa thế giới đến thời đại nguyên tử, Sigmund Freud cha đẻ của khoa phân tâm học.
Do Thái giáo của người Do Thái phát triển trước Ấn Độ giáo, Phật giáo, Khổng giáo và Hồi giáo. Cơ Đốc giáo tiếp nối Do Thái giáo đem sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời đến cho con người khắp nơi.
Chúa Cứu Thế Giê-su người Do Thái, từng có lần tuyên bố:"Sự cứu rỗi bởi người Do Thái mà đến" (Giăng 4:22). Ý Ngài muốn đề cập đến sự cứu rỗi không xuất phát từ người Ấn Độ, Trung Hoa mà từ người Do Thái tức dân tuyển của Đức Chúa Trời. Lãnh tụ Môi-se tuyên bố với dân chúng:"Đức Chúa Trời trìu mến và chọn lấy các người, không phải bởi các người đông hơn mọi dân tộc khác, thực sự số các người ít hơn những dân tộc khác. Nhưng đó bởi Đức Chúa Trời thương yêu các người và và tôn trọng lời thề Ngài đã lập cùng tổ phụ các người" (Phục-truyền 7:7-8). Sự biểu lộ tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho loài người là sự chết của Con Ngài trên thập tự giá."Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đức Christ vì chúng ta chịu chết" (Rô-ma 5:8)
Giáng Sinh tức mùa tặng quà. Sau ngày Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving) người ta chuẩn bị mua sắm quà cáp. Quà giá trị đòi hỏi phải có thì giờ chọn lựa và chuẩn bị cho đúng quà, đúng giá. Hơn nữa quà có giá trị còn tùy thuộc người tặng quà là ai, có quan trọng và liên hệ thế nào với người nhận, món quà dù ít tiền mà đến từ người mình quý mến vẫn thích hơn đồ đắt tiền. Vả lại, quà có trao tặng đúng người nhận hay không, nếu nhận lầm quà của người khác, thiết nghĩ không có gì vui vẻ lắm, vì không phải người ta cho mình. Lại nữa, quà có đúng nhu cầu của người được tặng hay không mới thực sự quan trọng. Nhiều món quà sớm bị quên lãng chỉ vì những gì người ta nhận được đó đã không bao giờ họ cần dùng đến.
Phong tục trao tặng quà Giáng Sinh bắt đầu từ khi những người mục đồng được các thiên sứ báo tin về món quà rất đặc biệt được dành cho loài người. Tại sao quà này lại giá trị hơn tất cả quà người ta nhận được xưa nay? Vì quà này chỉ có giá trị trong một thời gian hay trong một hoàn cảnh nào. Đằng này người tặng quà chính là Thượng Đế. Ngài đã chuẩn bị chu đáo để có thể tặng quà này vào đúng lúc và đúng người. Và người được tặng chính loài người. Quà Giáng Sinh của Chúa ban cho giá trị không thay đổi theo thời gian và không gian vì quà này không phải một món đồ bình thường như những quà mà con người có thể tặng nhau.
Quà đặc biệt này là Chúa Cứu Thế Giê-su. Khi nhận quà này con người có biết trong đó có những gì không? Hãy thử xem Thượng Đế đã tặng cho con người như thế nào, trong đó có gì và làm sao để nhận.
Khi nói đến Thượng Đế cảm giác đầu tiên của nhiều người là sợ hãi, vì thế khi các thiên sứ muốn cho những người chăn chiên an lòng để đón nhận tin vui Chúa ra đời, đã loan tin: "Đừng sợ chi, vì này ta báo cho các ngươi một tin lành, sẽ là một sự vui mừng lớn cho muôn dân." (Lu-ca 2:10) Điều này thật đáng chú ý vì đầu tiên khi tuyên bố hài nhi Giê-su được sinh đã có một lời trấn an: "Đừng sợ chi." Thế tại sao Chúa đến với con người trong thân hình của một hài nhi? Đó bởi Chúa muốn cảm thông với muôn loài và có mối liên hệ tốt với con người, nên trở thành giống con người. Ngài muốn đến thế gian như mọi người, ra đời như một hài nhi, bởi không ai sợ hãi một đứa bé.
Hài nhi giáng thế - Giê-su - tức Đức Chúa Trời giải cứu. Ý nghĩa của Giáng Sinh có nghĩa Thượng Đế xuống trần để cứu rỗi loài người. Cho nên thiên sứ căn dặn Ma-ri và Giô-sép đặt tên Giê-su cho hài nhi. Chính vì sự giáng sinh của hài nhi đã thực hiện chương trình cứu rỗi của Đức Chúa Trời cho loài người. Kinh Thánh dạy rằng Chúa Giê-su xuống thế gian để giải cứu tội lỗi cho loài người. Tội lỗi nhiều lúc con người mù mờ vì chính tội lỗi đã che mắt họ. Sự mù mờ này được phơi bày qua tư tưởng của con người khi nghe nói về tội lỗi. Nhắc đến tội lỗi người ta thường nghĩ đến tội lỗi của người khác, mà mình chưa hề phạm, chẳng hạn tội giết người, trộm cướp, tham nhũng, cưỡng hiếp...Như thế có thể coi tội lỗi là một điều gì đó xa cách với bản thân mình. Và khi mình phạm trọng tội thì cũng dễ để tâm trí mình bào chữa hầu che đậy hay chối cãi. Bản tính chung của loài người thường hay che đậy tội lỗi của mình và quên đi sự che đậy này là hậu quả của tội lỗi.
Một nhà văn người Anh Malcolm Muggeridge kể chuyện hồi còn làm ký giả ở Ấn Độ, một lần đi bơi sông. Khi xuống nước nhìn thấy một phụ nữ thay đồ xuống tắm. Malcolm Muggeridge bị choáng ngợp trước hiện tượng đó, nhưng dẹp ngay được sự cám dỗ đến ngây ngất ấy khi nghĩ đến hình ảnh của vợ mình. Malcolm Muggeridge do dự trong vài giây, sau dẹp bỏ lương tâm, bơi nhanh đến gần bà. Tới nơi, Malcolm Muggeridge thấy ngỡ ngàng, choáng váng, vì đây không phải một cô gái trẻ đẹp, có thân hình quyến rũ, hấp dẫn, trái lại là một bà già da dẻ nhăn nheo như trái táo khô, và tệ hơn nữa bà còn mắc chứng bệnh cùi ghê sợ. Malcolm Muggeridge nghĩ thầm hình bóng ghẻ lở đó đã chê cười mình, mồm móm mép không răng đã thốt ra những lời nguyền rủa mình thậm tệ. Malcolm Muggeridge vội bơi thật xa, trốn chạy cho nhanh, cảm thấy bà ta không đến nỗi ghê tởm, mà chính tâm hồn mình mới đáng ghê tởm.
Khi con người nhạy cảm với cá nhân mình lúc sa ngã, họ mới thấm thía câu Kinh Thánh: "Mọi người đều đã phạm tội và thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời" (Rô-ma 3:23). Dù có phủ nhận hay che đậy, hậu quả của tội lỗi hiển nhiên trong đời sống: bất an, tranh chấp, kèn cựa, chán chường, thấy đời vô nghĩa...Tin lành của Giáng Sinh là Thượng Đế xuống trần để giải cứu con người thoát khỏi đời sống hư ảo này. Đây chính món quà Giáng Sinh của Thượng Đế cho loài người, thay thế cho món nợ tội lỗi. Kinh Thánh chép:"Tiền công của tội lỗi là sự chết, nhưng tặng phẩm của Đức Chúa Trời là sự sống vĩnh phúc trong Chúa Cứu Thế Giê-su." (Rô-ma 6: 23).
Hơn 2000 năm trước tại vùng Bê-tha-ny cạnh dòng sông Giô-đanh ở Do Thái, người ta thấy xuất hiện một tiên tri giảng dạy:"Hãy ăn năn vì nước Chúa Thiên Đàng đã kế cận". Tiên tri này được dân chúng đặt tên Giăng Báp-tít, vì đã làm phép rửa tội cho những ai ăn năn tội mình. Giăng Báp-tít tuyên bố có một Đấng Cứu Thế đến sau Ngài và không xứng đáng để xách dép cho Ngài. Khi Đức Giê-su đến để nhận phép rửa tội của Ngài, Ngài liền nói: "Chính tôi mới cần Ngài làm phép rửa tội". Và Ngài tuyên bố cùng toàn dân và các môn đệ của mình: "Đây là Chiên Con của Đức Chúa Trời, Đấng xóa tội lỗi cho loài người". Chiên Con của Đức Chúa Trời là danh xưng để giúp con người giải đáp câu hỏi:"Làm sao Đức Chúa Trơi giải cứu loài người?"
Đối với người Do Thái, hình ảnh chiên con nhắc nhở họ nhớ đến ngày Lễ Vượt Qua, dánh dấu đêm dân chúng được giải thoát khỏi ách nô lệ của Ai Cập nhờ quyền năng của Thượng Đế. Đêm hôm ấy Thượng Đế gửi tử thần đi khắp nước Ai Cập sát hại mọi con đầu lòng, không bỏ sót một nơi nào. Ngoại trừ các nhà người Do Thái đã được bôi huyết chiên con để làm dấu trên khung cửa nhà thì tử thần vượt qua. Thấy Thượng Đế có quyền năng như vậy, vua quan Ai Cập vội hối thúc dân Do Thái rời khỏi nước mình ngay trong đêm ấy. Từ đó đến nay, người Do Thái vẫn giữ Lễ Vượt Qua, tế lễ dâng hiến một con chiên đực không tỳ vết.
Khi Giăng Báp-tít gọi Đức Giê-su là"Chiên Con của Đức Chúa Trời" hàm ý Đức Giê-su sẽ trở thành Chiên Con mà Đức Chúa Trời dự trù dùng huyết của Ngài để cứu rỗi loài người. Cho nên Đức Giê-su đến thế gian để chết trên thập tự giá. Ngài chết thay cho loài người. Đó một phương cách Thượng Đế giải cứu loài người.
Có một bà người Ý sinh một đứa bé trai. Nó được sinh ra mục đích để cứu anh nó đang cần được cấy ghép tủy xương tương ứng. Sau cuộc giải phẫu hai anh em đều sống. Chúa Giê-su được sinh ra nhưng phải chết để cứu loài người. Máu của Ngài phải đổ vì"Theo Kinh luật...không đổ huyết thì không có sự tha tội" (Hê-bơ-rơ 9:22).
Trước sự thánh khiết của Thượng Đế, mới thấy tội lỗi của con người thật khiếp sợ, đáng chịu hình phạt. Vì thế Chúa Giê-su xuống thế gian mang hình hài con người, từng trải sự yếu đuối của xác thịt, cám dỗ, đau khổ và chót hết chết trên thập tự giá cho loài người. Không phải những cái đinh đã giữ Ngài trên thập tự giá mà là tình thương yêu của Ngài với loài người. Là Con Đức Chúa Trời, Ngài đã tham dự trong công cuộc sáng tạo ra sắt, chế thành đinh để đóng tay Ngài. Ngài tình nguyện làm Em-ma-nu-ên, Giê-su, Chiên Con của Đức Chúa Trời để cứu loài người, vì Ngài thực sự thương yêu loài người.
Nguyên Em-ma-nu-ên tức danh xưng thứ nhất của Ngài. "Nầy, một gái đồng trinh sẽ chịu thai, và sanh một trai. Rồi người ta sẽ đặt tên con trai đó là Em-ma-nu-ên, nghĩa là Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta." (Ma-thi-ơ 1:23). Danh xưng này được tiên đoán bởi tiên tri Êsai 700 năm trước khi Đức Giê-su giáng sinh. Chúa Giáng Sinh vì yêu thương loài người. Thật kỳ diệu khi Thượng Đế, Đấng vĩ đại mà vũ trụ đối với loài người bao la là tù túng, với Ngài lại trói buộc mình trở nên một hài nhi nhỏ bé. Khi Thượng Đế thành người phàm tục, Ngài không giáng trần nơi cung điện nguy nga, mà sinh ở một chuồng chiên, máng cỏ đơn sơ. Ngài không muốn để ai cảm thấy sợ hãi, xa cách, khó khăn, mà không dám đến gần Ngài. Chỉ một sự xuất hiện của thiên sứ, sứ giả hay người đưa tin cho Thượng Đế đã khiến con người hoảng sợ, huống chi khi Đấng Toàn Năng xuất hiện. Vì thế Ngài đến với loài người một cách đơn sơ ở dạng hài nhi để con người không sợ hãi. Kinh Thánh chép: "Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài" (Giăng 3:16) Đây chính là ý nghĩa của Giáng Sinh: Đức Chúa Trời yêu thương con người và giáng thế để đến gần loài người. Con người khát khao được yêu thương và quý trọng, thì Thượng Đế đã bầy tỏ tình yêu thương và quý trọng con người nơi Chúa Giáng Sinh.
Có người hỏi Chúa giáng sinh hơn hai ngàn năm trước thì có liên hệ gì đến niềm vui của con người ngày nay. Thường con người vui mừng khi có điều gì xảy đến theo ý muốn, hơn lòng mong muốn, hay đúng như nhu cầu đang có. Trái lại, con người sẽ buồn khổ nếu gặp những khó khăn, thua thiệt, đổ vỡ hay mất mát. Khi các cố gắng của con người không đem lại kết quả mong muốn, và khi những bất công, bất hòa không giải quyết ổn thỏa. Những người chăn chiên sống trong tâm trạng sau, thuộc tầng lớp thấp kém trong xã hội người Do Thái thời bấy giờ, sống nghèo hèn, kém văn hóa. Thế tại sao những thiên sứ lại đến với họ, mà không đến với những người có học thức, có địa vị hay giới lãnh đạo tinh thần? Họ là những người đầu tiên và có lẽ duy nhất được lựa chọn để báo tin mừng.
Họ cảm thấy ngạc nhiên, sợ hãi, thắc mắc, nghĩ Thượng Đế đã bỏ quên dân tộc họ. Những công việc to lớn Ngài thực hiện tưởng chỉ là quá khứ, qua sách vở hay truyện cổ tích. Thế mà họ đã chứng kiến phép lạ trong tối nọ. Chính mắt, tai họ đã trông thấy, nghe thấy những lời báo tin mừng một thời đại mới đã ló dạng. Đây một tin vui cho bản thân và dân tộc họ: Thượng Đế vẫn quan tâm, cảm thông đến những buồn khổ, thiếu thốn, đau thương của họ. Ngài thương, còn thương xót đến hoàn cảnh ngặt nghèo, đến những mong ước của lòng họ. Ngài thấy sự khao khát, tấm lòng trông chờ và đoái xem đến trường hợp những người bị xã hội khinh rẻ như họ: thật lạ lùng, bất ngờ.
Niềm vui của những người chăn chiên này không là những thỏa mãn về vật chất hay những hứa hẹn giàu sang, danh vọng. Niềm vui của họ là sự biết chắc Thượng Đế quan tâm đến họ, gần gũi, chăm sóc đến những nhu cầu sâu sa, thầm kín nhất của họ. Một sự cảm thông chan hòa. Không nói ra thành lời nhưng trong thâm tâm mỗi con người đều mong muốn có một Đấng gần gũi, cảm thông, chia sẻ với những khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày của mình. Chúa Giê-su giáng sinh chính là Quà Vui Mừng cho người buồn khổ. Làm thế nào Ngài là quà của Thượng Đế cho loài người? Có lẽ vì thấy được thắc mắc này của những người chăn chiên và của con người nên thiên sứ giải thích: "Ấy là hôm nay tại thành Đa-vít đã sanh cho các ngươi một Đấng Cứu Thế, là Christ, là Chúa." (Lu-ca 2:11) Vậy tại sao Chúa Cứu Thế giáng sinh là Hy Vọng cho Người Khốn Cùng?
Thời bấy giờ, xét về mặt chính trị người Do Thái bị người La Mã đô hộ, nền văn hóa Hy Lạp đang có ảnh hưởng lớn và trên phần lớn đất nước họ. Tiếng Hê-bơ-rơ, ngôn ngữ của người Do Thái, bị tiếng A-Ram và Hy Lạp thay thế. Những nhà lãnh đạo tinh thần đã thoái hóa và trở thành bất động với những luật lệ khắc khe không còn đáp ứng được nhu cầu tâm linh của dân chúng. Từ đó, các âm mưu nổi loạn, chống La Mã nổi dậy. Dân Do Thái trông mong, đặt hy vọng nơi một Đấng Cứu Thế đến giải phóng cho dân tộc họ.
Quà hy vọng của Chúa tất nhiên không thỏa mãn hết những ước vọng cá nhân, vì Ngài đến để ban cho con người một nếp sống mới, một mối quan hệ mới với Thượng Đế. Người ta liệt kê "Bảy mức độ ban cho" nhằm cứu giúp kẻ thiếu thốn mà điều kiện có tính cách hạn định chưa thể giải quyết được hết các mong muốn:
1-Bố thí người nghèo khó, thiếu thốn, nhưng bởi gượng ép hay do trách nhiệm nên tâm hồn không thoải mái.
2-Vui lòng ban phát, nhưng mức độ cung cấp giới hạn, không giải đáp được nhu cầu.
3-Cung cấp đầy đủ, tuy nhiên chỉ giải đáp nhu cầu nếu có sự cầu khẩn.
4-Tự động bố thí trước khi có những nhu cầu đòi hỏi cấp phát.
5-Cung cấp mà không cần biết người được cung cấp thuộc giới nào, thành phần nào trong xã hội.
6-Bố thí mà không muốn để lộ danh tánh, không muốn người nhận tặng vật biết đã cung cấp cho mình, ân nhân của mình.
7-Chống đỡ sự nghèo khó bằng cách tạo phương tiện để người nghèo đói tự túc được mà thoát khỏi sự nghèo khó, thiếu thốn trong tâm hồn.
Đây coi như mức độ của món quà Chúa muốn ban cho con người hầu giải thoát họ khỏi nghèo túng, thiếu thốn trong tâm hồn. Sở dĩ Chúa Cứu Thế Giê-su được xem là món quà của Thượng Đế ban cho con người, vì Thượng Đế biết rõ nhu cầu to lớn của con người là sự Cứu Rỗi, nên Thượng Đế đã gửi Đấng Cứu Thế.
Đấng Cứu Thế này "là Christ, là Chúa" có ý nghĩa gì? Christ là đấng "chịu xức dầu". Trong văn hóa Do Thái, đấng "chịu xức dầu" được Thượng Đế lựa chọn để thi hành ba nhiệm vụ:
1-"Thầy Tế Lễ" có trách nhiệm chuẩn bị con người để đem họ đến gần Thượng Đế.
2-"Tiên Tri" để truyền đạt ý chỉ của Ngài cho con người .
3-"Vua" với trách nhiệm đại diện Thượng Đế để cai trị trong sự công bình, chính trực, hoà bình và yêu thương."Chúa" có quyền tể trị trên mọi nền chính trị, xã hội, kinh tế, thiên nhiên, vạn vật.
Thượng Đế muốn giải phóng con người khỏi mọi tội lỗi và đau thương bằng cách ban cho Chúa Cứu Thế Giê-su để khi mời Ngài vào làm chủ cuộc đời, con người sẽ tiếp nhận được sự Cứu Rỗi, được cởi trói khỏi những xiềng xích của tội lỗi, nguồn gốc của những khổ đau trong đời sống. Sự Cứu Rỗi có ba yếu tố:
1-Sự tha thứ những lỗi lầm trong quá khứ của con người.
2-Sự giải thoát khỏi những những nan đề hiện đang trói buộc con người.
3-Sự thỏa mãn hoàn toàn khi con người bước vào sự sống bất diệt
Vậy làm sao để có được sự cứu rỗi? Nếu con người vẫn còn cố gắng tự cứu chính mình, Thượng Đế không thể cứu họ. Nếu họ tự suy nghĩ: "Họ sẽ tìm ra cách giải quyết mọi nan đề của đời người. Họ có những chương trình. Họ không cần đến Chúa. Họ tự làm chủ cuộc đời mình". Chúa sẽ tôn trọng quyền tự do của họ, và để họ cứ tiếp tục, cố gắng sống theo ý họ muốn. Họ sẽ thấy trong cuộc đời họ còn đầy dẫy những bực dọc, căng thẳng, giận dữ. Và những lo lắng, mặc cảm tội lỗi, cay đắng và buồn chán sẽ tiếp tục dày vò trong đời sống họ. Những điều đó từ đâu đến, ấy là do họ cố làm chuyện của Chúa.
Chúa muốn nói với họ rằng: "Con hãy thong thả và bình tĩnh. Con cần ngừng việc tự cứu lấy mình, việc con cố gắng tự tạo con đường đến Thiên Đàng, việc con cố gắng để lấy điểm với Chúa. Hãy nghỉ ngơi là tiếp nhận món quà Cứu Rỗi và Hy Vọng của Chúa"
"Sáng danh Chúa trên các tầng trời rất cao, bình an dưới đất, ân trạch cho loài người" (Lu-ca 2:14). Sự Giáng Sinh của Chúa đem cho con người món quà quý nhất của Thượng Đế. Đó là sự bình an. Xưa nay con người thường sống trong sợ hãi, lo âu. Họ có những lo lắng và sợ hãi cho tương lai, công ăn việc làm, sức khỏe, hạnh phúc trong gia đình. Họ sẽ giải quyết thế nào khi sợ hãi?
Người chủ trương đối diện với sự sợ hãi. Nhưng mỗi người có cách ứng phó riêng: tậu nhà trong khu an ninh, tìm mua bảo hiểm sức khỏe của các hãng uy tín, gắn máy báo động trong nhà, mua xe hơi lớn để lái cho an toàn. Người lo xa nghĩ đến việc...học võ tự vệ.
Tuy nhiên, sự bình an trong xã hội, cộng đồng, gia đình, Hội Thánh tùy thuộc vào mỗi cá nhân trong đó có sự bình an của Chúa nơi tâm hồn mình hay không. Khi tâm hồn mỗi cá nhân có sự bình an thì những bất hòa với nhau sẽ được giải hòa từng thời kỳ. Đó là nguyên nhân Chúa giáng sinh. Ngài đến để giải hòa giữa mỗi cá nhân và Thượng Đế và giữa con người với nhau. Ngài hứa:"Ta để sự bình an lại cho các ngươi; ta ban sự bình an cho các ngươi; ta cho các ngươi sự bình an chẳng phải như thế gian cho. Lòng các ngươi chớ bối rối và đừng sợ hãi" (Giăng 14:27).
Món quà Chúa muốn ban cho mỗi con người là sự hòa bình với Thượng Đế, qua Chúa Giê-su, sự hòa bình với chính bản thân, với hoàn cảnh và với người khác sống bao vây mình. Chúa muốn con người không những có mối tương quan thuận hòa với Ngài mà còn liên hệ tốt đẹp với những thành viên trong gia đình, bạn bè, bà con, xóm làng...Ngài muốn nói với con người rằng: "Ta muốn con có mối liên hệ đứng đắn với Ta và sau đó con có thể có mối liên hệ tốt đẹp với những người khác".
Giáng Sinh chính là thời điểm giải hòa, là thời cơ phá đổ những ngăn cách, nối kết lại những tình thân bị đổ vỡ. Đây là cơ hội để nói lời xin lỗi và xin sự tha thứ. Đối với nhiều người, Giáng Sinh là thời gian căng thẳng vì phải đối đầu với những bạn bè, bà con mà họ đã có những sự bất hòa. Chúa muốn nhắc nhở con người không những chỉ dàn hòa với Chúa mà cũng phải giải hòa với con người nữa. Như thế cần có sự bình an với Chúa, khi đã bình an với Chúa tất có bình an của Chúa trong cuộc đời mình. Và khi đã có sự bình an của Chúa trong người thì sẽ có bình an với người khác:"Ngài là Đấng đã nhờ Chúa Cứu Thế hòa giải với chúng ta và ban cho chúng ta chức vụ hòa giải" (2 Cô-rinh-tô 8:8)
Tất nhiên không khỏi có người đổ lỗi cho rằng nhà lãnh đạo tinh thần không biết những điều người khác đã làm tổn thương họ, thế thì làm sao họ có thể tha thứ được. Chính đó là lý do tại sao con người cần đến Chúa Cứu Thế Giê-su. Bởi sự tha thứ của con người có giới hạn nên họ cần tới tình yêu của Chúa, tình yêu đó vô hạn. Hãy thưa với Ngài: "Xin Chúa thương yêu những người ấy qua con". Kinh Thánh nói: "Cảm tạ Đức Chúa Trời vì tặng phẩm không sao tả xiết của Ngài" (2 Cô-rinh-tô 9:15)
Có người từ Giáng Sinh này đến Giáng Sinh khác, bởi lý do này hay lý do khác, vẫn chưa chịu mở Món Quà được Chúa tặng. Họ chưa tiếp nhận Món Quà ấy, Chúa Cứu Thế Giê-su và trong Ngài có cả hy vọng, hạnh phúc và hòa thuận. Hãy mau mở Món Quà mà Thượng Đế đã tặng và mời Ngài bước vào cuộc đời mình. Muốn được bình an với Thượng Đế con người cần có Chúa trong lòng, và muốn có Chúa trong lòng thì cần mời Ngài nhập vào cuộc đời.
Thử hỏi trước tình thương yêu của Chúa Giê-su, món quà Cứu Rỗi của Ngài, con người có trách nhiệm gì. Truyện kể có một gia đình ở trong đêm tử thần đến xứ Ai Cập ngày Lễ Vượt Qua đầu tiên. Buổi chiều họ tụ họp nhau ăn uống theo lệnh của Thượng Đế. Trên bàn có bát huyết chiên con và bó bài hương thảo dùng để quệt trên khung cửa. Họ cầu nguyện và đi ngủ, tin rằng đây là đêm chót họ nô lệ ở Ai Cập. Đêm đang yên tĩnh, bỗng bị cô bé út làm náo động. Bé lo sợ khẽ hỏi anh cả:
-Liệu thần chết có thấy dấu huyết chiên con trên khung cửa không?
-Em cứ đánh thức cha mà hỏi để được bảo đảm.
Trước nửa đêm, bé gái lần nữa đánh thức cha mình. Ông bực dọc vì con nghi ngờ và quả quyết:
-Không sao đâu con , Thượng Đế đã hứa.
-Cha có chắc huyết thật rõ chăng?
Người cha hoảng hồn, ngồi bật dậy, dắt bé gái ra cửa. Ông mở cửa định nói "con xem kìa", bỗng kinh hoàng vì điều mắt mình thấy. Trên khung cửa không có huyết chiên con bôi. Ông vội vã bỏ tay con gái chạy vào bàn lấy bó bài hương thảo quẹt huyết chiên con vào khung cửa. Với bao sự trang bị để sửa soạn rời bỏ nơi đây ra đi, việc quan trọng nhất ông đã quên lãng. Ông quệt huyết chiên con vừa kịp lúc, nhờ vậy người con đầu lòng được an toàn. Đây cho thấy Thượng Đế đã đánh thức em bé gái trở dậy để gia đình thực thi lệnh truyền của Chúa, tránh tai họa cho cả gia đình.
Thượng Đế thương yêu con người đã dành cho họ một con đường Cứu Rỗi qua sự chết của Chúa Giê-su trên thập tự giá. Đức Chúa Giê-su gánh thế mọi hình án của nhân loại trên cây gỗ, đổ huyết vô tội của Ngài, và chết thay cho con người, nên con người khi tin nhận Đức Chúa Giê-su, thì nhận được sự tha thứ hoàn toàn, vì :"Huyết của Đức Chúa Giê-su, Con Ngài, làm sạch mọi tội chúng ta." (1 Giăng 1:7b). Điều mỗi con người cần làm là bôi huyết báu đó trên thành cửa của cuộc đời mình. Đó có nghĩa đặt niềm tin cậy nơi Chúa Giê-su, ăn năn tội lỗi của mình, và huyết báu của Ngài đã rửa sạch tội lỗi cho loài người.
Khi con người đặt niềm tin nơi Ngài tức họ tin Chúa Giê-su là Đức Chúa Trời ở cùng người, đã giáng trần để cứu vớt loài người, đồng thời là lúc con người kinh nghiệm sự yêu thương quý trọng của Thượng Đế dành cho họ, sự bình an và hy vọng đời này và đời sau. Chúa Giê-su, Đấng sống lại sau ba ngày ở mộ phần, được Thượng Đế trao cho mọi thẩm quyền trên trời dưới đất, và hứa cho kẻ tin nhận Ngài sự sống đời đời.
Nhiều người ngày nay có một nỗi sợ hãi trong lòng khiến họ trốn tránh mối tương giao với Thượng Đế, cho dù Thượng Đế sẵn sàng đến với họ để giúp họ tìm giải pháp. Thay vì trực tiếp kêu cầu Thượng Đế, tin tưởng nơi Thượng Đế, con người thường đi tìm giải pháp khác, lý do biện hộ khác hay một ai đó dường như có khả năng tiếp kiến Thượng Đế thay cho họ.
Từ những nỗi sợ hãi mang trong người, khiến con người đâm sợ mỗi khi phải đối diện với Thượng Đế, Đấng biết rõ mọi tâm tư, suy tưởng của con người. Tội lỗi đầu tiên làm nỗi sợ hãi xâm chiếm đời sống con người và tiếp tục kéo dài theo dòng lịch sử. Hễ sợ hãi nhiều bao nhiêu, con người thêm xa lánh Thượng Đế bấy nhiêu. Và hễ xa lánh Thượng Đế thì con người lại miệt mài đi tìm một thứ gì để lấp khoảng trống tâm linh. Đi tìm nhiều, hụt hẫng nhiều. Hụt hẫng chán chê con người tăng thêm sợ hãi. Con người đã và đang sống một cái vòng lẩn quẩn của sự"thiếu vinh hiển của Đức Chúa Trời". Nhiều người không có lối thoát giữa cuộc sống bon chen này. Sự giáng sinh của một Đấng từ Trời là giải pháp duy nhất nhấc con người ra khỏi cảnh bế tắt đó. Khi Ngài vào đời, sứ điệp đầu tiên của thiên sứ báo tin cho những người chăn chiên, những đại diện loài người đầu tiên nhận Tin Mừng từ Thượng Đế, là "đừng sợ chi" (Lu-ca 2:10), mở đầu một Tin Lành giải phóng con người thoát khỏi bất an, mở ra một trang sử mới để trực tiếp đến với Thượng Đế. Sự giáng sinh của Đức Chúa Giê-su phá tan xiềng xích sợ hãi cho những ai bằng lòng bước vào mối tương giao với Thượng Đế. Nhưng trước khi nhận Tin Mừng đó, con người phải thuần phục đối diện với Thượng Đế. Xưa một cố vấn tôn giáo đã bầy tỏ kinh nghiệm này khi thốt lên: "Khốn nạn cho tôi! Xong đời tôi rồi! Vì tôi là người có môi dơ dáy, ở giữa một dân có môi dơ dáy, bởi mắt tôi đã thấy Vua (trời)" (Ê-sai 6:5) Chỉ khi nào đối diện toàn diện với Thượng Đế, con người mới thấy được một cách toàn diện những bất toàn của mình mà bằng lòng tiếp nhận giải pháp của Thượng Đế cho con người.
Mùa Giáng Sinh là thời gian nhiều trẻ con liệt kê những món quà chúng ao ước: đồ chơi, quần áo, bánh kẹo...Nếu con người liệt kê những mong muốn của mình chắc chắn có một số người sẽ ao ước có thêm áo quần mới, xe hơi mới hay thêm tiền bạc. Nhưng không khỏi có người ao ước được thương yêu, bình an, vui thỏa và có hy vọng. Điều kỳ diệu của Giáng Sinh là Giáng Sinh hứa hẹn thỏa đáp cả bốn điều này cho họ.
Chúa Giáng Sinh có liên hệ gì với ước nguyện của con người. Để thấy được sự liên hệ giữa ước nguyện của con người và Giáng Sinh, con người cần hướng về nhân vật chính của đêm Giáng Sinh đầu tiên, một hài nhi sinh ra trong chuồng chiên, máng cỏ. Hài nhi này có ba danh xưng nói lên bản chất của người mang tên, nói một cách khác có thể nhận thức ý nghĩa và sự liên hệ giữa Giáng Sinh và con người: 1.Em-ma-nu-ên nghĩa là Đức Chúa Trời ở cùng người (Ma-thi-ơ 1:23) - 2.Giê-su nghĩa là Đức Chúa Trời giải cứu loài người thoát khỏi tội lỗi (Ma-thi-ơ 1:21) - 3.Chiên Con của Đức Chúa Trời nghĩa là Đấng xóa tội lỗi cho loài người (Giăng 1:29)
Đây là ý nghĩa của Giáng Sinh: Đức Chúa Trời yêu thương rất mực con người và giáng thế để đến gần loài người.
http://www.vannghesi.net/Articles/Sacto/Qua%20Tang%20Giang%20Sinh.html Đọc thêm!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

