Thứ Ba, 28 tháng 4, 2009

Lòng Biết Ơn

Vào mùa Đông năm 1620, chiếc tàu
Mayflower đã chở một số người từ Anh quốc đến
Plymouth, tiểu bang Massachusetts để lập nghiệp.
Nhưng vì thời tiết năm ấy quá lạnh, và thiếu thực
phẩm nên một số đông người đã bị bịnh và chết.
Phân nửa số người may mắn còn sống sót đã ra sức
trồng tỉa và nhờ ơn trên phù hộ nên được trúng
mùa. Tháng 10 năm 1621, họ đã hiệp với dân bản
xứ người da đỏ tổ chức Lễ Tạ Ơn đầu tiên.

Năm 1789, Tổng Thống đầu tiên của Hoa
kỳ George Washington đã tuyên bố về ngày Lễ Tạ
Ơn như sau: “Xét rằng đây là bổn phận của tất cả
mọi quốc gia phải thừa nhận ơn Thần Hựu của
Thượng Đế Toàn Năng, vâng phục ý chỉ Ngài, cảm
tạ về những ân huệ và khiêm cung khẩn nài sự bảo
vệ và phúc lợi của Ngài…, bởi thế cho nên tôi đề
nghị và chỉ định Thứ Năm ngày 26 tháng 11 năm
tới, dân chúng khắp mọi tiểu bang phải dành riêng
cho sự tạ ơn Đấng Vinh quang vĩ đại, Đấng Căn
nguyên của mọi ơn phước từ trước đã có, hiện có và
còn sẽ tiếp diễn sau này. Chúng ta đều phải hợp
nhất, thành tâm cung kính cảm tạ Ngài về sự chăm
sóc đầy trọn và bảo vệ đối với dân tộc của đất nước
này.” (1)
Lễ Tạ ơn được tiếp tục kỷ niệm khắp nước
Mỹ trong những ngày khác nhau tùy theo tiểu bang,
mãi cho đến khi bà Sarah Josepha Hale viết nhiều
thư đề nghị lên các vị Tổng Thống và các Thống
Đốc trong hơn 30 năm để xin cho ngày Lễ Tạ Ơn
trở thảnh một ngày lễ trọng thể của quốc gia.
Cuối cùng, năm 1863 Tổng Thống Lincoln
đã tuyên bố và kêu gọi toàn thể nhân dân Hoa Kỳ
bất cứ ở nơi nào cũng phải hợp nhất đồng một lòng
và một tiếng (2) giữ ngày Lễ Tạ Ơn cách trọng thể
vào ngày Thứ Năm tuần chót của tháng 11 để tạ ơn
Thượng Đế, Đấng đã ban mọi ơn phước cho dân tộc
và đất nước Hoa Kỳ được an bình và thịnh vượng.
Tự điển Anh Ngữ định nghĩa chữ Tạ Ơn
(Thanksgiving) là “một sự bày tỏ lòng biết ơn đối
với Thượng Đế” (An expression of the gratefulness
especially to God).
Ca dao tục ngữ Việt Nam có những câu rất
hay, rất thâm thúy luôn nhắc nhở khuyên dạy ta chớ
nên vong ơn bội nghĩa:
Cây có cội, nước có nguồn
Chim có tổ người có tông
hoặc:
Ăn trái nhớ kẻ trồng cây
Uống nước nhớ người đào giếng
Người sống trên đời từ cách ăn mặc, đi
đứng, nói năng và mọi việc xử thế phần lớn đều
chịu ơn người trước, các bậc tiền bối. Là người dân
ai lại không nhớ đến ơn quốc gia. Được nên người
thành công đỗ đạt ai lại không nhớ ơn thầy dạy dỗ,
công ơn cha mẹ dưỡng dục sinh thành mà ta thường
nói cao hơn núi Thái sơn, rộng lớn hơn biển cả.
Nhưng có một ơn vô cùng lớn lao, bao la rộng rãi
hơn ơn quốc gia, cao trọng tôn quý hơn ơn thầy,
mênh mông thâm thúy hơn ơn cha mẹ, đó là Ơn
Trời, mà chúng ta phải ghi nhớ. Truớc hết chúng ta
suy nghĩ về:
Ơn Trời Trong Cuộc Sáng Tạo
Nhìn vũ trụ bao la, núi non hùng vĩ, biển cả
mênh mông, trăm hoa đua nở, muôn chim ca hót líu
lo, muôn vật mọi loài trên đất, trong biển… đều do
công trình sáng tạo kỳ diệu của Thượng Đế.
Từ vật to lớn hung dữ trên núi rừng như sư
tử, cọp beo, hoặc dưới biển như loài cá mập, cá voi
cho đến những loài bé nhỏ trên mặt đất hay những
loài vi trùng hoặc vi khuẩn mà mắt ta không thể
thấy được. Thử đem một giọt nước đặt dưới kính
hiển vi, ta sẽ thấy hàng triệu vi trùng sống đang cử
động. Nhìn ra đại dương man mác với hàng đợt
sóng ồ ạt tiến vào bờ, chúng ta nghĩ nó có thể tràn
vào càn quét lục địa dễ dàng nếu không có gì ngăn
cản, nhưng Thượng Đế đã định cho nó một giới
hạn. Sóng vỗ vào bờ rồi tan ra và cứ như vậy tiếp
diễn không ngừng.
Nhìn lên bầu trời bao la, hàng triệu vì sao
lấp lánh, đôi vầng nhật nguyệt chiếu soi, thay thảy
đều theo trật tự và luân thứ xoay vần trong quỹ đạo
của nó. Quả đất chúng ta đang sống tự xoay quanh
với tốc độ 1600 cây số một giờ. Thượng Đế đặt quả
đất lơ lửng giữa khoảng không, không dây cột,
không trụ chống đỡ, thế mà không va chạm vào bất
cứ hành tinh nào.
Nếu chỉ có muôn loài vạn vật mà không có
loài người thì thế giới này sẽ ra sao? Nếu thiếu loài
người trên mặt địa cầu, thế giới sẽ trống vắng buồn
thảm, cằn cỗi và vô vị. Nên sau khi sáng tạo muôn
vật, mọi loài trên đất, Thượng Đế đã tạo dựng nên
loài người để quản trị. Thánh Kinh chép: “Đức
Chúa Trời dựng nên loài người như hình Ngài, Ngài
dựng nên người nam cùng người nữ để quản trị loài
cá biển, loài chim trời, loài súc vật, loài côn trùng
bò trên đất và khắp mặt đất (Sáng Thế Ký 1:26-27).
Người là một Tạo Vật siêu đẳng và cuối cùng trong
công cuộc sáng tạo của Thượng Đế. Con người
được dựng nên cách rất diệu kỳ. Chỉ xét về cặp mắt
của con người, chúng ta thấy công trình vĩ đại khôn
ngoan của Đấng Tạo Hóa. Trong mắt có vô số tế
bào, nhiều dây thần kinh, có tròng đen, tròng trắng,
võng mô, võng mạc, con ngươi… Khi có bụi hoặc
vật gì vào mắt thì mi mắt tự động khép lại; có nước
nhờn giữ cho mắt khỏi bị khô; khi cảm xúc thì nước
mắt chảy ra. Phía ngoài có lông mi che đậy, phía
trên có hàng lông mày để giữ mồ hôi khỏi chảy
xuống mắt. Con người còn có hai tai để nghe, mũi
để thở, miệng để ăn, để nói. Hai tay để làm việc,
mỗi bàn tay có năm ngón tay, mỗi ngón lại có các
đốt tay co vào, giãn ra cầm giữ mọi vật dễ dàng.
Trong ngực có tim vận chuyển máu đi khắp châu
thân. Quả tim đập trung bình từ 60 đến 100 lần
trong một phút không ngừng, chừng ngưng đập là
người chết.
Cơ thể con người hoạt động không ngừng
từ giờ này qua giờ khác, ngày nầy sang ngày kia,
năm nầy đến năm nọ. Chúng ta thử nghĩ một bộ
máy xe tự động dầu tốt thế nào đi nữa cũng phải
thay dầu, bơm mỡ và chỉ dùng được một thời gian
mà thôi. Nhưng con người thật là kỳ diệu biết bao.
Giày dép tốt nào đi nữa cũng mòn, cũng hư, nhưng
bàn chân đi mãi mà vẫn không bao giờ mòn. Cho
nên nông phu ngày xưa đã thốt lên: “Trời cho chân
cứng đá mềm”. Chỉ một làn da mỏng đi trên đá
cứng, thế mà đá mòn còn chân vẫn y nguyên.
NGƯỜI chính là một sản phẩm tối ư quan
trọng và giá trị, là một kỳ công vĩ đại mà chính
Thượng Đế tạo dựng theo ảnh tượng của Ngài và
chính Ngài đã truyền sự sống cho người. Người có
thể xác mà cũng có linh hồn, biết phân biệt lẽ phải
điều trái, việc lành điều dữ. Vua David xưa đã từng
nói: “Vì chính Chúa đã nắn nên tâm thần tôi, dệt
thành tôi trong lòng mẹ tôi. Tôi cảm tạ Chúa, vì tôi
được dựng nên cách đáng sợ lạ lùng” (Thi-Thiên
139:13-14).
Người xưa có nói: “Thiên sinh vạn vật duy
nhơn tối linh” (天 生 萬 物 惟 人 最 靈 : Trời sinh ra
muôn loài vạn vật, nhưng người là linh thiêng hơn
cả). Đáng lẽ con người biết kính thờ Thượng Đế,
giao thông mật thiết với Ngài như tình cha con,
vâng phục Ngài cách tuyệt đối. Tiếc thay, loài
người đã lầm lạc xa cách Thượng Đế, đánh mất
những gì cao quý mình hắng ước mơ. Nhưng Ngài
vẫn đầy lòng nhân từ, thương xót nên đã hoạch định
một phương pháp để cứu loài người.
Ơn Trời Trong Sự Cứu Rỗi
Thượng Đế dựng nên loài người cách vinh
hiển tuyệt vời, khôn ngoan hiểu biết để thờ phượng
giao thông với Ngài, tôn vinh chúc tụng Ngài song
loài người không giữ mình trong địa vị cao quý, đã
trái lệnh Thượng Đế. Loài người đã bị sự cám dỗ
của ma quỷ, phạm tội xa cách khỏi sự hiện diện của
Thượng Đế, và kết quả là một sự chết kinh khiếp.
Nghe đến sự chết, ai trong chúng ta cũng
đều rùng mình lo sợ, vì sự chết là chấm dứt, là cuối
cùng của cuộc đời. Sự chết không miễn trừ một ai,
từ vua đến dân, từ kẻ giàu đến người nghèo, từ giới
trí thức đến kẻ vô học, người lớn kẻ nhỏ, anh hùng
hào kiệt đến kẻ vô danh tiểu tốt.
Thánh Kinh chép: “Vì mọi người đều đã
phạm tội, hụt mất sự công nghĩa của Thượng Đế
(Rôma 3:23) và “Công giá của tội lỗi là sự chết
(Rôma 6:23), “Theo như đã định cho loài người
phải chết một lần rồi chịu sự phán xét (Hêbơrơ
9:27). Sự chết thể xác này đã là ghê sợ kinh hoàng,
nhưng đó mới là sự chết thứ nhất, nhưng linh hồn
của người có tội phải bị hình phạt nơi địa ngục chịu
đau đớn triền miên, đó chính là sự chết thứ hai.
Thánh Kinh chép: “Biển trao trả các thi hài nằm
trong lòng biển. Tử vong và âm phủ cũng giao nộp
người chết chúng giam cầm. Mỗi người bị xét xử
tùy theo công việc mình đã làm. Tử vong và âm
phủ bị quăng xuống hồ lửa. Và hồ lửa là sự chết
thứ hai” (Khải-thị 20:13-14).
Làm thiện hay làm ác cuối cùng sẽ có sự
báo ứng, thưởng phạt (thiện ác đáo đầu chung hữu
báo: 善 惡 到 頭 終 有 報 ). Đang khi loài người cảm
xúc nỗi đau đớn kinh hoàng của sự chết sẽ xảy đến,
họ đã tìm đủ mọi phương cách để trốn thoát, nhưng
vẫn tuyệt vọng, vô phương tự cứu thì Thượng Đế đã
ban một ơn cứu rỗi vĩ đại cho người. Ngài đã sai
Con Ngài là Chúa Jesus từ trời giáng thế để cứu
người. Sách Giăng 3:16 có chép: “Vì Đức Chúa
Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con Một
của Ngài hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất
mà được sự sống đời đời.” Chúa Jesus đến trần
gian nầy không để lập một vương quốc rộng lớn
hoặc xưng hùng tranh bá với ai. Ngài không đến để
dạy một triết lý cao siêu, hay đào tạo những môn
sinh lỗi lạc, nhưng Ngài đến với mục đích là cứu
loài người khỏi tội lỗi, khỏi sự chết mất đời đời,
như có chép: “Đức Chúa Jesus Christ đã đến trong
thế gian để cứu vớt kẻ có tội” (I Timôthê 1:15), “…
đến trần gian để tìm và cứu những người bị lầm
lạc” (Luca 19:10)
Muốn cứu người, Chúa Jesus phải trở nên
người và Ngài đã phải hi sinh thân mạng trên Thập
tự giá, chịu chết để chuộc tội cho chúng ta. Chúng
ta không thể dùng bút mực hay lời nói nào mô tả
cho tận cùng lòng yêu thương, ơn cứu rỗi lạ lùng
mà Thượng Đế đã thực hiện. Vậy chúng ta phải
làm gì để biết ơn Thượng Đế và tạ ơn Ngài.
Người Đối Với Ơn Trời
Lòng biết ơn là một cử chỉ cao đẹp mà chỉ
riêng loài người mới có. Chữ cám ơn “Thank you”
đối với người Mỹ lúc nào cũng sẵn sàng nơi môi
miệng đến nỗi có lúc như dư thừa, không cần thiết.
Khi nhận một vật gì từ một người nào trao tặng hay
một sự giúp đỡ của ai, ta liền cám ơn. Có khi cảm
xúc lời mình nói chưa đủ, bèn viết thư, thiệp để bày
tỏ lòng biết ơn của mình. Nhiều lúc nhận một ơn
lớn từ một người khác nhất là người trên mình, ta
rất xúc động, không biết tạ ơn thế nào cho phải.
Người đối với người chúng ta còn biết xử sự như
thế, huống chi đối với Thượng Đế là Đấng cao cả,
Vua của vũ trụ, Đấng đã sáng tạo thế giới và loài
người, Đấng đã ban ơn cứu rỗi thì chúng ta phải tỏ
lòng biết ơn Ngài cách nào cho xứng đáng.
Đứa con biết ơn cha mẹ thì bao giờ cũng
một lòng thờ kính cha mẹ cho tròn chữ hiếu. Đối
với Thượng Đế Toàn Năng, chúng ta phải đem hết
lòng tôn kính, phụng thờ Ngài để tỏ lòng biết ơn
Thiên Phụ Từ Ái. Sách Giăng (1:12) có chép: “Tất
cả những người tiếp nhận Chúa đều được quyền
làm con cái của Thượng Đế.” Tiếp nhận Chúa là
đặt niềm tin nơi Chúa Jesus.
Lễ Tạ Ơn không còn là một phong tục riêng
của dân bản xứ nữa, mà có thể trở nên một ngày lễ
thật đặc biệt cho chúng ta để tỏ lòng thờ kính và
biết ơn Thượng Đế. Ước mong quý vị và các bạn
cũng cảm nhận được tình yêu của Thượng Đế về ơn
sáng tạo, ơn chăm sóc bảo vệ và hết lòng kính thờ
Ngài để tỏ lòng biết ơn như hàng triệu người trên
thế giới trong Mùa Tạ Ơn nầy.
Mục sư Phan Minh Tân
(1) Whereas it is the duty of all nations to acknowledge
the Providence of the Almighty God, to obey his
will, to be grateful for his benefits, and humbly to
implore his protection and favor… now therefore I
do recommend and assign Thursday, the 26th day of
November next to be devoted by the people of these
States to the service of that great and glorious Being,
who is the beneficent Author of all the good that
was, that is, or that will be; that we may then all
unite in rendering unto him our sincere and humble
thanks for his kind care and protection of the people
of this country.
(2) Whole American people wherever they lived to
unite with one heart and one voice.
Theo Nếp sống mới, Số 143-144

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Cám ơn bạn đã đọc bài viết. bạn có nhận xét gì về bài viết và quan điểm của bạn hãy để lại vài lời chia sẻ cùng mọi người. Xin lưu ý bạn, các nhận xét không có tính góp ý xây dựng sẽ bị xoá ngay. Các nội dung gõ bằng tiếng Việt, có dấu rõ ràng sẽ không làm người khác hiểu lầm. Xin trân trọng cảm ơn bạn đã ghé thăm blog.Chúa ban phước cho bạn!