Thứ Ba, 28 tháng 4, 2009

Bình An

Bình An là điều mà hầu như mọi người
đều mong mỏi, tìm cầu. Mỗi độ xuân về, người
xưa thường hay viết trên giấy đỏ, chữ vàng* bốn
chữ Xuất Nhập Bình An, dán trên cửa cái
để mong trong nhà có sự yên ổn. Một
người phải đi làm ăn xa, bạn bè tặng bức
tranh có cái bình nằm trên yên con ngựa
đang sải bước, tượng trưng cho lời chúc
“thượng lộ bình yên”. Chúng ta cũng
thường nghe rất nhiều lần câu: “Cầu xin
hai chữ bình an” từ môi miệng của những
người đang bối rối trước một nan đề nhức
nhối.

Người Do Thái khi gặp gỡ hoặc khi từ giả
thường hay chúc nhau 2 chữ bình an (SHALOM).
Trong sách Phúc Âm Luca (24:36) khi Chúa Giêxu
hiện ra, chào 11 sứ đồ: “Bình an cho các ngươi”.
Người Bắc Kinh chào nhau cũng dùng chữ An, như
chào buổi sáng là Tảo An, buổi tối là Vãn An.
Thánh Phao-lô đã cầu chúc “vui vẻ và bình an” cho
tín hữu ở La-mã (Roma 15:13). Các Phật tử hay
chấp tay chúc nhau “thân tâm thường an lạc” (an
lạc là bình an và vui vẻ). Yên ổn trong cuộc sống
và vui vẻ trong công việc làm ăn** là điều mơ ước
căn bản của mọi người, mọi giới. Ngay cả lúc chết
người ta cũng mong ước chết trong an bình: những
chữ “REST IN PEACE” “YÊN NGHỈ” thường thấy
nhất trên các mộ chí.
Người sống trong một đất nước hay gặp
chiến tranh thường mơ cuộc sống bình an trong một
xứ sở hòa bình. Thực tế thì chiến tranh xảy ra triền
miên, không chỗ này cũng chỗ khác trên mặt địa
cầu. Kiểm điểm lại lịch sử thế giới, nhân loại từ khi
có văn tự trải qua 3100 năm, con người sống trong
hòa bình không được 300 năm với hơn 8000 hòa
ước (peace treaty) đã được ký và không bao lâu lại
bị vi phạm.
Nhân loại khó sống trong hòa bình được lâu
vì bản chất con người là tham lam, ích kỷ, ham tư
lợi, không thông cảm hoàn cảnh người khác. Thủ
Tướng nước Anh, Winston Churchill (1874-1965)
có lần kể câu chuyện ngụ ngôn về sự tìm kiếm hoà
bình: “Ngày xưa, có lần các giống vật muốn sống
chung hòa bình với nhau, chớ không muốn giết
chóc, xâu xé nhau (như loài người) nữa, bèn họp
nhau lại để tìm phương cách. Con trâu nước phát
biểu trước rằng, sừng là vũ khí tự vệ, không hại ai,
còn răng và nanh để cắn xé là vũ khí dã man, vậy
xin hội đồng hãy cấm dùng các thứ này. Trâu, dê
và nhím vỗ “chân” tán thành. Cọp và sư tử có ý
kiến khác, chúng cho rằng răng, nanh và móng vuốt
là những vũ khí tự vệ đáng được tôn trọng. Bấy giờ
chú gấu nặng nề lên tiếng: “Răng, nanh, móng vuốt
cũng như sừng đều không tốt, vì có thể gây thương
tích cho kẻ khác, chi bằng lúc chúng ta bất đồng ý
kiến, hãy ôm xiết nhau thì thân thiện hơn. Lời phát
biểu của gấu nghe rất chí tình, có lẽ là bước đầu tiên
thiết lập nền hòa bình trong rừng, nhưng các thú
nhớ lại vòng tay cứng như thép, cùng với thân hình
vạm vỡ của các chú gấu thì ai nấy đều rùng mình.
Có con sợ quá lăn ra xỉu.”
Có người nói muốn tìm hòa bình phải
chuẩn bị chiến tranh nhưng Thánh Augustine (354-
430) cho rằng tìm hòa bình trong hòa bình tốt hơn
là tìm hòa bình trong chiến tranh (Letter to Darius).
Hai xứ Chile và Argentina tại Nam Mỹ
thường hay có chiến tranh với nhau về biên giới.
Năm 1900, chiến tranh gây tàn phá và chết chóc rất
nhiều, hai bên mới tìm cách để xây dựng hoà bình.
Năm 1903, họ ký hoà ước với nhau. Vào tháng 3,
1904 bà Senora de Costa cho dựng tượng Chúa
Giêxu lên ngọn núi Uspallata Pass trên rặng Andes,
là nơi người dân của hai xứ thường lên thăm viếng.
Trên tượng có khắc một câu bằng tiếng Tây ban
nha: “Chỉ khi nào rặng núi này tan ra thành bụi thì
người dân Chile và dân Argentina mới phá vỡ nền
hòa bình như lời họ thề hứa dưới chân của Đấng
Cứu Thế”. Pho tượng vẫn còn cho đến nay, tượng
trưng cho sự tìm kiếm hòa bình của hai dân tộc.
Trong một cuộc thi vẽ tranh với đề tài
“Bình An”, người ta chọn được 2 bức tranh để vào
bán kết: một bức vẽ cảnh hồ nước êm đềm với một
người ngồi buông câu trên chiếc xuồng nhỏ trông
thật thanh bình. Bức tranh làm chúng ta nhớ tới
ông câu Nguyễn Khuyến:
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Bức tranh thứ nhì vẽ cảnh một con chim mẹ
đang ung dung mớm mồi cho các chim con trong
hốc đá và bên ngoài là cuồng phong bão tố. Bức
tranh thứ nhì được giải vì nó nói lên được sự bình
an trong tâm hồn (Inner Peace).
Sự bình an trong tâm hồn không tùy thuộc
vào ngoại cảnh như giấc ngủ không tuỳ thuộc vào
chiếc giường như câu chuyện sau đây: Đại Đế La
Mã Augustus (63BC-14AD) thường bị chứng mất
ngủ, nghe cận thần thuật chuyện có một người nổi
tiếng ngủ rất dễ mặc dù nợ nần nhiều. Khi anh ta
đặt lưng lên giường là ngủ say như chết. Nhà vua
nghe được, mừng lắm bèn trả giá rất cao để mua
cho bằng được cái giường của anh này. Nhưng đại
đế tốn tiền vô ích! Cái giường không giúp được cho
ông ta chút nào.
Người có thể tưởng tượng nên tạo cho mình
một tịnh thất trong tâm khảm. Điều này có nghĩa
dù giông tố, dù nghịch cảnh bên ngoài đang xảy ra,
dễ làm mình nóng giận hay mất bình tĩnh, nếu trong
tâm hay trong trí của mình, có được một chỗ yên
tĩnh để mình vào trong đó (bằng tưởng tượng), hít
thở một hơi chậm và sâu, tự nhủ “hãy bình tĩnh,
đừng nóng”. Nhờ vậy, mình có thể ứng xử mọi sự
trong bình an.
Được hỏi bí quyết để có bình an trong tâm
hồn, một vị chắc thích đọc tác phẩm “How To Stop
Worrying & Start Living” của Dale Carnegie đã
phát biểu: “Hãy quẳng gánh lo đi và vui sống”. Sự
lo lắng thái quá luôn tạo sự bất an như trong sách
Phúc Âm Luca đoạn 12:22-31 có ghi.
Một thanh niên khi được hỏi thì trả lời:
“KISMIF”. Mới nghe tưởng là tiếng Nga, nhưng
hóa ra đó chữ tắt của câu tiếng Anh “Keep it
simple, Make it fun” có nghĩa là giữ sao cho sự việc
đơn giản và biến nó ra vui thích.
Một người trung niên cho ý kiến “phải có
tinh thần buông xả”, phải biết buông bỏ những cái
không cần thiết trong đời sống, chính những thứ
này gây cho mình phiền não, bất an. Trong tác
phẩm “Cái Dũng Của Thánh Nhân”, Thu Giang
Nguyễn Duy Cần viết: “Người ta thường vì những
sự nhỏ mọn không đâu, mà gây ra phiền não cho
mình. Nếu ai cũng biết thản nhiên đối với sự vật,
bình tâm mà xét thì sẽ thấy trăm việc đến cho mình,
chín mươi việc không đáng bận lòng chút nào cả.”
“Buông xả kết quả” việc mình làm giống như mình
đã hết sức học bài thi, chừng thi xong thì vứt bỏ sự
lo âu về kết quả đậu hay rớt. Giống như mình hết
lòng trong công cuộc truyền giáo, sau đó người
nghe có nhận hạt giống Phúc âm hay không là việc
của người đó với Chúa, chớ không còn là việc của
mình. Không nên tự dằn vặt, khổ tâm. Trong Phúc
Âm Mathiơ, Chúa Jesus sẵn sàng mang lấy gánh
nặng cho chúng ta (11:28-30).
Cũng phải biết quăng bỏ những “cục hờn,
cục hận” nữa. Giận hờn, cay đắng, hận thù thường
làm cho chúng ta mất sự bình an trong tâm hồn.
Thù hận chỉ làm tổn hại chính mình mà thôi, như có
câu nói “hận hại người hận, không hại người bị
hận” (hate hurts the hater, not the hated). Trong khi
đó sự thỏa lòng tạo được bình an trong tâm hồn:
Khi mình không thể đổi được hoàn cảnh thì hãy tập
tánh thỏa lòng: hãy bằng lòng với người bạn đời
của mình (dù người có nhiều khuyết điểm); hãy
bằng lòng với công việc của mình (dù nó có vẻ tầm
thường); hãy sống hoà thuận với người khác (dù họ
rất khó chịu); hãy bằng lòng với khuôn mặt, màu
da, phái tính, nguồn gốc dân tộc của chính mình (vì
Thượng Đế sinh ra mình như vậy). Về mọi thứ
khác, nếu mình cố gắng hết sức mà không thay đổi
được, thì hãy thỏa lòng.
Từ ngữ bình an và tương tự được nhắc
đến gần 400 lần trong Kinh Thánh. Theo sách Êsai
(9:5), Chúa Giê-xu có danh xưng là Chúa Bình
An (Prince of Peace) vì:
♦ Ngài đem lại sự hòa giải giữa người với
Đức Chúa Trời (Rom 5:1). Vì lẽ đó, đêm Chúa
Giê-xu giáng sinh qua lòng trinh nữ Mari, các thiên
thần đã ca ngợi: “Sáng danh Chúa trên các từng
trời rất cao, Bình an dưới đất, ân sủng cho loài
người” (Luca 2:14).
♦ Ngài hòa giải giữa người với người:
“chính Ngài là sự hòa hiệp của chúng ta.” (Epheso
2:14). Ngài cho biết người mang lại hòa bình,
người giải hòa là được phước lớn (Mathiơ 5:9).
Người sống đẹp lòng Chúa, Ngài cũng khiến kẻ thù
hòa thuận với người (Châm Ngôn 16:7 Bản Diễn ý).
Chúa Giê-xu ngọt ngào khuyên: “Khi các con dâng
của lễ cho Thượng Đế nơi bàn thờ, mà nhớ lại rằng
anh chị em mình còn có điều gì nghịch với mình,
thì hãy để của lễ nơi bàn thờ, trở về giảng hòa cùng
anh chị em mình trước, rồi sau đó đến dâng của lễ.
(Mathiơ 5:23-24 Bản Phổ Thông).
♦ Chúa đem lại sự bình an trong tâm hồn vì
bình an là một mỹ đức của Trái Thánh Linh (Galati
5:22). Chúng ta hãy có những tư tưởng tích cực,
lạc quan hướng thượng thì Chúa của bình an sẽ ở
cùng chúng ta, như lời khuyên của thánh Phaolô
trong Philip 4:8-9 (BPT) “… hãy nghĩ đến những gì
tốt và đáng khen. Điều gì chân thật, vinh dự, phải
lẽ, thanh sạch, tốt đẹp, và đáng trọng thì anh chị em
nên nghĩ đến. Hãy làm theo những gì anh chị em
đã học, đã nhận, đã nghe, đã thấy tôi làm, thì
Thượng Đế là nguồn gốc của bình an sẽ ở với anh
chị em.”
Hai chữ bình an có thể gợi lên ý niệm hoà
bình thế giới, hay cảnh thanh bình của đời sống, hay
trạng thái yên ổn nội tâm. Việc tìm kiếm thế giới
đại đồng hay thiên hạ thái bình là việc quá lý tưởng
và quá lớn. Đó phải là sự quan tâm của các nhà
lãnh đạo vì nó cần những kế hoạch qui mô. Điều
căn bản thiết thực mà những người tầm thường như
chúng ta cần có là sự bình an trong tâm hồn và ráng
sống hòa thuận cùng người chung quanh. Thánh
Phao-lô khuyên trong thư Roma (12:18) “Nếu có
thể được, thì hãy hết sức mình mà hòa thuận với
mọi người.” Kinh Thánh cho biết chỉ có Chúa Giêxu
mới có thể ban cho chúng ta sự bình an trọn vẹn.
Ngài phán: “Ta để sự bình an lại cho các ngươi; ta
ban sự bình an ta cho các ngươi; ta cho các ngươi
sự bình an chẳng phải như thế gian cho. Lòng các
ngươi chớ bối rối và đừng sợ hãi” (Giăng 14:27).
NSM
* tờ giấy đó gọi là “thụy thiêm” (瑞 簽)
** an cư lập nghiệp (安 居 樂 業)
Theo Nếp sống mới, số 145-146

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Cám ơn bạn đã đọc bài viết. bạn có nhận xét gì về bài viết và quan điểm của bạn hãy để lại vài lời chia sẻ cùng mọi người. Xin lưu ý bạn, các nhận xét không có tính góp ý xây dựng sẽ bị xoá ngay. Các nội dung gõ bằng tiếng Việt, có dấu rõ ràng sẽ không làm người khác hiểu lầm. Xin trân trọng cảm ơn bạn đã ghé thăm blog.Chúa ban phước cho bạn!