LTS: Trong bài báo trước, Châu Sa có nêu lên sự mâu
thuẩn của các bản dịch Kinh Thánh về mối liên hệ gia
đình giữa Mac và Banaba dựa vào câu KT Côlôse 4:10.
Có bản thì xem như hai người là anh em họ, có bản thì
cho liên hệ là cậu cháu. Kỳ này, chúng tôi hoan nghênh
ý kiến của ông Lê Thành Nhơn. Theo ông thì 2 người
này là cậu cháu. Chúng tôi mong mỏi nhận được thêm ý
kiến khác từ bạn đọc. NSM
- Sở dĩ có sự khác biệt là bởi vấn đề dịch thuật..
Đề sao dịch một danh-tự từ cổ ngữ Hy-Lạp sang sinh
ngữ Anh hay Pháp rồi sang Việt hay Hoa những người
dịch phải vượt qua những khó khăn khó tránh được như
“Tam sao thất bổn”. Hơn nữa, những định nghĩa của các
từ ngữ trong các ngôn ngữ khác nhau thường có một ít
khác biệt, và có thể làm sai lệch ý nghĩa chánh, sau khi
dịch đi dịch lại vài lần… Một thí dụ, chữ Latin viết là
Consinus, dịch sang Anh, Pháp đều là Cousin, chữ này
dịch sang Việt là anh em chú bác, cô cậu hay bạn dì,
theo nghĩa hẹp, được thông dụng trong dân chúng.
Người dịch tùy tiện mà chọn hoặc anh em chú bác, hoặc
cô cậu hay bạn dì…
Thí dụ: Kinh Thánh Việt của United Bible
Societies dịch Mac là anh em chú bác với Banaba. Kinh
Thánh Song ngữ Việt Anh của The Gideons
International viết Mac là anh em cô cậu với Banaba,
phần tiếng Anh thì ghi là “sister’s son to Barnabas’’.
Thánh Kinh Từ Điển của William C. Cadman viết Mac
là em họ ngoại của Banaba (có thể dịch từ chữ Latin
Consobrinus, chữ này dịch sang Pháp là cousin germain
maternel.
Chữ “Cousin” có hai nghĩa: rộng và hẹp. Tự
điển Việt dịch cousin theo nghĩa rộng là họ, và theo
nghĩa hẹp là bà con chú bác, cô cậu, bạn dì, là những
người bà con cùng thế hệ thứ nhứt (first cousin).Tự điển
Mỹ, loại bỏ túi giải nghĩa ngắn gọn cousin là “related
person” (nghĩa rộng) và bảo “see also First cousin,
second cousin”. Còn có nghĩa hẹp là “child of one’s
uncle or aunt.” Còn khi cần xác định chính xác hơn, Mỹ
có những cụm từ như: maternal hay paternal first cousin,
second cousin. Trường hợp của Mác là “maternal second
cousin”, căn cứ vào các kinh thánh đã viết Mác là cháu,
là con người chị của Banaba hay nói gọn lại là “cousin”
cũng được. “Second cousin” tự điển giải thích là “The
child of one’s parent’s cousin”. Sách Colossians viết gọn
là “Mark, the cousin of Barnabas”.
Người Việt dưới thời Pháp thuộc, khi dịch chữ
cousin, nếu không có dữ kiện để xác định, thì tùy tiện
chọn một trong ba: chú bác, cô cậu, bạn dì đều được cả.
Nếu có một nhà nghiên cứu nào nghi ngờ và chứng minh
rõ ràng thì về sau người ta sẽ tu chính lại. Sự nghi ngờ
cũng có điểm tốt là giúp cho người khác thấy mà tu
chính. Vì thế các quyển Kinh Thánh xuảt bản càng gần
đây, càng có giá trị vì được tu chính nhiều lần.
Người Pháp định nghĩa cousin theo nghĩa rộng
“Personne qui a les mêmes grands-parents (ou
ascendents plus lointain) qu’une autre sans être son frère
ou soeur”. Trường hợp cần xác định rõ ràng hơn Pháp
dùng những cụm từ nhu “Cousin germain maternel”, rồi
“cousin issu de germain” rồi thêm “germain maternel ou
paternel” hay nói gọn lại là “Cousin” để phân biệt với
“cousin à la mode de Bretagne’’ hay với ‘’frère’’, như đã
thấy trong Colossiens,” Marc le cousin de Barnabe’’.
Tổng Kết:
… Về liên hệ giữa Banaba và Mác thì họ có bà con họ
hàng với nhau… Muốn có sự chính xác về Mac và
Banaba thì tổng hợp các dữ kiện như “cousin”, “con
người chị”, “cháu của Banaba” thì thấy rõ Mark là
“maternal second cousin” hay nói cách khác Mac là cháu
thuộc thế hệ thứ hai. Nói gọn lại thì họ cậu cháu với
nhau.
Lê Thành Nhơn (Jacksonville)
Theo Nếp sống mới, số 139-140
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Cám ơn bạn đã đọc bài viết. bạn có nhận xét gì về bài viết và quan điểm của bạn hãy để lại vài lời chia sẻ cùng mọi người. Xin lưu ý bạn, các nhận xét không có tính góp ý xây dựng sẽ bị xoá ngay. Các nội dung gõ bằng tiếng Việt, có dấu rõ ràng sẽ không làm người khác hiểu lầm. Xin trân trọng cảm ơn bạn đã ghé thăm blog.Chúa ban phước cho bạn!