Phước, Lộc, Thọ là 3 điều mà người
dân Á Đông thường hay ao ước cho mình cũng
như chúc tụng cho người. Họ hay khắc ra 3 hình
tượng cát tường là 3 ông già: một ông quan mặc
triều phục có vài con dơi bay lượn trên đầu,
tượng trưng cho Phước; một ông bồng cháu nhỏ,
có dắt theo con nai, tượng trưng cho Lộc; ông
già nhất râu tóc bạc phơ, tay cầm trượng, tay
cầm trái đào, dựa gốc tùng có con hạc đậu lên
trên, tượng trưng cho Thọ.
Ba dân tộc Việt,
Nhật, Hoa đều thích ý niệm tam đa trên, nhưng
có sự khác biệt một chút. Người Việt trọng
Phước, người Hoa trọng Lộc, người Nhật trọng
Thọ. Vì lẽ trên chúng ta không ngạc nhiên khi
thấy người Hoa thích buôn bán, kinh doanh;
người Nhật để ý tới dinh dưỡng, ăn uống sao
cho có lợi cho sức khỏe, để tăng tuổi thọ; người
Việt khi làm việc này, việc nọ hay suy nghĩ coi
có phạm âm đức mà mất phước hay không.
Ai ai cũng tìm phước, lánh họa. Ngày
xuân, chúng ta thường thấy nhiều người viết trên
giấy điều cầu xin Ngũ Phúc Lâm Môn (五 福 臨
門 ) là mong 5 thứ phước vào nhà mình, đó là
Phú, Quý, Thọ, Khương, Ninh tức là Giàu,
Sang, Sống Lâu, Khỏe Mạnh, Bình An. Kinh
Thi chia ra năm thứ phước là (1) Giàu (phú 富),
(2) Yên lành (an ninh 安 寧), (3) Thọ 壽 (4) Có
đức tốt (du hảo đức 攸 好 德 ), (5) Vui hết tuổi
trời (khảo chung mệnh 考 終 命).
Vào những ngày Tết âm lịch, một số
người Trung Hoa lại hay treo chữ Phước ngược
đầu mà họ gọi phúc đáo nhãn tiền (phước đến
ngay trước mắt). Sự tích này bắt đầu từ triều
Minh bên Tàu. Sau khi Chu Nguyên Chương
lên ngôi, phong cho người vợ lấy từ thuở hàn vi
làm hoàng hậu. Mã hoàng hậu vốn con nhà
nghèo, lúc trẻ phải làm lụng cực nhọc nên tay
chân thô to, khác với các tiểu thư khuê các tay
chân thon nhỏ. Một năm vào đêm trừ tịch (đêm
30 tháng chạp), Chu Nguyên Chương giả dạng
thường dân đi dạo phố, xem dân đón xuân. Nhà
nhà treo đèn kết hoa, vui vẻ đón mừng năm mới.
Đi dần đến một khu phố, ông thấy một đám
đông đang cười nói ồn ào trước một căn nhà.
Họ cười chỉ vào chiếc đèn kéo quân có vẽ hình
một người phụ nữ cưỡi ngựa, hai tay ôm trái dưa
hấu, hai chân lớn quá khổ. Nguyên Chương biết
họ trêu chọc vợ mình vì cưỡi ngựa là họ Mã,
trái dưa hấu là “tây qua”, nhắc tới quê quán bà là
Hoài Tây, chân to là ngụ ý lai lịch bần hàn của
Mã hoàng hậu. Nguyên Chương tức giận vô
cùng, chờ tới khuya mọi người giải tán, ông tới
căn nhà có chiếc đèn kéo quân đó, quan sát, thì
thấy như mọi nhà có treo chữ Phước ngoài cửa,
ông bèn quay ngược chữ Phước lại, để ngày mai
ra lệnh bắt giết nhà này. Khi về hoàng cung,
mặt ông vẫn còn hầm hầm, Mã hậu gạn hỏi thì
biết được câu chuyện. Bà có tính hiền lành, thấy
vì một chút chuyện cỏn con mà ngày đầu năm sẽ
có đầu rơi máu đổ thì không phải là điều tốt. Bà
cũng biết khó mà khuyên nhủ ông vua chồng
đang tức giận. Bà ngầm sai mấy thái giám và vệ
sĩ tâm phúc đi ra kinh thành lật ngược chữ
Phước ở mọi nhà trên các đường phố. Sáng hôm
sau, toán cẩm y vệ được sai phái đi tìm nhà có
chữ Phước treo ngược thì sững sờ khi thấy mọi
nhà đều treo ngược chữ Phước. Về báo cáo lại,
thì Nguyên Chương biết chuyện này do kế của
hoàng hậu, vả lại lúc đó, triều thần tới chúc Tết
nhà vua, nên ông cũng hết giận và kể lại cho các
quan biết. Mọi người đều ca ngợi hoàng hậu
hiền đức. Chu Nguyên Chương vui vẻ, nói rằng
bỏ qua chuyện này. Câu chuyện được truyền ra
dân gian, họ cho rằng đảo ngược chữ Phước thì
được phước ngay trước mắt.
Có sự phát âm khác nhau về chữ này
giữa người Việt hai miền Nam Bắc. Người miền
Bắc hay nói là chữ Phúc, còn người miền Nam
gọi là Phước, tránh nói Phúc vì kỵ huý các vua
chúa nhà Nguyễn. Tương truyền vào năm 1563,
bà vợ của Nguyễn Hoàng khi mang thai người
con trai thứ sáu của Nguyễn Hoàng, nằm mộng
thấy thần nhân cho một tờ giấy hồng điều trên có
nhiều chữ Phúc (福 ), lại có một chữ Phúc rất
lớn rơi vào lòng, sau đó sanh ra một trai đặt tên
là Nguyễn Phúc Nguyên, sau là Chúa Sãi. Các
con trai cháu trai về sau của Chúa Nguyễn đều
dùng chữ lót là Phúc.
Chúng ta cũng cần phân biệt chữ Phước
福 và chữ Phú 富. Phú và Phước đều có các bộ
chữ Nhất, Khẩu, Điền, nghĩa là nói lên một đời
có của ăn, có của để, nhưng Phước khác với Phú
ở chỗ bỏ ra bộ miên là nóc nhà, mà thêm vào bộ
Thị nghĩa là thần. Điều này nói lên một phước
nguyên từ trời, phước từ thiên thượng đổ xuống,
không chỉ nói phước vật chất mà còn là phước
tinh thần, tâm linh.
Trong Kinh Thánh, sách Mathiơ chương
5 ghi lại Chúa Giê-xu đảo lộn tư tưởng thông
thường của loài người khi Ngài đưa ra quan
niệm Phước về phương diện tâm linh. Xin ghi
lại 8 mối phúc này theo “Bản Phổ Thông”:
1Phúc cho những ai đang nghèo khó về tâm linh,
vì nước thiên đàng thuộc về họ. 2Phúc cho
những ai đang buồn bã, vì Thượng Đế sẽ an ủi
họ. 3Phúc cho những ai khiêm nhường, vì họ sẽ
nhận được đất. 4Phúc cho những kẻ lúc nào
cũng cố gắng làm điều phải, vì Thượng Đế sẽ
thỏa mãn họ. 5Phúc cho những ai tỏ lòng thương
xót đối với kẻ khác, vì Thượng Đế cũng sẽ tỏ
lòng thương xót đối với họ. 6Phúc cho những ai
có tư tưởng trong sạch, vì sẽ được ở với Thượng
Đế. 7Phúc cho những ai mang lại hòa bình, vì
Thượng Đế sẽ gọi họ là con cái Ngài. 8Phúc cho
những ai bị ngược đãi vì làm điều phải, vì nước
thiên đàng là của họ.
Sách Thi-Thiên, bài 128 cho rằng người
kính Chúa thì được phước và bài 1 đã ví:
Người được phước như cây trồng gần nước
Đơm hoa và kết quả đúng theo mùa
Lá cây ấy chẳng bao giờ héo úa
Việc người làm luôn thịnh, chẳng hề thua.
Thi‐Thiên (Psalm) 1:3
NSM, So 175-176
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Cám ơn bạn đã đọc bài viết. bạn có nhận xét gì về bài viết và quan điểm của bạn hãy để lại vài lời chia sẻ cùng mọi người. Xin lưu ý bạn, các nhận xét không có tính góp ý xây dựng sẽ bị xoá ngay. Các nội dung gõ bằng tiếng Việt, có dấu rõ ràng sẽ không làm người khác hiểu lầm. Xin trân trọng cảm ơn bạn đã ghé thăm blog.Chúa ban phước cho bạn!