Người viết: Thái Bá Tân
24/12/2009
Những chuyện kỳ thú về lễ Giáng sinh, Ông già Noel và Cây thông Noel...
Ông già Noel và Cây thông Noel là những “thiết lễ” thường xuất hiện trong dịp lễ Giáng sinh đối với người theo đạo Thiên Chúa; vậy thiết lễ này ra đời từ đâu và có bao huyền thoại, truyền thuyết được người đời thêu dệt về nhân vật Ông già Noel và Cây thông Noel đã làm cho những thiết lễ này trở nên lung linh, huyền ảo và được lưu truyền tại nhiều quốc gia khác nhau..
Ông già Noel là người ngồi trên chiếc xe tuần lộc kéo, thường bí mật mang quà tặng cho trẻ em trên toàn thế giới vào dịp lễ Giáng Sinh hàng năm; Ông già Noel thường có bộ mặt hồn hậu, vui vẻ với chiếc mũi màu đỏ. Vậy ông già Noel là ai?
Theo truyền thuyết Thiên Chúa, ông già Noel là một con người tàn bạo, ông đã tự chặt tay vợ mình để được Đức Mẹ Maria chấp nhận cho thuê một chỗ trú chân trong ngôi nhà của Đức Chúa. Khi biết được tình cảnh, việc làm của ông già Noel, Đức Mẹ đã dùng phép thánh nối lại cánh tay cho vợ của Noel. Cảm phục trước phép thánh và đức độ của Đức Mẹ Maria, ông già Noel đã tình nguyện đầu quân làm tín đồ của đạo Thiên Chúa...
Để ăn mừng sự việc này, ông già Noel sau khi về nhà mình đã cho mang nhiều củi chất ra sân nhà đốt lên và cho gia nhân đến nhảy múa; sau đấy, ông già Noel đã đem chia thức ăn cho mọi người; Noel từ một con người đang tâm chặt tay vợ đã trở thành một ông già hảo tâm, xởi lởi với mọi người...
Hình ảnh ông già Noel được truyền bá rộng rài khắp thế giới như hiện nay được khởi đầu từ năm 1931 trong một chiêu thức quảng cáo của Tập đoàn nước giải khát Coca-Cola. Sáng kiến quảng cáo này là của Haddon Sundblom, sử dụng một ông già phúc hậu, xởi lởi và vui tính, có bộ râu trắng như cước và rậm, cũng ngồi trên chiếc xe tuần lộc kéo, thường ghé thăm mọi nhà vào dịp lễ Giáng sinh và mang theo món quà của Tập đoàn Coca-Cola...
Thực ra motiv ông già Noel có cội nguồn xuất phát từ các truyền thuyết của những người theo đạo Thiên chúa về Thánh Nicolae, xuất hiện tại nhiều quốc gia châu Âu từ thế ký thứ IV; Thánh Nicolae cũng giống như các ông Tiên, ông Bụt trong các truyện cổ phương đông: một con người tốt bụng, quyền lực và tiền của vô biên có thể cứu giúp tất cả mọi người tất cả những gì mà chúng sinh cầu nguyện...
Hình tượng về Thánh Nicolae của người theo đạo Thiên Chúa được “nhập khẩu” vào Mỹ từ thế kỷ XVII-XVIII; nhưng phải vào đầu thế kỷ XX, huyền thoại Thánh Nicolae và ông già Noel này mới được Hãng Coca-Cola tận dụng, tổ hợp sáng chế thành phương tiện quảng cáo sản phẩm cho hãng mình. Nói cách khác, Tập đoàn Coca-Cola đã có công vừa kế thừa, vừa phát triển, vừa hiện đại hóa hình tượng Thánh Nicolae và ông già Noel trước tiên để phục vụ cho mục đích kinh doanh của họ. Huyền thoại này đã được Coca-Cola cải biên để mang theo những nó những nội dung công việc và nhu cầu tâm linh của người hiện đại: người mang phúc lộc đến cho mọi nhà, niềm vui cho con trẻ... Rất nhiều quốc gia hiện nay đã sử dụng “bản quyền sáng chế” ông già Noel của Tập đoàn Coca-Cola để thứ nhất mua vui cho con trẻ và làm cho ngày lễ Giáng sinh vừa thêm phần vui vẻ...
Hình vẽ về ông già Noel xuất hiện đầu tiên trên Tạp chí Harper’s Weekly vào năm 1860 do họa sĩ người Đức là Thomas Nast thể hiện, bức họa này được in trên tạp chí kéo dài trong suốt 20 năm. Bức họa đầu tiên này vẽ một ông già mặc một bộ áo khoác lông màu đỏ, những chiếc cúc màu đen và một chiếc thắt lưng da to bản...
Bắt đầu từ năm 1865, đa số người Mỹ chấp nhận tổ chức lễ Giáng sinh và coi hình tượng ông già Noel là biểu tượng của dư giả và hạnh phúc. Biểu tượng của Lễ Giáng sinh đó là cây thông Noel.
Theo thống kê của một Hãng truyền hình Italia, hiện nay ông già Noel có thể nói được 2700 thứ tiếng, 7000 thổ ngữ chưa kể loại ngôn ngữ trong thế giới Thiên đường của ông...
Những truyền thuyết về Cây thông Noel...
Cũng giống như cây đào của người Việt Nam, người dân tại nhiều nước phương Tây, những nước có nhiều cư dân theo đạo Thiên Chúa thường rất chú trọng mua sắm và trang trí cho Cây thông Noel trong những ngày lễ trọng này.
Theo truyền thuyết của người phương Tây, Thánh Boniface, một thầy tu người Anh, người đã sáng lập ra nhà thờ đạo Cơ Ðốc ở Pháp và Ðức kể rằng, một hôm trên đường hành hương, ngài tình cờ bắt gặp một nhóm những kẻ ngoại đạo sùng bái đang tập trung quanh một cây sồi lớn, dùng một đứa trẻ tế thần. Ðể dừng buổi tế thần và cứu đứa trẻ, Boniface đã hạ gục cây sồi chỉ bằng một quả đấm. Tại nơi đó đã mọc lên một cây thông nhỏ. Vị Thánh nói với những kẻ ngoại đạo rằng cây thông nhỏ là cây của sự sống và nó tượng trưng cho cuộc sống vĩnh hằng của Chúa cứu thế.
Một truyền thuyết khác kể rằng: tương truyền, một lần Thánh Martin Luther, người sáng lập đạo Tin Lành dạo bước qua những cánh rừng vào một đêm Noel khoảng năm 1500. Trời quang và lạnh, hàng triệu vì sao sáng lấp lánh qua kẽ lá. Ngài thực sự ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của một loài cây nhỏ, trên cành cây tuyết trắng phủ đầy, lung linh dưới ánh trăng. Cảnh vật hôm đó đã làm Luther thực sự rung động. Vì thế, khi trở về ngài đã đặt một cây thông nhỏ trong nhà và kể lại câu chuyện này với lũ trẻ. Ðể tái tạo ánh sáng lấp lánh của muôn ngàn ánh sao ngài đã treo nến lên cành cây thông và thắp sáng những ngọn nến ấy với lòng tôn kính ngày Chúa Giáng sinh.
Một truyền thuyết khác lại kể rằng, vào một đêm Noel cùng một người tiều phu nghèo khổ đang trên đường trở về nhà thì gặp một đứa trẻ bị lạc và lả đi vì đói. Mặc dù nghèo khó nhưng người tiều phu đã dành lại cho đứa trẻ chút thức ăn ít ỏi của mình và che chở cho nó yên giấc qua đêm.Vào buổi sáng khi thức dậy, ông nhìn thấy một cái cây đẹp lộng lẫy ngoài cửa. Hoá ra đứa trẻ đói khát tối hôm trước chính là Chúa cải trang. Chúa đã tạo ra cây để thưởng cho lòng nhân đức của người tiều phu tốt bụng.
Tại Riga, từ năm 1510 cây thông bắt đầu trang trí, gắn thêm những vật thắp sáng, đó là những ngọn nến để đêm đến trẻ em có thể nhìn thấy những ngọn nến này lấp lánh như những ngôi sao trên trời, nơi trú ngụ của Thượng đế.
Cây thông Noel xuất hiện lần đầu tiên cách đây 1000 năm tại nước Đức, một số người Đức đã dựng cây thông như là một biểu tượng tôn thờ Thượng đế. Bước sang thế kỷ XII, cây thông bắt đầu được trang trí trong dịp Noel.
Sang thế kỷ XVI, tại nước Đức đã xuất hiện những khu phố chuyên bán những món ăn được treo trên các cây Thông Noel, một thứ quà ban phát của Thượng đế. Đến thế kỷ XIX, từ năm 1841 thì cây Thông Noel đã xuất hiện phổ cập hầu khắp các nước châu Âu và tại các quốc gia có nhiêu cư dân theo đạo Thiên Chúa. Tại Mỹ thì cây Thông Noel bắt đầu xuất hiện vào năm 1830 tại Pennsylvania do những kiều dân Đức khởi xướng.
Bước sang thế kỷ XX, trên cây Thông Noel, người ta bắt đầu gắn thêm các quả cầu, những chiếc chuông, những ngôi sao, những cánh chim, những đứa trẻ mang những đôi cánh của thiên thần…
Nguồn gốc thực của Cây thông Giáng sinh có thể gắn liền với những vở kịch vê cuộc sống ở chốn thiên đường. Vào thời Trung Cổ, những vở kịch về đạo đức được biểu diễn khắp châu Âu, thông qua các vở kịch, người ta có thể truyền bá các bài kinh Thánh. Những vở kịch nói về nguồn gốc của loài người và sự dại dột của Adam và Eva ở vườn địa đàng Eden, thường được diễn vào ngày 24 tháng 12 hàng năm. Cây táo là một đạo cụ trong vở kịch (vì câu chuyện ăn trái táo cấm xảy ra dưới gôc cây táo), nhưng vì các vở kịch được diễn vào mùa đông, các loài cây đều chưa kết trái nên các diễn viên phải treo những quả táo giả lên cành cây thông.
Vào giữa thế kỷ 19, Hoàng tử Albert-chồng tương lai của Nữ hoàng Victoria ra đời. Chính ông đã phổ biến rộng rãi phong tục cây Giáng sinh vào nước Anh. Năm 1841, đôi vợ chồng Hoàng gia này đã trang hoàng cây Giáng sinh đầu tiên của nước Anh tại lâu đài Windson bằng nến cùng với rất nhiều loại kẹo, hoa quả và bánh gừng.
Khi cây Giáng sinh trở thành thời thượng ở Anh thì những gia đình giàu có đã dùng tất cả những đồ vật quý giá để trang trí cho nó. Vào những năm 1850, theo sự mô tả của đại văn hào Charles Dickens thì cây Giáng sinh ở Anh được trang hoàng bằng búp bê, những vật dụng nhỏ bé, các thiết bị âm nhạc, đồ trang sức, súng và gươm đồ chơi, hoa quả và bánh kẹo. Sau khi đã tồn tại ở Anh thì phong tục cây Noel cũng trở nên phổ biến trên khắp các vùng thuộc địa của đế chế Anh, tới cả những vùng đất mới như Canada...
Giáng sinh trắng đang lùi dần vào cổ tích, kỷ niệm...
Đó là nhận định của Hãng thông tấn Reuter về những mùa Giáng sinh trong những năm gần đây. Do nhiệt độ trái đất đã nóng lên 0,7 độ bách phân trong những năm cuối thế kỷ XX và trái đất trở nên nóng nhất trong gần 100 năm qua là nguyên nhân đẩy Giáng sinh trắng lùi vào cổ tích, kỷ niệm.
Sở dĩ có thuật ngữ Giáng sinnh trắng vì lễ Giáng sinh thường diễn ra trong những ngày mùa đông giá lạnh và có tuyết, các gia đình quây quần bên lò sưởi; còn ông già Noel thì ngồi trên chiếc xe trượt tuyết do tuần lộc kéo.Theo nhà nghiên cứu Friedrich-Wilhelm Gerstengarber về các vấn đề khí hậu thuộc Viện ngiên cứu thích nghi khí hậu tại Potsdam-Đức; hiện tượng tuyết rơi trong những ngày lễ Giáng sinh ngày cáng trử nên thưa vắng trong vòng 50 năm qua. Tại miền bắc, vùng giá lạnh nhất của nước Đức, trong các ngày 24, 25 và 26 tháng 12 năm 1900 tuyết chỉ rơi trên 20% lãnh thổ thì qua năm 2008, tuyết chỉ còn xuất hiện tại 15 % lãnh thổ. Tại Barlin lần cuối cũng có tuyết rơi vào dịp lễ Giáng sinh là năm 2001. Theo dự báo thời tiết của các Trung tâm dự báo thời tiết của châu Âu, trong năm 2008 không chỉ Berlin mà cả Pari, Luân Đôn, Bucarest đều không có tuyết rơi.
Tại Oslo Nauy, là vùng lạnh nhất Bắc Âu, nhiệt độ cũng đã cao hơn các năm khác là 1 độ bách phân. Nếu như tại Oslo vào năm 1900, tuyết phủ thành phố này 150 ngày trong một năm thì hiện nay tuyết chí còn xuất hiện trong 100 ngày..
http://thaibatan.com/index.php?option=com_content&task=view&id=721&Itemid=53
Đọc thêm!
Kính lạy Đức Chúa Trời! Con nhận biết con là người có tội cần được sự tha thứ. Con tin chắc rằng Đức Chúa Giê-su đã giáng thế, sống một cuộc đời hoàn hảo, và chịu chết đền tội cho con trên thập tự giá, Ngài cũng đã sống lại để con được sự sống vĩnh cửu. Con xin ăn năn mọi tội lỗi và đặt lòng tin nơi Chúa ngay giờ này. Con xin Chúa ngự vào lòng con để hướng dẫn con trên bước đường theo Chúa. Con tạ ơn Chúa và cầu nguyện nhân danh Đức Chúa Cứu Thế Giê-su. Amen.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngày lễ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngày lễ. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Ba, 30 tháng 11, 2010
Thứ Ba, 16 tháng 6, 2009
Lịch sử và ý nghĩa lễ hội Halloween
Lễ Hội Halloween
Ngày cuối cùng của tháng Mười dương lịch là ngày Halloween. Đây là một lễ hội bắt đầu vào buổi chiều tối ngày 31-10 cho tới 12 giờ đêm. Trong dịp này, trẻ em và thiếu niên được mặc "y phục Halloween" để đi đến từng nhà, gõ cửa để nhận kẹo và chúc tụng... Theo tục lệ, các em nhỏ thường cầm theo lồng đèn làm bằng vỏ quả bí ngô được đục theo hình mặt người để ánh sáng xuyên ra ngoài...
Những cuộc hội hè vui chơi trong đêm Halloween thường xoay quanh các đề tài như chuyện may rủi trên đời, các chuyện kể về ma quỷ và phù thủy...
Nguồn gốc chữ Halloween
Thánh Lễ được truyền giảng vào ngày này gọi là Allhallowmas. Thời gian đêm trước ngày "Các Thánh" (hay Chư Thánh) đã được xem như là All Hallows Eve hay Halloween. Nguyên nghĩa chữ "Hallow" là Thánh. Halloween là lối viết tắt của "All halows’ Evening."
Các tập tục trong ngày Halloween
"Trick Or Treat" Đây là sinh hoạt chính của hầu hết trẻ em và thiếu niên tại Hoa Kỳ trong đêm Halloween.
"Trick" nguyên nghĩa là: đánh lừa, trò chơi tinh ma nghịch ngợm: "Treat" là tiếp đón, đối xử tử tế, tiếp đãi. Các em nhỏ và thiếu niên, thanh niên hóa trang với áo quần và mặt nạ hình ma quỷ, rồi cầm lồng đèn đi từ nhà này sang nhà khác trong xóm, gõ cửa và nói "trick or treat." Câu này có nghĩa là: “Nếu muốn chúng tôi không chơi xấu thì hãy đãi chúng tôi cái gì đi.” Thông thường những người láng giềng luôn luôn muốn tránh việc "trick" nghĩa là chơi đòn đánh lừa nên thường tiếp đón (treat) chúng bằng kẹo và trái cây (theo tục lệ có nhét đồng tiền ở bên trong).
Biểu tượng chính của đêm "Halloween" là cái đèn lồng của chàng Jack - "Jack-ó-lanterns." Các biểu tượng phụ là phù thủy, ma quỷ và mèo đen.
Truyền Thuyết Về Halloween
Theo truyền thuyết của nước Ái Nhĩ Lan (Ireland) thì từ ngữ "Jack-ó-lanterns" đến từ một người có tên là Jack. Jack là một chàng thiếu niên đã chết nhưng linh hồn không được phép vào Thiên Đàng vì lý do: lúc sống, anh ta vốn là một người tham lam, bủn xỉn, thường cất giấu tiền bạc, keo kiệt không hề bố thí cho ai một chút gì. Thế nhưng anh ta lại cũng không thể vào Địa Ngục vì lúc còn sống anh ta đã từng chơi đùa với ma quỷ, nên quỷ không bắt anh.
Chuyện kể rằng: một hôm có con quỷ đến quấy phá một vùng dân cư, chẳng may bị báo động, người ta đến cầu cứu các vị tu sĩ đem các vật thánh đến "yểm" và "khóa các cửa" ra vào. Thế là con quỷ bị bắt... Jack đã nhận ra đó là con quỷ thường vui đùa với mình và Jack đã tìm cách gỡ vật "yểm ma quỷ" mở đường cho quỷ chạy thoát.
Để đền ơn cứu mạng, quỷ hứa với Jack là sẽ không bắt hồn Jack về Địa Ngục. Do đó, khi Jack chết vì một tai nạn, hồn Jack bị Thiên Đường từ chối. Jack liền tìm đến Địa Ngục, nhưng quỷ không cho vào... vì lời hứa trước. Thấy Jack lạnh lùng khổ sở, quỷ bèn lấy một ít than hồng ở Địa Ngục bỏ vào trong ruột một quả bí ngô và đưa cho Jack để sưởi ấm... trên đường trở lại trần gian. Để cho không khí thông vào nuôi lửa, Jack phải đục thủng quả bí ngô.. và ánh lửa từ trong đã chiếu ra soi sáng nẻo đường lang thang của Jack. Có lẽ Jack phải cầm đèn đi lang thang trên mặt đất cho đến ngày phán xét cuối cùng của nhân loại.
Ngày Halloween bắt nguồn từ đâu?
Lễ hội Halloween ngày nay bắt nguồn từ dân tộc Celt, là một dân tộc sống cách đây hơn 2,000 năm trên các vùng đất bây giờ là Anh quốc, Ái Nhĩ Lan và miền Bắc nước Pháp.
Dân tộc Celt bắt đầu năm mới vào ngày 1 tháng 11 Dương Lịch. Một lễ hội được cử hành vào đêm trước năm mới để vinh danh vị thủ lãnh đã quá cố là Samhain. Ngày lễ hội này báo hiệu sự bắt đầu của mùa lạnh, của những ngày tối tăm thường được liên kết với sự tàn tạ và sự chết của loài người. Dân tộc Celt tin rằng Samhain cho phép những linh hồn người chết được trở về nhà trên trần gian vào đêm hôm đó.
Vào năm 43 (Tây lịch kỷ nguyên), người La Mã chinh phục vùng đất của dân tộc Celt và cai trị khoảng 400 năm (vùng này bây giờ là Anh Quốc). Trong giai đoạn này có hai lễ hội Samhain của dân tộc Celt. Một trong hai lễ đó là FẺALIA được cử hành vào cuối tháng Mười để vinh danh những ngưòi đã chết, lễ thứ hai dành cho Pomona, nữ thần La Mã về cây và quả. Có lẽ vì nữ thần Pomona mà quả táo (apple) đã được kết hợp vào lễ hội Halloween. Sau ngày lễ Chư Thánh, tại Anh Quốc, còn có ngày "Các vong hồn" vào mồng 2 tháng 11. Tại Anh Quốc, Halloween đôi khi được gọi là Nutcrack Night or Snap Apple Night vì mọi người trong gia đình ngồi quanh lò sưởi kể chuyện và ăn đậu phụng rang hoặc nhai "táo".
Vào ngày "Các vong hồn," những người nghèo đi "khất thực cô hồn" (went-a-souling) và họ sẽ được bố thí bánh trái gọi là "soul cakes" (bánh vong hồn) để họ hứa là sẽ cầu nguyện cho "các vong hồn."
Halloween đến Mỹ do những di dân đầu tiên, đa số đến từ Anh Quốc và một số từ các vùng thuộc dân tộc Celt, họ đã đem qua Mỹ khá nhiều phong tục khác nhau. Nhưng vì nhiều lý do, mãi đến thập niên 1800 mới trở thành tục lệ được nhiều người hưởng ứng.
Trẻ em vui chơi Halloween
Vào giữa thế kỷ 19, tục lệ "trick or treat" chưa được phổ biến ở các thành phố lớn vì ở những nơi này "hàng xóm láng giềng" hầu như không có; nhiều người ở cạnh nhau mà không quen biết nhau, cho nên Halloween đôi khi gây ra những sự việc tai hại. Ngày nay, nhiều cộng đồng, nhiều tổ chức đã đứng ra bảo trợ các tục lệ vui chơi của ngày Halloween, nên nó đã trở thành một ngày lễ hội rất được chào đón của thiếu niên và một số thanh niên.
Ý Nghĩa Của Ngày Halloween
Ý nghĩa giáo dục
Hành động và cuộc đời của Jack đã trở thành những kinh nghiệm để tuổi trẻ rút ra một bài học làm người, đó là:
Sống không nên tham lam, bủn xỉn, keo kiệt
Phải có lòng bác ái, từ bi, biết giúp đỡ kẻ khó khăn
Không nên chơi đùa với ma quỷ. Ma quỷ hiểu theo nghĩa bóng là những trò lừa lọc, đe dọa, làm cho người khác sợ hãi, những việc làm tinh quái do trí thông minh và tưởng tượng của tuổi trẻ sáng tạo ra có khi làm hại đến người, đến xã hội... Chơi đùa, giao du với ma quỷ sẽ dễ bị cám dỗ đi vào đường tối tăm và tội lỗi.
Tuy nhiên, chuyện anh chàng Jack trong đêm Halloween cũng ghi nhận một thái độ sòng phẳng của quỷ, đó là "ân đền, oán trả" và "giữ lời hứa." Dù rằng sự "giữ lời hứa" này đã làm cho Jack rơi vào thân phận cô hồn lang thang vất vưởng.
Đối với các xã hội Âu, Mỹ Halloween đã trở thành lễ hội vui chơi hằng năm cho trẻ em và cả người lớn. Ít người quan tâm tìm hiểu ý nghĩa nhân bản của nó.
Ý Nghĩa Nhân Bản:
Nếu đào sâu hơn, có lẽ sẽ tìm thấy tính cách nhân bản trong câu chuyện. Thử đặt câu hỏi: tại sao dưới ánh sáng khoa học và kỹ thuật mà các nước Âu, Mỹ vẫn dành một ngày lễ hội cho người của "cõi Âm" mà đại diện là chàng Jack?
Jack là nhân vật tưởng tượng nhưng đã thực sự hiện thân trong cuộc đời, trong thân phận làm người... mà lại là một người cô đơn. Khi chết, Jack trở thành cô hồn, không chỗ dung thân... Thiên Đàng và Địa Ngục đều từ chối!
Truyền thống lễ hội Âu Mỹ đã dành cho Jack một ngày. Một ngày được trở lại với cõi dương. Trong ngày đó, Jack có thể sống vui chơi thoải mái, vì người sống đã hóa trang thành ma quỷ để linh hồn Jack có chỗ trà trộn vào cho đỡ cô đơn. Đây là ý nghĩa nhân bản của lễ hội Halloween.
Với ý nghĩa nhân bản này, ngày lễ Halloween và Rằm tháng Bảy Âm lịch của nước ta có thể xem như là ngày hai cõi Âm, Dương hội ngộ trong niềm thương cảm bao la...
Đọc Truyện Online tổng hợp
Việt Báo (Theo_VietNamNet)
Đọc thêm!
Ngày cuối cùng của tháng Mười dương lịch là ngày Halloween. Đây là một lễ hội bắt đầu vào buổi chiều tối ngày 31-10 cho tới 12 giờ đêm. Trong dịp này, trẻ em và thiếu niên được mặc "y phục Halloween" để đi đến từng nhà, gõ cửa để nhận kẹo và chúc tụng... Theo tục lệ, các em nhỏ thường cầm theo lồng đèn làm bằng vỏ quả bí ngô được đục theo hình mặt người để ánh sáng xuyên ra ngoài...
Những cuộc hội hè vui chơi trong đêm Halloween thường xoay quanh các đề tài như chuyện may rủi trên đời, các chuyện kể về ma quỷ và phù thủy...
Nguồn gốc chữ Halloween
Thánh Lễ được truyền giảng vào ngày này gọi là Allhallowmas. Thời gian đêm trước ngày "Các Thánh" (hay Chư Thánh) đã được xem như là All Hallows Eve hay Halloween. Nguyên nghĩa chữ "Hallow" là Thánh. Halloween là lối viết tắt của "All halows’ Evening."
Các tập tục trong ngày Halloween
"Trick Or Treat" Đây là sinh hoạt chính của hầu hết trẻ em và thiếu niên tại Hoa Kỳ trong đêm Halloween.
"Trick" nguyên nghĩa là: đánh lừa, trò chơi tinh ma nghịch ngợm: "Treat" là tiếp đón, đối xử tử tế, tiếp đãi. Các em nhỏ và thiếu niên, thanh niên hóa trang với áo quần và mặt nạ hình ma quỷ, rồi cầm lồng đèn đi từ nhà này sang nhà khác trong xóm, gõ cửa và nói "trick or treat." Câu này có nghĩa là: “Nếu muốn chúng tôi không chơi xấu thì hãy đãi chúng tôi cái gì đi.” Thông thường những người láng giềng luôn luôn muốn tránh việc "trick" nghĩa là chơi đòn đánh lừa nên thường tiếp đón (treat) chúng bằng kẹo và trái cây (theo tục lệ có nhét đồng tiền ở bên trong).
Biểu tượng chính của đêm "Halloween" là cái đèn lồng của chàng Jack - "Jack-ó-lanterns." Các biểu tượng phụ là phù thủy, ma quỷ và mèo đen.
Truyền Thuyết Về Halloween
Theo truyền thuyết của nước Ái Nhĩ Lan (Ireland) thì từ ngữ "Jack-ó-lanterns" đến từ một người có tên là Jack. Jack là một chàng thiếu niên đã chết nhưng linh hồn không được phép vào Thiên Đàng vì lý do: lúc sống, anh ta vốn là một người tham lam, bủn xỉn, thường cất giấu tiền bạc, keo kiệt không hề bố thí cho ai một chút gì. Thế nhưng anh ta lại cũng không thể vào Địa Ngục vì lúc còn sống anh ta đã từng chơi đùa với ma quỷ, nên quỷ không bắt anh.
Chuyện kể rằng: một hôm có con quỷ đến quấy phá một vùng dân cư, chẳng may bị báo động, người ta đến cầu cứu các vị tu sĩ đem các vật thánh đến "yểm" và "khóa các cửa" ra vào. Thế là con quỷ bị bắt... Jack đã nhận ra đó là con quỷ thường vui đùa với mình và Jack đã tìm cách gỡ vật "yểm ma quỷ" mở đường cho quỷ chạy thoát.
Để đền ơn cứu mạng, quỷ hứa với Jack là sẽ không bắt hồn Jack về Địa Ngục. Do đó, khi Jack chết vì một tai nạn, hồn Jack bị Thiên Đường từ chối. Jack liền tìm đến Địa Ngục, nhưng quỷ không cho vào... vì lời hứa trước. Thấy Jack lạnh lùng khổ sở, quỷ bèn lấy một ít than hồng ở Địa Ngục bỏ vào trong ruột một quả bí ngô và đưa cho Jack để sưởi ấm... trên đường trở lại trần gian. Để cho không khí thông vào nuôi lửa, Jack phải đục thủng quả bí ngô.. và ánh lửa từ trong đã chiếu ra soi sáng nẻo đường lang thang của Jack. Có lẽ Jack phải cầm đèn đi lang thang trên mặt đất cho đến ngày phán xét cuối cùng của nhân loại.
Ngày Halloween bắt nguồn từ đâu?
Lễ hội Halloween ngày nay bắt nguồn từ dân tộc Celt, là một dân tộc sống cách đây hơn 2,000 năm trên các vùng đất bây giờ là Anh quốc, Ái Nhĩ Lan và miền Bắc nước Pháp.
Dân tộc Celt bắt đầu năm mới vào ngày 1 tháng 11 Dương Lịch. Một lễ hội được cử hành vào đêm trước năm mới để vinh danh vị thủ lãnh đã quá cố là Samhain. Ngày lễ hội này báo hiệu sự bắt đầu của mùa lạnh, của những ngày tối tăm thường được liên kết với sự tàn tạ và sự chết của loài người. Dân tộc Celt tin rằng Samhain cho phép những linh hồn người chết được trở về nhà trên trần gian vào đêm hôm đó.
Vào năm 43 (Tây lịch kỷ nguyên), người La Mã chinh phục vùng đất của dân tộc Celt và cai trị khoảng 400 năm (vùng này bây giờ là Anh Quốc). Trong giai đoạn này có hai lễ hội Samhain của dân tộc Celt. Một trong hai lễ đó là FẺALIA được cử hành vào cuối tháng Mười để vinh danh những ngưòi đã chết, lễ thứ hai dành cho Pomona, nữ thần La Mã về cây và quả. Có lẽ vì nữ thần Pomona mà quả táo (apple) đã được kết hợp vào lễ hội Halloween. Sau ngày lễ Chư Thánh, tại Anh Quốc, còn có ngày "Các vong hồn" vào mồng 2 tháng 11. Tại Anh Quốc, Halloween đôi khi được gọi là Nutcrack Night or Snap Apple Night vì mọi người trong gia đình ngồi quanh lò sưởi kể chuyện và ăn đậu phụng rang hoặc nhai "táo".
Vào ngày "Các vong hồn," những người nghèo đi "khất thực cô hồn" (went-a-souling) và họ sẽ được bố thí bánh trái gọi là "soul cakes" (bánh vong hồn) để họ hứa là sẽ cầu nguyện cho "các vong hồn."
Halloween đến Mỹ do những di dân đầu tiên, đa số đến từ Anh Quốc và một số từ các vùng thuộc dân tộc Celt, họ đã đem qua Mỹ khá nhiều phong tục khác nhau. Nhưng vì nhiều lý do, mãi đến thập niên 1800 mới trở thành tục lệ được nhiều người hưởng ứng.
Trẻ em vui chơi Halloween
Vào giữa thế kỷ 19, tục lệ "trick or treat" chưa được phổ biến ở các thành phố lớn vì ở những nơi này "hàng xóm láng giềng" hầu như không có; nhiều người ở cạnh nhau mà không quen biết nhau, cho nên Halloween đôi khi gây ra những sự việc tai hại. Ngày nay, nhiều cộng đồng, nhiều tổ chức đã đứng ra bảo trợ các tục lệ vui chơi của ngày Halloween, nên nó đã trở thành một ngày lễ hội rất được chào đón của thiếu niên và một số thanh niên.
Ý Nghĩa Của Ngày Halloween
Ý nghĩa giáo dục
Hành động và cuộc đời của Jack đã trở thành những kinh nghiệm để tuổi trẻ rút ra một bài học làm người, đó là:
Sống không nên tham lam, bủn xỉn, keo kiệt
Phải có lòng bác ái, từ bi, biết giúp đỡ kẻ khó khăn
Không nên chơi đùa với ma quỷ. Ma quỷ hiểu theo nghĩa bóng là những trò lừa lọc, đe dọa, làm cho người khác sợ hãi, những việc làm tinh quái do trí thông minh và tưởng tượng của tuổi trẻ sáng tạo ra có khi làm hại đến người, đến xã hội... Chơi đùa, giao du với ma quỷ sẽ dễ bị cám dỗ đi vào đường tối tăm và tội lỗi.
Tuy nhiên, chuyện anh chàng Jack trong đêm Halloween cũng ghi nhận một thái độ sòng phẳng của quỷ, đó là "ân đền, oán trả" và "giữ lời hứa." Dù rằng sự "giữ lời hứa" này đã làm cho Jack rơi vào thân phận cô hồn lang thang vất vưởng.
Đối với các xã hội Âu, Mỹ Halloween đã trở thành lễ hội vui chơi hằng năm cho trẻ em và cả người lớn. Ít người quan tâm tìm hiểu ý nghĩa nhân bản của nó.
Ý Nghĩa Nhân Bản:
Nếu đào sâu hơn, có lẽ sẽ tìm thấy tính cách nhân bản trong câu chuyện. Thử đặt câu hỏi: tại sao dưới ánh sáng khoa học và kỹ thuật mà các nước Âu, Mỹ vẫn dành một ngày lễ hội cho người của "cõi Âm" mà đại diện là chàng Jack?
Jack là nhân vật tưởng tượng nhưng đã thực sự hiện thân trong cuộc đời, trong thân phận làm người... mà lại là một người cô đơn. Khi chết, Jack trở thành cô hồn, không chỗ dung thân... Thiên Đàng và Địa Ngục đều từ chối!
Truyền thống lễ hội Âu Mỹ đã dành cho Jack một ngày. Một ngày được trở lại với cõi dương. Trong ngày đó, Jack có thể sống vui chơi thoải mái, vì người sống đã hóa trang thành ma quỷ để linh hồn Jack có chỗ trà trộn vào cho đỡ cô đơn. Đây là ý nghĩa nhân bản của lễ hội Halloween.
Với ý nghĩa nhân bản này, ngày lễ Halloween và Rằm tháng Bảy Âm lịch của nước ta có thể xem như là ngày hai cõi Âm, Dương hội ngộ trong niềm thương cảm bao la...
Đọc Truyện Online tổng hợp
Việt Báo (Theo_VietNamNet)
Đọc thêm!
Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2009
Tìm Hiểu về Nguồn Gốc cây Noên
Vào thế kỷ thứ tám, Giáo sĩ Boniface
từ Anh Quốc qua Đức để truyền bá Phúc âm
của Đức Chúa Giê-su. Ông có tặng cho thành
phố Geismer một cây thông để tượng trưng
cho tình thương và một tín ngưỡng mới mà
ông đã mang đến cho dân tộc Đức. Khi người
Đức chấp nhận Cơ Đốc Giáo, họ chọn cây
thông làm cây Giáng Sinh (cây Nô-ên) để
nhắc nhở họ nhớ đến công ơn của Giáo sĩ
Boniface, người đã giúp họ dẹp bỏ tà thần, trở
lại thờ phượng Đức Chúa Trời Hằng Hữu.
Người Đức không có phong tục chưng
cây thông Giáng Sinh trong nhà cho mãi đến
thế kỷ 16, nhân một mùa Giáng Sinh, nhà cải
chánh Giáo Hội Martin Luther đi đêm về nhìn
thấy hình dạng cây thông hiện ra rất ngoạn
mục dưới màn đêm. Ông về nhà nói với vợ
con về việc ông vừa khám phá. Sau đó, ông
trở ra đốn một cây thông gần nhà, mang vào
chưng trong phòng khách gia đình. Ông lại
gắn thêm nhiều đèn nến cháy sáng trên các
nhánh của cây thông. Ông giải thích: các cây
nến cháy sáng trên các cành thông tượng trưng
cho ánh sáng của Đức Chúa Giê-su mang đến
cho nhân loại, còn màu xanh tươi quanh năm
của cây thông tượng trưng cho Đức Chúa Trời
Hằng Hữu.
Phong tục chưng bày cây thông trong
nhà nhân mùa Giáng Sinh nhanh chóng lan
rộng khắp nước Đức. Sau khi lan tràn khắp
nơi trên thế giới là nhờ các thương buôn và
các thủy thủ từ nước ngoài đến thăm viếng
nước Đức nhìn thấy dân chúng chưng cây
thông vào mùa Giáng Sinh, rồi mang phong
tục này về quê hương họ.
Ở Mỹ, cây thông Giáng Sinh đầu tiên
được chưng bày trong nhà vào ngày 20-12-
1821, do một người từ Đức đến định cư ở
thành phố Lancaster, thuộc bang
Pennsylvania.
Diệp Dung
Theo Nếp sống mới, Số 179-180
Đọc thêm!
từ Anh Quốc qua Đức để truyền bá Phúc âm
của Đức Chúa Giê-su. Ông có tặng cho thành
phố Geismer một cây thông để tượng trưng
cho tình thương và một tín ngưỡng mới mà
ông đã mang đến cho dân tộc Đức. Khi người
Đức chấp nhận Cơ Đốc Giáo, họ chọn cây
thông làm cây Giáng Sinh (cây Nô-ên) để
nhắc nhở họ nhớ đến công ơn của Giáo sĩ
Boniface, người đã giúp họ dẹp bỏ tà thần, trở
lại thờ phượng Đức Chúa Trời Hằng Hữu.
Người Đức không có phong tục chưng
cây thông Giáng Sinh trong nhà cho mãi đến
thế kỷ 16, nhân một mùa Giáng Sinh, nhà cải
chánh Giáo Hội Martin Luther đi đêm về nhìn
thấy hình dạng cây thông hiện ra rất ngoạn
mục dưới màn đêm. Ông về nhà nói với vợ
con về việc ông vừa khám phá. Sau đó, ông
trở ra đốn một cây thông gần nhà, mang vào
chưng trong phòng khách gia đình. Ông lại
gắn thêm nhiều đèn nến cháy sáng trên các
nhánh của cây thông. Ông giải thích: các cây
nến cháy sáng trên các cành thông tượng trưng
cho ánh sáng của Đức Chúa Giê-su mang đến
cho nhân loại, còn màu xanh tươi quanh năm
của cây thông tượng trưng cho Đức Chúa Trời
Hằng Hữu.
Phong tục chưng bày cây thông trong
nhà nhân mùa Giáng Sinh nhanh chóng lan
rộng khắp nước Đức. Sau khi lan tràn khắp
nơi trên thế giới là nhờ các thương buôn và
các thủy thủ từ nước ngoài đến thăm viếng
nước Đức nhìn thấy dân chúng chưng cây
thông vào mùa Giáng Sinh, rồi mang phong
tục này về quê hương họ.
Ở Mỹ, cây thông Giáng Sinh đầu tiên
được chưng bày trong nhà vào ngày 20-12-
1821, do một người từ Đức đến định cư ở
thành phố Lancaster, thuộc bang
Pennsylvania.
Diệp Dung
Theo Nếp sống mới, Số 179-180
Đọc thêm!
Ý nghĩa hoa huệ trắng, bướm, thỏ và trứng trong ngày Lễ Phục sinh:
1. Hoa huệ trắng (Bạch huệ: Lily) có
hình loa kèn trumpet tượng trưng cho việc loan
báo tin mừng Đức Chúa Giêsu sống lại.
2. Bướm: trước khi thành bướm, con
sâu nằm trong ổ kén tượng trưng cho sự chết của
Chúa Giêsu nằm trong mồ mả. Khi sâu thành
bướm, bướm cắn ổ kén bay ra với cánh màu sặc
sỡ để tượng trưng cho sự sống lại của Chúa
Giêsu với một thân thể đầy vinh hiển.
3. Thỏ và trứng: nhiều dân tộc ở Âu
Châu dùng hình ảnh thỏ và trứng để tượng trưng
cho khả năng sinh sản và sự sống mới bất diệt
cho ngày lễ Nữ Thần của Mùa Xuân. Dần dần,
phong tục này gia nhập vào mùa Lễ Phục sinh
của Cơ Đốc Giáo với ý nghĩa tương tự.
Diệp Dung, Sylmar, Florida
Theo Nếp sống mới
Đọc thêm!
hình loa kèn trumpet tượng trưng cho việc loan
báo tin mừng Đức Chúa Giêsu sống lại.
2. Bướm: trước khi thành bướm, con
sâu nằm trong ổ kén tượng trưng cho sự chết của
Chúa Giêsu nằm trong mồ mả. Khi sâu thành
bướm, bướm cắn ổ kén bay ra với cánh màu sặc
sỡ để tượng trưng cho sự sống lại của Chúa
Giêsu với một thân thể đầy vinh hiển.
3. Thỏ và trứng: nhiều dân tộc ở Âu
Châu dùng hình ảnh thỏ và trứng để tượng trưng
cho khả năng sinh sản và sự sống mới bất diệt
cho ngày lễ Nữ Thần của Mùa Xuân. Dần dần,
phong tục này gia nhập vào mùa Lễ Phục sinh
của Cơ Đốc Giáo với ý nghĩa tương tự.
Diệp Dung, Sylmar, Florida
Theo Nếp sống mới
Đọc thêm!
Thứ Ba, 28 tháng 4, 2009
Nguồn Gốc Ngày Lễ Valentine
LTS: Hằng năm đến ngày 14 tháng 2, người ta
mừng Lễ Valentine, còn gọi là ngày Lễ Tình Yêu.
Ông Diệp Dung, Shalimar, Florida thuật lại nguồn
gốc lễ này.
Trong thời trị vì của Hoàng đế La mã
Claudius II (268-270), Ngài thường dùng quân
lực để xâm lấn các nước láng giềng. Dân chúng
không ủng hộ, nên ít người chịu đầu quân đánh
giặc. Hoàng đế cho rằng sự thiếu hụt quân lính
là vì thanh niên không chịu rời xa vợ con, nên ra
sắc lệnh cấm cưới gả trong toàn lãnh thổ.
Tu sĩ Valentine không chấp nhận luật
cấm này. Ông quan niệm là khi nam nữ yêu
nhau thì nên kết hôn để sống bên nhau tạo dựng
mái ấm gia đình. Ngoài việc giảng dạy, tu sĩ này
lén làm lễ hôn phối cho nhiều cặp thanh niên
nam nữ. Việc này bị bại lộ, ông bị bắt giam và
bị kết án tử hình. Trong thời gian bị giam, nhiều
người trẻ tuổi đến thăm viếng và tỏ lòng ái mộ
việc làm của ông. Trong số đó, có cô con gái
của viên cai ngục thường xuyên đến thăm. Cô
thường để hằng tiếng đồng hồ để trò chuyện tâm
đắc với vị tu sĩ. Valentine bị xử trảm vào ngày
14 tháng 2 năm 269. Đêm trước đó, ông viết thư
gửi cho cô gái này cảm ơn cô đã dành cho ông
cảm tình nồng hậu và lòng trung nghĩa khó
quên. Cuối thư, ông ký tên “Valentine của em”
(Your Valentine). Đến năm 496, Giáo hoàng
Gelasius quyết định lấy ngày 14 tháng 2 để kỷ
niệm, tưởng nhớ thánh Valentine. Ông được tôn
là Thánh Hộ mạng của tình yêu.
Diệp Dung
Theo Nếp sống mới, Số 169-170
Đọc thêm!
mừng Lễ Valentine, còn gọi là ngày Lễ Tình Yêu.
Ông Diệp Dung, Shalimar, Florida thuật lại nguồn
gốc lễ này.
Trong thời trị vì của Hoàng đế La mã
Claudius II (268-270), Ngài thường dùng quân
lực để xâm lấn các nước láng giềng. Dân chúng
không ủng hộ, nên ít người chịu đầu quân đánh
giặc. Hoàng đế cho rằng sự thiếu hụt quân lính
là vì thanh niên không chịu rời xa vợ con, nên ra
sắc lệnh cấm cưới gả trong toàn lãnh thổ.
Tu sĩ Valentine không chấp nhận luật
cấm này. Ông quan niệm là khi nam nữ yêu
nhau thì nên kết hôn để sống bên nhau tạo dựng
mái ấm gia đình. Ngoài việc giảng dạy, tu sĩ này
lén làm lễ hôn phối cho nhiều cặp thanh niên
nam nữ. Việc này bị bại lộ, ông bị bắt giam và
bị kết án tử hình. Trong thời gian bị giam, nhiều
người trẻ tuổi đến thăm viếng và tỏ lòng ái mộ
việc làm của ông. Trong số đó, có cô con gái
của viên cai ngục thường xuyên đến thăm. Cô
thường để hằng tiếng đồng hồ để trò chuyện tâm
đắc với vị tu sĩ. Valentine bị xử trảm vào ngày
14 tháng 2 năm 269. Đêm trước đó, ông viết thư
gửi cho cô gái này cảm ơn cô đã dành cho ông
cảm tình nồng hậu và lòng trung nghĩa khó
quên. Cuối thư, ông ký tên “Valentine của em”
(Your Valentine). Đến năm 496, Giáo hoàng
Gelasius quyết định lấy ngày 14 tháng 2 để kỷ
niệm, tưởng nhớ thánh Valentine. Ông được tôn
là Thánh Hộ mạng của tình yêu.
Diệp Dung
Theo Nếp sống mới, Số 169-170
Đọc thêm!
Thứ Hai, 27 tháng 4, 2009
Bí ẩn về ngôi sao Noel
vtc.vn - 08:38 18-12-2006
( Giải trí VTC ) - Ngày giáng sinh dù ở bất kỳ nơi đâu trên thế giới, chúng ta đều thấy xuất hiện những ngôi sao lấp lánh trên các cây thông Noel hoặc trên bầu trời đầy tuyết trắng. Vậy những ngôi sao đó xuất xứ từ đâu và nó mang trong mình những thông điệp gì?
Trong tất cả các tranh ảnh Chúa giáng sinh, trên bầu trời bao giờ cũng có một ngôi sao sáng rực rỡ, Kinh Thánh gọi đó là"ngôi sao Bethlehem", ngôi sao đã dẫn đường cho Ba Vua tới hang đá nơi Chúa sinh ra. Ngôi sao này còn có tên là ngôi sao Giáng sinh, từ lâu đã là mối tranh cãi của các nhà thiên văn học. Mới đây Nibel Henbest, một nhà khoa học người Anh đã dựa vào sự chuyển động của quỹ đạo trong Thái dương hệ, để giải tỏa câu hỏi tại sao chỉ có Ba Vua nhìn thấy ngôi sao đó, trong khi lịch sử thiên văn không ghi nhận được.
Theo Nibel thì vào năm 1604, nhà toán học Johannes Kepler đã tính được vị trí các hành tinh vào thời Chúa giáng sinh, cũng tìm được sự giao hội đặc biệt của các chòm sao trong nhóm Song Ngư vào năm thứ 7 trước công nguyên. Có nghĩa là, sao Mộc và sao Hỏa, biểu tượng của người Do Thái gặp nhau trên bầu trời nhưng vẫn cách nhau một khoảng gần bằng đường kính của mặt trăng. Vài năm sau đó một sự hội ngộ khác lại diễn ra vào tháng 08 năm 03 trước công nguyên, Mộc tinh tiến gần sao Vệ Nữ - một ngôi sao rất sáng.
Ngày 17/06 năm 02 trước công nguyên, hai sao trên lại gặp nhau nhưng không va chạm, nhưng tạo thành một ngôi sao lạ, sáng chói khắp miền Trung Đông mà Kinh Thánh đã gọi là ngôi sao Bethlehem. Ngoài ra, với người theo đạo Ky-tô xưa thì ngôi sao Vệ Nữ, tức là sao Hôm mọc trước bình minh, được coi là biểu tưọng của Chúa Giê-su, còn sao Hải Sư lại được người Do Thái coi là sao hộ mạng. Đây là hai ngôi sao sáng nhất trong Thái dương hệ và hiện tượng hội ngộ giao thoa, chỉ xảy ra một lần trong hai ba thế kỷ, như giải thích ở trên, được xem là giả thuyết hợp lý về ngôi sao Bethlehem trong truyền thuyết.
Ngoài ý nghĩa khoa học kể trên, ngôi sao Noel còn có một ý nghĩa tâm linh vô cùng quan trọng đối với những người công giáo. Đó là ngôi sao dẫn lối chỉ đường cho họ đến với Đức Chúa. Người theo đạo Ky-tô tin rằng ngôi sao đó cũng chính là Chúa Giê-su và ánh sáng ngôi sao của Chúa sẽ xóa tan bóng tối đêm đông lạnh giá, thắp lên một mùa xuân mới ấm áp và hạnh phúc cho muôn dân.
*
Xuân Thắng (Tổng hợp)
Đọc thêm!
( Giải trí VTC ) - Ngày giáng sinh dù ở bất kỳ nơi đâu trên thế giới, chúng ta đều thấy xuất hiện những ngôi sao lấp lánh trên các cây thông Noel hoặc trên bầu trời đầy tuyết trắng. Vậy những ngôi sao đó xuất xứ từ đâu và nó mang trong mình những thông điệp gì?
Trong tất cả các tranh ảnh Chúa giáng sinh, trên bầu trời bao giờ cũng có một ngôi sao sáng rực rỡ, Kinh Thánh gọi đó là"ngôi sao Bethlehem", ngôi sao đã dẫn đường cho Ba Vua tới hang đá nơi Chúa sinh ra. Ngôi sao này còn có tên là ngôi sao Giáng sinh, từ lâu đã là mối tranh cãi của các nhà thiên văn học. Mới đây Nibel Henbest, một nhà khoa học người Anh đã dựa vào sự chuyển động của quỹ đạo trong Thái dương hệ, để giải tỏa câu hỏi tại sao chỉ có Ba Vua nhìn thấy ngôi sao đó, trong khi lịch sử thiên văn không ghi nhận được.
Theo Nibel thì vào năm 1604, nhà toán học Johannes Kepler đã tính được vị trí các hành tinh vào thời Chúa giáng sinh, cũng tìm được sự giao hội đặc biệt của các chòm sao trong nhóm Song Ngư vào năm thứ 7 trước công nguyên. Có nghĩa là, sao Mộc và sao Hỏa, biểu tượng của người Do Thái gặp nhau trên bầu trời nhưng vẫn cách nhau một khoảng gần bằng đường kính của mặt trăng. Vài năm sau đó một sự hội ngộ khác lại diễn ra vào tháng 08 năm 03 trước công nguyên, Mộc tinh tiến gần sao Vệ Nữ - một ngôi sao rất sáng.
Ngày 17/06 năm 02 trước công nguyên, hai sao trên lại gặp nhau nhưng không va chạm, nhưng tạo thành một ngôi sao lạ, sáng chói khắp miền Trung Đông mà Kinh Thánh đã gọi là ngôi sao Bethlehem. Ngoài ra, với người theo đạo Ky-tô xưa thì ngôi sao Vệ Nữ, tức là sao Hôm mọc trước bình minh, được coi là biểu tưọng của Chúa Giê-su, còn sao Hải Sư lại được người Do Thái coi là sao hộ mạng. Đây là hai ngôi sao sáng nhất trong Thái dương hệ và hiện tượng hội ngộ giao thoa, chỉ xảy ra một lần trong hai ba thế kỷ, như giải thích ở trên, được xem là giả thuyết hợp lý về ngôi sao Bethlehem trong truyền thuyết.
Ngoài ý nghĩa khoa học kể trên, ngôi sao Noel còn có một ý nghĩa tâm linh vô cùng quan trọng đối với những người công giáo. Đó là ngôi sao dẫn lối chỉ đường cho họ đến với Đức Chúa. Người theo đạo Ky-tô tin rằng ngôi sao đó cũng chính là Chúa Giê-su và ánh sáng ngôi sao của Chúa sẽ xóa tan bóng tối đêm đông lạnh giá, thắp lên một mùa xuân mới ấm áp và hạnh phúc cho muôn dân.
*
Xuân Thắng (Tổng hợp)
Đọc thêm!
Thứ Năm, 23 tháng 4, 2009
Noel - Thông điệp hòa bình và yêu thương
(VietNamNet) - Ở các nước phương Tây theo đạo Thiên Chúa, ngày 25/12 hàng năm được gọi là ngày Giáng Sinh. Đây được coi như ngày lễ lớn nhất trong năm. Ngày nay, không chỉ phương tây mà khắp tòan cầu, không chỉ người Thiên chúa giáo mà cả những người theo tôn giáo khác cũng vui mùa Giáng sinh. Đáp ứng thư của nhiều bạn trẻ không theo đạo Thiên chúa muốn hiểu rõ hơn về nguồn gốc ngày lễ này, chúng tôi xin giới thiệu bài viết sau đây của bạn đọc người công giáo J.B. Nguyễn Hữu Vinh.
Lễ Giáng sinh, còn được gọi là lễ Thiên Chúa giáng sinh, Nô-el, hay Nô-en (từ tiếng Pháp Noël, là viết tắt từ gốc Em-ma-nu-el, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta) là một ngày lễ quốc tế kỷ niệm ngày Chúa Giê-su sinh ra đời của phần lớn người Cơ Đốc giáo. Họ tin là Giê-su được sinh tại Bethlehem thuộc tỉnh Judea của Đế quốc La Mã giữa năm 6 TCN và năm 6.
Một số nước ăn mừng ngày này vào 25 tháng 12, một số nước lại vào tối ngày 24 tháng 12. Tuy nhiên, những người theo Chính Thống giáo Đông phương vẫn sử dụng lịch Juliêng để định ngày này, cho nên họ tổ chức lễ Giáng sinh vào ngày 7 tháng 1 theo lịch Gregory. (Theo Wikipedia)
Đã hơn 2 ngàn năm kể từ ngày Chúa hài đồng Giê-su được sinh ra trong máng cỏ của một hang lừa tồi tàn nơi Betlehem, sống nhờ vào làn hơi sưởi ấm của chiên, lừa nơi hang đá mà các mục đồng đưa đến. Chúa hài đồng đã lớn lên sống cuộc đời lao động, nghèo hèn nơi trần thế, đã sớm chịu những sự thiếu thốn khi sinh ra, chịu những sự̣ thù ghét, truy lùng gắt gao. Ngài đã đến và đã chịu chết để thể hiện một tình yêu thương vô bờ bến với nhân loại chúng ta.
Hằng năm, ngày sinh của Ngài vẫn được cả thế giới này kỷ niệm rộn rã khắp mọi nơi. Sự sống mãnh liệt đó có thể hiểu được, chính vì Ngài đã sinh ra để đem lại Hoà bình và tình yêu thương cho loài người. Người đã sống cùng những người nghèo, những lớp người bần cùng, lao khổ. Hơn 2 ngàn năm trước, từ trong máng cỏ lạnh lẽo đêm Betlehem, thông điệp người đưa ra cho nhân loại: Hãy sống đơn sơ cùng với những người cùng khổ, cần lao, hãy mang hoà bình đến cho nhân loại, hãy "đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hoà vào nơi tranh chấp..."
Đã từ lâu, ngày lễ Giáng sinh, đồng nghĩa với Hoà bình, đó là ngày mà các thế lực thù̀ địch với nhau đến đâu cũng có thể thống nhất được mộ̣t điều: Hoà bình.
Chuyện kể rằng: Trong cuộc chiến tranh Pháp - Phổ (1870-1871), vào một ngày Giáng sinh tại mặt trận ác liệt, một lính Pháp bỗng nhảy lên khỏi chiến hào, hát to lên bài Cantique de Noel (Thánh ca đêm Noel) của nhạc sĩ người Pháp - Adolphe Adam - bản carol rất quen thuộc của người Pháp. Từ bên kia chiến tuyến, không có phát đạn nào của lính Phổ đã bắn vào anh ấy. Và thật bất ngờ, một lính Phổ cũng đã vụt đứng lên khỏi chiến hào đáp lại bằng bài carol cổ truyền của Phổ: bài Vom himmel hoch (Từ Thiên đường trên cao) – do Martin Luther viết. Trong khoảnh khắc đặc biệt này, một sự kiện hi hữu đã xảy ra: khi hai bài hát của hai anh lính chiến đối địch vang lên, toàn thể các chiến hào lặng im phăng phắc và sau đó là một tràng pháo tay vang dội thay thế cho những tiếng bom đạn gào thét trước đó…
Hoà bình là một nhu cầu tất yếu, một đích đến của nhân loại, con người sinh ra ai cũng mong muốn được sống trong sự bình an. Nhưng thực tế thế giới quan không chiều theo mong muốn chung của mỗi người. Đây đó, lúc này hay lúc khác, hoà bình vẫn luôn bị đe doạ và xâm phạm. Thông điệp Hoà bình của Đức Giêsu, phù hợp mơ ước của mọi người, mọi dân tộc, vì vậy đã có sức sống mãnh liệt. Trải hơn 2000 năm tồn tại, khát vọng hoà bình hàng năm vẫn vang lên trên mọi nẻo đường thế giới từ thành thị đến nông thôn, từ những dân tộc văn minh đến những bộ lạc còn hoang sơ.
Những ngày này, khi tiếng chuông Noel rộn rã cất lên trên khắp mọi miền của quả địa cầu này, chúng ta hoà chung tất cả những ai thiện chí một ý niệm cầu mong cho Hoà bình nhân loại:
Vinh danh Thiên Chúa trên Trời
Bình an dưới thế, cho người Thiện tâm
Khi Giáo sĩ Inikhu bước những bước chân truyền giáo đầu tiên vào Việt Nam, (Theo Khâm Định Việt sử thông giám cương mục là vào năm 1533) đến giảng đạo ở vùng Ninh Cường, Quần Anh thuộc Bùi Chu ngày nay. Những ai đã nghiên cứu lịch sử truyền giáo ở Á Châu nói chung và Việt Nam nói riêng trong thời gian hơn 470 năm qua thì thấy rằng các nhà truyền giáo đã gặp muôn vàn khó khăn, tưởng như không thể vượt qua được, và nhận thấy người bản xứ chấp nhận tôn giáo mới không đơn giản như nhiều người tưởng. Chắc ông khó có thể tưởng tượng được sau hơn 470 năm, ngày lễ Noel, ngày lễ của những người theo đạo Thiên Chúa đã trở thành một trong những ngày văn hoá chung của mọi người Việt Nam, không kể lương, giáo, không kể già, trẻ, gái trai đều biết đến và nghĩ đến nó với những niềm vui của một ngày hội: Ngày hội hoà bình, ngày hội của tình yêu thương.
Những ngày cuối tháng 12 dương lịch, tiễn đưa năm cũ vào quá khứ, chuẩn bị đón một năm mới, khắp nơi nơi, từ những quán bar, những góc phố, những làng quê nhỏ bé vang lên những bài hát Holy Night, Silent Night, Đêm thánh thiện, Đêm an bình rộn rã. Trên khắp các đường phố Hà Nội, những chùm đèn nhiều màu, những ông già Tuyết, những cỗ xe tuần lộc được trưng bày như một điều không còn lạ lẫm với mọi người. Trên các dãy phố, những nơi công cộng, lũ lượt những dòng người như đi trẩy hội, náo nức đua chen nhau trên đường. Thời tiết Hà Nội đêm Noel thường đi với rét lạnh, nhưng điều đó càng như thêm một nét đặc sắc riêng cho lễ Giáng sinh của Hà Nội. Dạo qua phố phường Hà Nội đêm trước Noel, nơi nơi tràn ngập đèn và hoa, nhạc... Hà Nội tưng bừng, Hà Nội rộn rã niềm vui Noel với một không khí thanh bình đón Chúa Hài Đồng.
Qua những thăng trầm trong lịch sử, người Công giáo Việt Nam đã vượt qua thật ngoạn mục, kiên cường, thật sự hoà nhập với cộng đồng dân tộc Việt Nam và đã có những đóng góp lớn lao cho đất nước hưng thịnh, cho dân tộc hùng cường. Những hoạt động của người Công giáo trong các lĩnh vực nhân đạo, cứu trợ, chống lối sống dung tục vật chất hoá, lối sống hưởng thụ đang len lỏi gặm nhấm dần những giá trị đạo đức truyền thống trong mỗi gia đình và toàn xã hội để xây dựng một xã hội chung có tính nhân bản hơn.
Người Công giáo Việt Nam tìm được niềm tin và có những quan niệm, cách sống phù hợp đức tin cũng như đạo đức xã hội của mình, vì vậy những hành động của họ trở nên tự giác và thiết thực. Họ nhiệt thành trong các công tác xã hội, công tác từ thiện và sự giúp đỡ những nạn nhân của các tệ nạn xã hội với một tâm hồn nhiệt thành và niềm tin mãnh liệt vào tình yêu thương con người theo lời răn của Thiên Chúa: “Các con hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con”.
Ngay từ những ngày đầu tháng 12, nhiều những tổ chức, hội đoàn đã có những kế hoạch cho Noel, đến với những người nghèo, những người tàn tật cô đơn, đã được khởi động nhộn nhịp. Các giáo xứ, mỗi giáo dân đón Noel với những hành động thiết thực với những người cô đơn, những người bệnh phong, những bệnh nhân HIV, AISD... bằng những "chương trình Món quà nhỏ Noel" của các bạn trẻ trong các giáo xứ, giáo họ và những cộng đồng dân cư trên toàn quốc.
Những ngày này trên khắp mọi miền đất nước, khi đất nước chưa vượt qua những khó khăn của giai đoạn phát triển mới, đất nước còn nhiều gian khó, đây đó vẫn còn nhiều mảnh đời bất hạnh, những chú bé không nhà, những trẻ em đường phố... những người bất hạnh bởi thiên tai, chiến tranh và muôn ngàn lý do khác. Với tinh thần hoà bình và yêu thương của mùa Noel, chúng ta hãy nhớ đến họ bằng những hành động thiết thực nhất. Một manh áo mùa đông, một miếng bánh khi đói lòng, một ánh mắt thân thiện, theo tinh thần của Đức Giê-su: "Hãy yêu thương người khác như chính bản thân mình".
J.B. Nguyễn Hữu Vinh
Đọc thêm!
Lễ Giáng sinh, còn được gọi là lễ Thiên Chúa giáng sinh, Nô-el, hay Nô-en (từ tiếng Pháp Noël, là viết tắt từ gốc Em-ma-nu-el, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta) là một ngày lễ quốc tế kỷ niệm ngày Chúa Giê-su sinh ra đời của phần lớn người Cơ Đốc giáo. Họ tin là Giê-su được sinh tại Bethlehem thuộc tỉnh Judea của Đế quốc La Mã giữa năm 6 TCN và năm 6.
Một số nước ăn mừng ngày này vào 25 tháng 12, một số nước lại vào tối ngày 24 tháng 12. Tuy nhiên, những người theo Chính Thống giáo Đông phương vẫn sử dụng lịch Juliêng để định ngày này, cho nên họ tổ chức lễ Giáng sinh vào ngày 7 tháng 1 theo lịch Gregory. (Theo Wikipedia)
Đã hơn 2 ngàn năm kể từ ngày Chúa hài đồng Giê-su được sinh ra trong máng cỏ của một hang lừa tồi tàn nơi Betlehem, sống nhờ vào làn hơi sưởi ấm của chiên, lừa nơi hang đá mà các mục đồng đưa đến. Chúa hài đồng đã lớn lên sống cuộc đời lao động, nghèo hèn nơi trần thế, đã sớm chịu những sự thiếu thốn khi sinh ra, chịu những sự̣ thù ghét, truy lùng gắt gao. Ngài đã đến và đã chịu chết để thể hiện một tình yêu thương vô bờ bến với nhân loại chúng ta.
Hằng năm, ngày sinh của Ngài vẫn được cả thế giới này kỷ niệm rộn rã khắp mọi nơi. Sự sống mãnh liệt đó có thể hiểu được, chính vì Ngài đã sinh ra để đem lại Hoà bình và tình yêu thương cho loài người. Người đã sống cùng những người nghèo, những lớp người bần cùng, lao khổ. Hơn 2 ngàn năm trước, từ trong máng cỏ lạnh lẽo đêm Betlehem, thông điệp người đưa ra cho nhân loại: Hãy sống đơn sơ cùng với những người cùng khổ, cần lao, hãy mang hoà bình đến cho nhân loại, hãy "đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hoà vào nơi tranh chấp..."
Đã từ lâu, ngày lễ Giáng sinh, đồng nghĩa với Hoà bình, đó là ngày mà các thế lực thù̀ địch với nhau đến đâu cũng có thể thống nhất được mộ̣t điều: Hoà bình.
Chuyện kể rằng: Trong cuộc chiến tranh Pháp - Phổ (1870-1871), vào một ngày Giáng sinh tại mặt trận ác liệt, một lính Pháp bỗng nhảy lên khỏi chiến hào, hát to lên bài Cantique de Noel (Thánh ca đêm Noel) của nhạc sĩ người Pháp - Adolphe Adam - bản carol rất quen thuộc của người Pháp. Từ bên kia chiến tuyến, không có phát đạn nào của lính Phổ đã bắn vào anh ấy. Và thật bất ngờ, một lính Phổ cũng đã vụt đứng lên khỏi chiến hào đáp lại bằng bài carol cổ truyền của Phổ: bài Vom himmel hoch (Từ Thiên đường trên cao) – do Martin Luther viết. Trong khoảnh khắc đặc biệt này, một sự kiện hi hữu đã xảy ra: khi hai bài hát của hai anh lính chiến đối địch vang lên, toàn thể các chiến hào lặng im phăng phắc và sau đó là một tràng pháo tay vang dội thay thế cho những tiếng bom đạn gào thét trước đó…
Hoà bình là một nhu cầu tất yếu, một đích đến của nhân loại, con người sinh ra ai cũng mong muốn được sống trong sự bình an. Nhưng thực tế thế giới quan không chiều theo mong muốn chung của mỗi người. Đây đó, lúc này hay lúc khác, hoà bình vẫn luôn bị đe doạ và xâm phạm. Thông điệp Hoà bình của Đức Giêsu, phù hợp mơ ước của mọi người, mọi dân tộc, vì vậy đã có sức sống mãnh liệt. Trải hơn 2000 năm tồn tại, khát vọng hoà bình hàng năm vẫn vang lên trên mọi nẻo đường thế giới từ thành thị đến nông thôn, từ những dân tộc văn minh đến những bộ lạc còn hoang sơ.
Những ngày này, khi tiếng chuông Noel rộn rã cất lên trên khắp mọi miền của quả địa cầu này, chúng ta hoà chung tất cả những ai thiện chí một ý niệm cầu mong cho Hoà bình nhân loại:
Vinh danh Thiên Chúa trên Trời
Bình an dưới thế, cho người Thiện tâm
Khi Giáo sĩ Inikhu bước những bước chân truyền giáo đầu tiên vào Việt Nam, (Theo Khâm Định Việt sử thông giám cương mục là vào năm 1533) đến giảng đạo ở vùng Ninh Cường, Quần Anh thuộc Bùi Chu ngày nay. Những ai đã nghiên cứu lịch sử truyền giáo ở Á Châu nói chung và Việt Nam nói riêng trong thời gian hơn 470 năm qua thì thấy rằng các nhà truyền giáo đã gặp muôn vàn khó khăn, tưởng như không thể vượt qua được, và nhận thấy người bản xứ chấp nhận tôn giáo mới không đơn giản như nhiều người tưởng. Chắc ông khó có thể tưởng tượng được sau hơn 470 năm, ngày lễ Noel, ngày lễ của những người theo đạo Thiên Chúa đã trở thành một trong những ngày văn hoá chung của mọi người Việt Nam, không kể lương, giáo, không kể già, trẻ, gái trai đều biết đến và nghĩ đến nó với những niềm vui của một ngày hội: Ngày hội hoà bình, ngày hội của tình yêu thương.
Những ngày cuối tháng 12 dương lịch, tiễn đưa năm cũ vào quá khứ, chuẩn bị đón một năm mới, khắp nơi nơi, từ những quán bar, những góc phố, những làng quê nhỏ bé vang lên những bài hát Holy Night, Silent Night, Đêm thánh thiện, Đêm an bình rộn rã. Trên khắp các đường phố Hà Nội, những chùm đèn nhiều màu, những ông già Tuyết, những cỗ xe tuần lộc được trưng bày như một điều không còn lạ lẫm với mọi người. Trên các dãy phố, những nơi công cộng, lũ lượt những dòng người như đi trẩy hội, náo nức đua chen nhau trên đường. Thời tiết Hà Nội đêm Noel thường đi với rét lạnh, nhưng điều đó càng như thêm một nét đặc sắc riêng cho lễ Giáng sinh của Hà Nội. Dạo qua phố phường Hà Nội đêm trước Noel, nơi nơi tràn ngập đèn và hoa, nhạc... Hà Nội tưng bừng, Hà Nội rộn rã niềm vui Noel với một không khí thanh bình đón Chúa Hài Đồng.
Qua những thăng trầm trong lịch sử, người Công giáo Việt Nam đã vượt qua thật ngoạn mục, kiên cường, thật sự hoà nhập với cộng đồng dân tộc Việt Nam và đã có những đóng góp lớn lao cho đất nước hưng thịnh, cho dân tộc hùng cường. Những hoạt động của người Công giáo trong các lĩnh vực nhân đạo, cứu trợ, chống lối sống dung tục vật chất hoá, lối sống hưởng thụ đang len lỏi gặm nhấm dần những giá trị đạo đức truyền thống trong mỗi gia đình và toàn xã hội để xây dựng một xã hội chung có tính nhân bản hơn.
Người Công giáo Việt Nam tìm được niềm tin và có những quan niệm, cách sống phù hợp đức tin cũng như đạo đức xã hội của mình, vì vậy những hành động của họ trở nên tự giác và thiết thực. Họ nhiệt thành trong các công tác xã hội, công tác từ thiện và sự giúp đỡ những nạn nhân của các tệ nạn xã hội với một tâm hồn nhiệt thành và niềm tin mãnh liệt vào tình yêu thương con người theo lời răn của Thiên Chúa: “Các con hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con”.
Ngay từ những ngày đầu tháng 12, nhiều những tổ chức, hội đoàn đã có những kế hoạch cho Noel, đến với những người nghèo, những người tàn tật cô đơn, đã được khởi động nhộn nhịp. Các giáo xứ, mỗi giáo dân đón Noel với những hành động thiết thực với những người cô đơn, những người bệnh phong, những bệnh nhân HIV, AISD... bằng những "chương trình Món quà nhỏ Noel" của các bạn trẻ trong các giáo xứ, giáo họ và những cộng đồng dân cư trên toàn quốc.
Những ngày này trên khắp mọi miền đất nước, khi đất nước chưa vượt qua những khó khăn của giai đoạn phát triển mới, đất nước còn nhiều gian khó, đây đó vẫn còn nhiều mảnh đời bất hạnh, những chú bé không nhà, những trẻ em đường phố... những người bất hạnh bởi thiên tai, chiến tranh và muôn ngàn lý do khác. Với tinh thần hoà bình và yêu thương của mùa Noel, chúng ta hãy nhớ đến họ bằng những hành động thiết thực nhất. Một manh áo mùa đông, một miếng bánh khi đói lòng, một ánh mắt thân thiện, theo tinh thần của Đức Giê-su: "Hãy yêu thương người khác như chính bản thân mình".
J.B. Nguyễn Hữu Vinh
Đọc thêm!
Thứ Tư, 22 tháng 4, 2009
Giáng sinh ở Hà Nội trong mắt người nước ngoài
Giáng sinh ở Hà Nội có chút gì đó rất đỗi thân quen, lại có chút gì đó khác lạ. Cảm nhận của Brenda Benedict, bài viết đăng trên The Star (Malaysia).
Tôi ngồi ở tiền sảnh khách sạn cùng chị gái, cả hai chúng tôi đều chăm chú quan sát đường phố theo hai hướng khác nhau. Chúng tôi nhìn thấy rất nhiều cha mẹ cùng các con, vui cười hớn hở vây quanh hình nộm ông già Noel ở phía trước một cửa hiệu sầm uất. Ai cũng chờ tới lượt mình để chụp hình cùng ông.
Không khí mùa đông giá lạnh được tạo ra từ những bình phun tuyết và những sợi bông trắng tinh mỏng manh. Cửa kính ra vào lớn của những tòa nhà đều có những hình phun ông già Noel cưỡi tuần lộc, hình cây thông giáng sinh, dòng chữ Chúc mừng Noel, Chúc mừng Năm mới...
Giáng sinh trở thành một trong bốn lễ hội quan trọng ở Việt Nam (cùng với ngày Phật đản, ngày Tết nguyên đán và Rằm Trung thu).
Có nhiều người cho rằng, Giáng sinh ở Thành phố Hồ Chí Minh nhộn nhịp hơn tại Hà Nội. Cá nhân tôi thì nghĩ, điều quan trọng là có rất nhiều người không theo đạo Thiên Chúa cùng đổ ra đường, cùng chung vui đón Giáng sinh như người theo đạo.
Cô bạn tôi người Việt Nam, dù không hiểu ngọn nguồn ngày lễ Giáng sinh, nhưng rất háo hức muốn xem các bộ phim về không khí Noel, những bức ảnh Noel phần lớn là cảnh tuyết phủ trắng trời. Cô sẵn sàng giúp chúng tôi tổ chức một bữa tiệc chào đón Giáng sinh.
Ở Hà Nội, vào dịp Giáng sinh, những người không theo đạo Thiên chúa thường thích tổ chức tụ tập, vui chơi, tiệc tùng. Nếu tới Hàng Mã nằm trong khu phố cổ Hà Nội, bạn sẽ thấy và cảm nhận được không khí nhộn nhịp này. Cả đường phố dường như tràn ngập một màu đỏ, màu của vui tươi, của hạnh phúc và sự may mắn.
Những bộ quần áo Santa, đồ trang trí cây thông Noel, hình người Tuyết... tất cả đan cài với nhau, tạo nên một không khí ngày Giáng sinh thanh bình, phần nào xoa dịu nỗi nhớ nhà của những người xa xứ. Ở phố Hàng Mã, bạn có thể chọn cho mình một hình ông già Tuyết vui nhộn, cái bụng bự, chơi đàn violin.
Tôi biết có thông tin vào năm trước, một doanh nhân ở thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng chương trình đào tạo các ông già Tuyết, với đủ mọi kiến thức từ đồ chơi giáng sinh, đến tuần lộc và Jingle Bells.
Ông già Tuyết ở Việt Nam thường được gọi là Ông già Noel. Nhưng khác với phương Tây, Ông già Noel tại Việt Nam đi phát quà trên chiếc xe máy đỏ hoặc thậm chí là bằng xe đạp.
Những khúc ca mừng Noel vang lên khắp nơi. Giai điệu Jingle Bells có ở hầu hết những tấm thiệp âm nhạc, trên cây thông Noel bên cạnh nhiều đĩa CD truyền thống khác.
Dọc bờ hồ Trúc Bạch, bạn có thể thấy toàn bộ cảnh dựng tái hiện ngày Chúa ra đời, nhưng đơn thuần đó chỉ để phục vụ cho khách chụp ảnh.
Ở các nhà thờ Thiên Chúa tại Hà Nội, đêm Giáng sinh thường chật cứng người. Các nhà thờ đều trang hoàng cảnh tái hiện Chúa chào đời cùng với những bản thánh ca có phóng tác tiếng Việt.
Giáng sinh ở Hà Nội cũng là dịp để những đôi uyên ương dành thời gian bên nhau, trao nhau các món quà. Dường như, nét văn hóa nước ngoài đã trở thành thời khắc cho những mối quan hệ thân thuộc, gắn kết, đầm ấm.
Vào thời điểm này, tôi đã ở nhà cùng gia đình ở Malaysia. Nhưng tới bây giờ, hình ảnh các ông già Tuyết và bản nhạc chuông We Wish You a Merry Christmas (Chúc bạn một giáng sinh vui vẻ) vẫn vang lên trong tôi, gợi nhớ về một khoảng thời gian đáng nhớ trong dịp giáng sinh tại Hà Nội.
Vậy nên, dù bạn ở bất cứ nơi đâu, bạn vui vẻ đón Giáng sinh theo cách nào, tôi vẫn xin gửi lời chúc một mùa lễ tràn đầy an bình, vui vẻ và trên tất cả, là tình yêu thương tới bạn.
*
Kỳ Thư (gt)
Việt Báo (Theo_VietNamNet)
Đọc thêm!
Tôi ngồi ở tiền sảnh khách sạn cùng chị gái, cả hai chúng tôi đều chăm chú quan sát đường phố theo hai hướng khác nhau. Chúng tôi nhìn thấy rất nhiều cha mẹ cùng các con, vui cười hớn hở vây quanh hình nộm ông già Noel ở phía trước một cửa hiệu sầm uất. Ai cũng chờ tới lượt mình để chụp hình cùng ông.
Không khí mùa đông giá lạnh được tạo ra từ những bình phun tuyết và những sợi bông trắng tinh mỏng manh. Cửa kính ra vào lớn của những tòa nhà đều có những hình phun ông già Noel cưỡi tuần lộc, hình cây thông giáng sinh, dòng chữ Chúc mừng Noel, Chúc mừng Năm mới...
Giáng sinh trở thành một trong bốn lễ hội quan trọng ở Việt Nam (cùng với ngày Phật đản, ngày Tết nguyên đán và Rằm Trung thu).
Có nhiều người cho rằng, Giáng sinh ở Thành phố Hồ Chí Minh nhộn nhịp hơn tại Hà Nội. Cá nhân tôi thì nghĩ, điều quan trọng là có rất nhiều người không theo đạo Thiên Chúa cùng đổ ra đường, cùng chung vui đón Giáng sinh như người theo đạo.
Cô bạn tôi người Việt Nam, dù không hiểu ngọn nguồn ngày lễ Giáng sinh, nhưng rất háo hức muốn xem các bộ phim về không khí Noel, những bức ảnh Noel phần lớn là cảnh tuyết phủ trắng trời. Cô sẵn sàng giúp chúng tôi tổ chức một bữa tiệc chào đón Giáng sinh.
Ở Hà Nội, vào dịp Giáng sinh, những người không theo đạo Thiên chúa thường thích tổ chức tụ tập, vui chơi, tiệc tùng. Nếu tới Hàng Mã nằm trong khu phố cổ Hà Nội, bạn sẽ thấy và cảm nhận được không khí nhộn nhịp này. Cả đường phố dường như tràn ngập một màu đỏ, màu của vui tươi, của hạnh phúc và sự may mắn.
Những bộ quần áo Santa, đồ trang trí cây thông Noel, hình người Tuyết... tất cả đan cài với nhau, tạo nên một không khí ngày Giáng sinh thanh bình, phần nào xoa dịu nỗi nhớ nhà của những người xa xứ. Ở phố Hàng Mã, bạn có thể chọn cho mình một hình ông già Tuyết vui nhộn, cái bụng bự, chơi đàn violin.
Tôi biết có thông tin vào năm trước, một doanh nhân ở thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng chương trình đào tạo các ông già Tuyết, với đủ mọi kiến thức từ đồ chơi giáng sinh, đến tuần lộc và Jingle Bells.
Ông già Tuyết ở Việt Nam thường được gọi là Ông già Noel. Nhưng khác với phương Tây, Ông già Noel tại Việt Nam đi phát quà trên chiếc xe máy đỏ hoặc thậm chí là bằng xe đạp.
Những khúc ca mừng Noel vang lên khắp nơi. Giai điệu Jingle Bells có ở hầu hết những tấm thiệp âm nhạc, trên cây thông Noel bên cạnh nhiều đĩa CD truyền thống khác.
Dọc bờ hồ Trúc Bạch, bạn có thể thấy toàn bộ cảnh dựng tái hiện ngày Chúa ra đời, nhưng đơn thuần đó chỉ để phục vụ cho khách chụp ảnh.
Ở các nhà thờ Thiên Chúa tại Hà Nội, đêm Giáng sinh thường chật cứng người. Các nhà thờ đều trang hoàng cảnh tái hiện Chúa chào đời cùng với những bản thánh ca có phóng tác tiếng Việt.
Giáng sinh ở Hà Nội cũng là dịp để những đôi uyên ương dành thời gian bên nhau, trao nhau các món quà. Dường như, nét văn hóa nước ngoài đã trở thành thời khắc cho những mối quan hệ thân thuộc, gắn kết, đầm ấm.
Vào thời điểm này, tôi đã ở nhà cùng gia đình ở Malaysia. Nhưng tới bây giờ, hình ảnh các ông già Tuyết và bản nhạc chuông We Wish You a Merry Christmas (Chúc bạn một giáng sinh vui vẻ) vẫn vang lên trong tôi, gợi nhớ về một khoảng thời gian đáng nhớ trong dịp giáng sinh tại Hà Nội.
Vậy nên, dù bạn ở bất cứ nơi đâu, bạn vui vẻ đón Giáng sinh theo cách nào, tôi vẫn xin gửi lời chúc một mùa lễ tràn đầy an bình, vui vẻ và trên tất cả, là tình yêu thương tới bạn.
*
Kỳ Thư (gt)
Việt Báo (Theo_VietNamNet)
Đọc thêm!
Lịch sử ca khúc Giáng sinh Silent night
Silent night, holy night, all is calm, all is bright...
Năm 1817, cha Joseph Mohr, lúc đó mới 25 tuổi, được bổ nhiệm làm linh mục phụ tá tại nhà thờ Thánh Nicholas ở miền Oberndorf nước Áo. Lúc thiếu thời Mohr đã say mê âm nhạc, có lúc cậu sáng tác thơ và đặt lời cho những bài ca trong các nghi lễ đặc biệt tại giáo đường. Khi trở thành linh mục, cha Mohr làm việc không biết mệt mỏi trong công tác từ thiện, phục vụ thanh thiếu niên con các gia đình nghèo khó trong vùng.
Một ngày mùa đông năm 1818, cha Mohr đang cố hoàn thành mọi việc sửa soạn cho thánh lễ Giáng sinh, một nghi lễ mà cha đã hoạch định trước cả tháng. Mọi thứ đều đã xong xuôi, từ bài hát cho đến bài giảng. Nhưng lúc cha dọn dẹp thánh đường mới phát hiện một trở ngại tưởng không thể khắc phục được: đó là chiếc phong cầm của nhà thờ bị hư. Nóng lòng, cha lui cui hàng giờ đánh vật với hàng phím, với bàn đạp của chiếc đàn. Bất chấp mọi khó nhọc của cha, chiếc đàn vẫn nằm ỳ ra không lên tiếng, im lặng chẳng khác cái lặng lẽ của một đêm đông giá lạnh.
Nhận thấy không thể làm gì hơn, vị linh mục ngừng lại và cầu nguyện. Cha cầu xin Chúa cho cha tìm được một giải pháp để đem âm nhạc đến với giáo dân trong ngày lễ có ý nghĩa nhất trong năm. Và rồi cha đã tìm được đáp ứng cho lời cầu nguyện của mình khi nhớ lại bài thơ mà mình sáng tác cách đây gần hai năm. Đó là bài Still Nacht! Heilige Nacht! (Đêm yên lặng! Đêm thánh!). Cha thấy dường như Chúa đã cho cha một tia sáng hi vọng. Bỏ bài thơ vào túi áo, cha vội vã ra khỏi nhà băng qua những đường phố đầy tuyết phủ. Chỉ còn mấy giờ nữa là thánh lễ nửa đêm bắt đầu.
Cũng vào chiều hôm đó, Franz Gruber, người giáo viên làng 31 tuổi, đang co ro trong căn phòng nhỏ bên cạnh trường học. Mặc dù đã theo học phong cầm với giáo sư nổi tiếng Georg Hardobler, Gruber cũng chỉ chơi đàn cho nhà thờ St. Nicholas nhỏ bé. Cha Morh bước vào, hối hả kể cho kéo ông giáo làng nghe nỗi khó khăn của mình. Sau khi bảo Gruber rằng chiếc đàn không thể sửa được, cha liền đem bài thơ ra và nói:
- Franz, anh xem có thể viết nhạc cho bài thơ này để ca đoàn hát được không? Không có phong cầm thì ta chơi guitar vậy.
Rồi vị linh mục đưa mắt nhìn đồng hồ trên bàn, nói thêm: “Không còn nhiều giờ nữa đâu”.
Đọc kỹ bài thơ, Gruber gật đầu, chấp nhận thử thách.
Mấy giờ sau, hai người gặp nhau tại nhà thờ. Gruber đưa cho vị linh mục xem bản nhạc của mình. Linh mục dùng đàn guitar gảy lên những nốt nhạc rồi vội vã chuyển cho ca đoàn. Không có nhiều thời giờ, cha Mohr và Gruber chỉ dạy được cho ca đoàn phần hòa âm bốn giọng của mỗi hai câu thơ cuối.
Trong thánh lễ nửa đêm, cha Mohr và Gruber đứng trước bàn thờ giới thiệu bản nhạc nhỏ bé và giản dị của hai người. Họ đâu ngờ rằng Still Nacht! Heilige Nacht! được dịch sang tiếng Anh là Silent night vào tháng 12-1839, không chỉ sẽ được nhớ tới vào ngày Giáng sinh năm sau trong ngôi làng bé nhỏ của họ mà còn được khắp thế giới ca vang.
Bài hát càng được phổ biến thì nguồn gốc càng bị phân hóa. Có nhiều lúc các nhà xuất bản gán cho tác giả bản nhạc này là một trong các nhạc sĩ đại tài như Bach, Beethoven hoặc Handel. Chỉ mãi tới khi Franz Gruber gửi tới các báo và các nhà xuất bản bản sao tờ phổ nhạc của mình thì nguồn gốc đích thực mới được công nhận. Mặc dù vậy, nhiều giai thoại về lời ca của bản nhạc vẫn còn truyền tụng.
Cha Mohr qua đời trong cảnh nghèo khó năm 1848 trước khi được công nhận là tác giả bài thơ được phổ nhạc.
Vào cuối thập niên 1890, bản Silent night được phiên dịch ra hơn 20 ngôn ngữ khác nhau và là bản nhạc không thể thiếu trong các lễ hội Giáng sinh trên khắp thế giới. Sang thế kỷ 20, bản nhạc này đã đi ra khỏi các giáo đường, hội nhập với những tập tục Giáng sinh khác. Năm 1905, bản nhạc Silent night được thu âm lần đầu tiên do ban nhạc Haydn Quartet. Đó mới chỉ là khởi đầu, sau đó bản nhạc đã được thu âm cả ngàn lần do các ban nhạc khác nhau trên khắp thế giới hát. Tới năm 1960, Silent night đuợc công nhận là bản nhạc được ghi âm nhiều nhất trong lịch sử âm nhạc.
Trong tâm trí nhiều người, bản Silent night được viết ra lúc khởi đầu chỉ là một bản nhạc giản dị, một khúc ngợi ca, được sáng tác để làm nghi thức mừng lễ Giáng sinh có ý nghĩa hơn, bản nhạc xưa cũ này vẫn còn mạnh mẽ và tươi mát như lần đầu tiên được hát lên trong ngôi thánh đường nhỏ bé nơi nước Áo xa xôi.
1. Bản nhạc này đã được nhạc sĩ Hùng Lân “Việt hóa” dưới tên Đêm thánh vô cùng từ hơn nửa thế kỷ trước tại Việt Nam và được hát trong các thánh đường Công giáo cũng như trên các đài truyền thanh, truyền hình từ đó đến nay trong mùa lễ Giáng sinh. Ông không chuyển dịch bài ca nhưng đặt lời hoàn toàn mới, dùng những từ ngữ văn chương như “xe chữ đồng, ơn châu báu không bờ bến, nhắp chén phiền, vương phong trần, tuyết sương mịt mù...”. Sau đây là lời ca do ông đặt:
1. Đêm thánh vô cùng, giây phút tưng bừng, đất với trời xe chữ đồng.
Đêm nay Chúa Con thần thánh tôn thờ. Canh khuya Giáng sinh trong chốn hang lừa.
Ơn châu báu không bờ bến, biết tìm kiếm của chi đền.
2. Ôi Chúa Thiên đàng, cảm mến cơ hàn. Nhắp chén phiền, vương phong trần.
Than ôi Chúa thương người đến quên mình, bơ vơ chốn quê nhà lúc sinh thành.
Ai đang sống trong lạc thú, nhớ rằng Chúa đang đền bù.
3. Tinh tú trên trời, sông núi trên đời.
Với Thánh thần mau kết lời, cao rao hóa công đã khéo an bài.
Sai con hiến thân để cứu nhân loại, hang chiên máng rêu tạm trú, bốn bề tuyết sương mịt mù.
2. Bản Anh ngữ:
1. Silent night, holy night, all is calm, all is bright.
‘Round yon virgin mother and child!
Holy infant so tender and mild, sleep in heavenly peace, sleep in heavenly peace.
2. Silent night, holy night.
Shepherds quake at the sight.
Glories stream from heaven afar, heavenly hosts sing “Alleluia”.
Christ the Savior is born. Christ the Savior is born.
3. Silent night, holy night
Son of God, love"s pure light, radiant beams from thy holy face.
With the dawn of redeeming grace. Jesus, Lord at thy birth.(2)
CHUNG THANH HUY (Theo Internet)
Đọc thêm!
Năm 1817, cha Joseph Mohr, lúc đó mới 25 tuổi, được bổ nhiệm làm linh mục phụ tá tại nhà thờ Thánh Nicholas ở miền Oberndorf nước Áo. Lúc thiếu thời Mohr đã say mê âm nhạc, có lúc cậu sáng tác thơ và đặt lời cho những bài ca trong các nghi lễ đặc biệt tại giáo đường. Khi trở thành linh mục, cha Mohr làm việc không biết mệt mỏi trong công tác từ thiện, phục vụ thanh thiếu niên con các gia đình nghèo khó trong vùng.
Một ngày mùa đông năm 1818, cha Mohr đang cố hoàn thành mọi việc sửa soạn cho thánh lễ Giáng sinh, một nghi lễ mà cha đã hoạch định trước cả tháng. Mọi thứ đều đã xong xuôi, từ bài hát cho đến bài giảng. Nhưng lúc cha dọn dẹp thánh đường mới phát hiện một trở ngại tưởng không thể khắc phục được: đó là chiếc phong cầm của nhà thờ bị hư. Nóng lòng, cha lui cui hàng giờ đánh vật với hàng phím, với bàn đạp của chiếc đàn. Bất chấp mọi khó nhọc của cha, chiếc đàn vẫn nằm ỳ ra không lên tiếng, im lặng chẳng khác cái lặng lẽ của một đêm đông giá lạnh.
Nhận thấy không thể làm gì hơn, vị linh mục ngừng lại và cầu nguyện. Cha cầu xin Chúa cho cha tìm được một giải pháp để đem âm nhạc đến với giáo dân trong ngày lễ có ý nghĩa nhất trong năm. Và rồi cha đã tìm được đáp ứng cho lời cầu nguyện của mình khi nhớ lại bài thơ mà mình sáng tác cách đây gần hai năm. Đó là bài Still Nacht! Heilige Nacht! (Đêm yên lặng! Đêm thánh!). Cha thấy dường như Chúa đã cho cha một tia sáng hi vọng. Bỏ bài thơ vào túi áo, cha vội vã ra khỏi nhà băng qua những đường phố đầy tuyết phủ. Chỉ còn mấy giờ nữa là thánh lễ nửa đêm bắt đầu.
Cũng vào chiều hôm đó, Franz Gruber, người giáo viên làng 31 tuổi, đang co ro trong căn phòng nhỏ bên cạnh trường học. Mặc dù đã theo học phong cầm với giáo sư nổi tiếng Georg Hardobler, Gruber cũng chỉ chơi đàn cho nhà thờ St. Nicholas nhỏ bé. Cha Morh bước vào, hối hả kể cho kéo ông giáo làng nghe nỗi khó khăn của mình. Sau khi bảo Gruber rằng chiếc đàn không thể sửa được, cha liền đem bài thơ ra và nói:
- Franz, anh xem có thể viết nhạc cho bài thơ này để ca đoàn hát được không? Không có phong cầm thì ta chơi guitar vậy.
Rồi vị linh mục đưa mắt nhìn đồng hồ trên bàn, nói thêm: “Không còn nhiều giờ nữa đâu”.
Đọc kỹ bài thơ, Gruber gật đầu, chấp nhận thử thách.
Mấy giờ sau, hai người gặp nhau tại nhà thờ. Gruber đưa cho vị linh mục xem bản nhạc của mình. Linh mục dùng đàn guitar gảy lên những nốt nhạc rồi vội vã chuyển cho ca đoàn. Không có nhiều thời giờ, cha Mohr và Gruber chỉ dạy được cho ca đoàn phần hòa âm bốn giọng của mỗi hai câu thơ cuối.
Trong thánh lễ nửa đêm, cha Mohr và Gruber đứng trước bàn thờ giới thiệu bản nhạc nhỏ bé và giản dị của hai người. Họ đâu ngờ rằng Still Nacht! Heilige Nacht! được dịch sang tiếng Anh là Silent night vào tháng 12-1839, không chỉ sẽ được nhớ tới vào ngày Giáng sinh năm sau trong ngôi làng bé nhỏ của họ mà còn được khắp thế giới ca vang.
Bài hát càng được phổ biến thì nguồn gốc càng bị phân hóa. Có nhiều lúc các nhà xuất bản gán cho tác giả bản nhạc này là một trong các nhạc sĩ đại tài như Bach, Beethoven hoặc Handel. Chỉ mãi tới khi Franz Gruber gửi tới các báo và các nhà xuất bản bản sao tờ phổ nhạc của mình thì nguồn gốc đích thực mới được công nhận. Mặc dù vậy, nhiều giai thoại về lời ca của bản nhạc vẫn còn truyền tụng.
Cha Mohr qua đời trong cảnh nghèo khó năm 1848 trước khi được công nhận là tác giả bài thơ được phổ nhạc.
Vào cuối thập niên 1890, bản Silent night được phiên dịch ra hơn 20 ngôn ngữ khác nhau và là bản nhạc không thể thiếu trong các lễ hội Giáng sinh trên khắp thế giới. Sang thế kỷ 20, bản nhạc này đã đi ra khỏi các giáo đường, hội nhập với những tập tục Giáng sinh khác. Năm 1905, bản nhạc Silent night được thu âm lần đầu tiên do ban nhạc Haydn Quartet. Đó mới chỉ là khởi đầu, sau đó bản nhạc đã được thu âm cả ngàn lần do các ban nhạc khác nhau trên khắp thế giới hát. Tới năm 1960, Silent night đuợc công nhận là bản nhạc được ghi âm nhiều nhất trong lịch sử âm nhạc.
Trong tâm trí nhiều người, bản Silent night được viết ra lúc khởi đầu chỉ là một bản nhạc giản dị, một khúc ngợi ca, được sáng tác để làm nghi thức mừng lễ Giáng sinh có ý nghĩa hơn, bản nhạc xưa cũ này vẫn còn mạnh mẽ và tươi mát như lần đầu tiên được hát lên trong ngôi thánh đường nhỏ bé nơi nước Áo xa xôi.
1. Bản nhạc này đã được nhạc sĩ Hùng Lân “Việt hóa” dưới tên Đêm thánh vô cùng từ hơn nửa thế kỷ trước tại Việt Nam và được hát trong các thánh đường Công giáo cũng như trên các đài truyền thanh, truyền hình từ đó đến nay trong mùa lễ Giáng sinh. Ông không chuyển dịch bài ca nhưng đặt lời hoàn toàn mới, dùng những từ ngữ văn chương như “xe chữ đồng, ơn châu báu không bờ bến, nhắp chén phiền, vương phong trần, tuyết sương mịt mù...”. Sau đây là lời ca do ông đặt:
1. Đêm thánh vô cùng, giây phút tưng bừng, đất với trời xe chữ đồng.
Đêm nay Chúa Con thần thánh tôn thờ. Canh khuya Giáng sinh trong chốn hang lừa.
Ơn châu báu không bờ bến, biết tìm kiếm của chi đền.
2. Ôi Chúa Thiên đàng, cảm mến cơ hàn. Nhắp chén phiền, vương phong trần.
Than ôi Chúa thương người đến quên mình, bơ vơ chốn quê nhà lúc sinh thành.
Ai đang sống trong lạc thú, nhớ rằng Chúa đang đền bù.
3. Tinh tú trên trời, sông núi trên đời.
Với Thánh thần mau kết lời, cao rao hóa công đã khéo an bài.
Sai con hiến thân để cứu nhân loại, hang chiên máng rêu tạm trú, bốn bề tuyết sương mịt mù.
2. Bản Anh ngữ:
1. Silent night, holy night, all is calm, all is bright.
‘Round yon virgin mother and child!
Holy infant so tender and mild, sleep in heavenly peace, sleep in heavenly peace.
2. Silent night, holy night.
Shepherds quake at the sight.
Glories stream from heaven afar, heavenly hosts sing “Alleluia”.
Christ the Savior is born. Christ the Savior is born.
3. Silent night, holy night
Son of God, love"s pure light, radiant beams from thy holy face.
With the dawn of redeeming grace. Jesus, Lord at thy birth.(2)
CHUNG THANH HUY (Theo Internet)
Đọc thêm!
Bí ẩn quanh cây thông Noel
Vị thánh nói với những kẻ ngoại đạo rằng cây thông nhỏ là cây của sự sống và nó tượng trưng cho cuộc sống vĩnh hằng của Chúa cứu thế.
Truyền thuyết về thánh Boniface, một thầy tu người Anh, người đã sáng lập ra nhà thờ đạo Cơ Ðốc ở Pháp và Ðức kể rằng, một hôm trên đường hành hương, ngài tình cờ bắt gặp một nhóm những kẻ ngoại đạo sùng bái đang tập trung quanh một cây sồi lớn, dùng một đứa trẻ tế thần. Ðể dừng buổi tế thần và cứu đứa trẻ, Boniface đã hạ gục cây sồi chỉ bằng một quả đấm!

Tại nơi đó đã mọc lên một cây thông nhỏ. Vị thánh nói với những kẻ ngoại đạo rằng cây thông nhỏ là cây của sự sống và nó tượng trưng cho cuộc sống vĩnh hằng của Chúa cứu thế.
Tương truyền, một lần thánh Martin Luther, người sáng lập đạo Tin Lành dạo bước qua những cánh rừng vào một đêm Noel khoảng năm 1500. Trời quang và lạnh. Hàng triệu vì sao sáng lấp lánh qua kẽ lá.
Ngài thực sự ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của một loài cây nhỏ, trên cành cây tuyết trắng phủ đầy, lung linh dưới ánh trăng. Cảnh vật hôm đó đã làm Luther thực sự rung động. Vì thế, khi trở về ngài đã đặt một cây thông nhỏ trong nhà và kể lại câu chuyện này với lũ trẻ. Ðể tái tạo ánh sáng lấp lánh của muôn ngàn ánh sao ngài đã treo nến lên cành cây thông và thắp sáng những ngọn nến ấy với lòng tôn kính ngày Chúa giáng sinh.
Một truyền thuyết khác lại kể rằng, vào một đêm Noel đã rất lâu rồi có một người tiều phu nghèo khổ đang trên đường trở về nhà thì gặp một đứa trẻ bị lạc và lả đi vì đói. Mặc dù nghèo khó nhưng người tiều phu đã dành lại cho đứa trẻ chút thức ăn ít ỏi của mình và che chở cho nó yên giấc qua đêm.
Vào buổi sáng khi thức dậy, ông nhìn thấy một cái cây đẹp lộng lẫy ngoài cửa. Hoá ra đứa trẻ đói khát tối hôm trước chính là Chúa cải trang. Chúa đã tạo ra cây để thưởng cho lòng nhân đức của người tiều phu tốt bụng.
Nguồn gốc thực của cây Giáng sinh có thể gắn liền với những vở kịch thiên đường. Vào thời Trung Cổ, những vở kịch về đạo đức được biểu diễn khắp Châu Âu, thông qua các vở kịch ấy người ta có thể truyền bá các bài kinh thánh. Những vở kịch nói về nguồn gốc của loài người và sự dại dột của Adam và Eve ở vườn Eden, thường được diễn vào ngày 24 tháng 12 hàng năm. Cây táo là một đạo cụ trong vở kịch, nhưng vì các vở kịch được diễn vào mùa đông, các loài cây đều chưa kết trái nên các diễn viên phải treo những quả táo giả lên cành cây.
Phong tục cây Giáng sinh trở nên phổ biến ở Ðức vào thế kỷ 16. Người theo đạo Cơ đốc mang cây xanh vào trong nhà và trang hoàng cho chúng trong dịp lễ Giáng sinh. ở những vùng vắng bóng cây xanh, mọi người tạo ra các đồ vật hình chóp từ gỗ và trang trí cho nó các cành cây xanh và nến. Chẳng bao lâu sau, phong tục cây Giáng sinh đã trở nên phổ biến ở các nước Châu Âu.
Theo một truyền thuyết của nước Mỹ, một cuộc vui tổ chức xung quanh cây Giáng sinh vào một đêm Noel lạnh lẽo ở Trenton, New Jersey trong thời gian nội chiến đã làm thay đổi cục diện cuộc chiến. Những người lính phe Liên Bang quá nhớ nhà, nhớ những ngọn nến được thắp sáng treo trên các cành thông Giáng sinh, đã bỏ nơi canh gác để ăn uống vui vẻ. Washington đã tấn công và đánh bại họ trong đêm đó.
Vào giữa thế kỷ 19, Hoàng tử Albert chồng tương lai của nữ hoàng Victoria ra đời. Chính ông đã phổ biến rộng rãi phong tục cây Giáng sinh vào nước Anh. Năm 1841, đôi vợ chồng Hoàng gia này đã trang hoàng cây Giáng sinh đầu tiên của nước Anh tại lâu đài Windson bằng nến cùng với rất nhiều loại kẹo, hoa quả và bánh gừng.
Khi cây Giáng sinh trở thành thời thượng ở Anh thì những gia đình giàu có đã dùng tất cả những đồ vật quý giá để trang trí cho nó. Vào những năm 1850, theo sự mô tả của đại văn hào Charles Dickens thì cây Giáng sinh ở Anh được trang hoàng bằng búp bê, những vật dụng nhỏ bé, các thiết bị âm nhạc, đồ trang sức, súng và gươm đồ chơi, hoa quả và bánh kẹo. Sau khi đã tồn tại ở Anh thì phong tục cây Noel cũng trở nên phổ biến trên khắp các vùng thuộc địa của đế chế Anh, tới cả những vùng đất mới như Canada.
Cây Giáng sinh lần đầu tiên được dân chúng ở Mỹ biết đến là vào những năm 1830. Khi hầu hết người dân Mỹ đều coi cây Giáng sinh là một điều kỳ cục thì những người Ðức nhập cư ở Pennsylvania thường mang cây Giáng sinh vào các buổi biểu diễn nhằm tăng tiền quyên góp cho nhà thờ. Năm 1851 một mục sư người Ðức đặt một cây Giáng sinh trước nhà thờ của ông làm cho những người dân xứ đạo ở đó đã bị xúc phạm và buộc ông phải hạ nó xuống. Họ cảm thấy đó là một phong tục ngoại đạo.
Tuy nhiên vào những năm 1890 nhiều đồ trang trí bắt đầu được nhập từ Ðức vào và từ đó tục lệ về cây Giáng sinh trở nên phổ biến tại Canada và Mỹ. Có một sự khác biệt lớn giữa cây Giáng sinh của Châu Âu và Bắc Mỹ, cây của Châu Âu nhỏ, hiếm khi cao hơn một mét rưỡi, chỉ khoảng 4 hoặc 5 feet trong khi cây của Bắc Mỹ cao tới trần nhà.Năm 1900, cứ 5 gia đình ở Bắc Mỹ thì có một gia đình có cây Giáng sinh, và 20 năm sau phong tục này trở nên khá phổ biến.
Vào những năm đầu thế kỷ 20, người dân Bắc Mỹ thường trang trí cây thông bằng đồ trang trí do chính tay họ làm ra. Ðồ trang trí truyền thống của người Ca-na-đa và người Mỹ gốc Ðức gồm có quả hạnh nhân, quả hạch, bánh hạnh nhân với nhiều hình dạng thú vị khác nhau. Những hạt bắp chiên nhiều màu sắc, được trang trí cùng những quả phúc bồn tử và các chuỗi hạt.
Cũng vào thời gian này bắt đầu xuất hiện những dây đèn trang trí trên cây Giáng sinh, nhờ nó cây thông rực rỡ hơn nhiều lần. ánh sáng trang trí bằng đèn điện kéo dài hơn và an toàn hơn rất nhiều so với ánh sáng toả ra từ những ngọn nến.
Mỗi năm khi ngày Giáng sinh tới, một cây Giáng sinh lộng lẫy được đặt tại quảng trường trung tâm Bentall thành phố Vancouver, phía nam British Columbia. Và dân chúng tập trung xung quanh cây Giáng sinh đầu tiên vừa được dựng lên và chưa được trang hoàng lộng lẫy kia, rồi ở cuối thành phố cây thông sáng bỗng bừng lên với muôn vàn ánh đèn đầy màu sắc, cùng lúc đó đội hợp xướng nhà thờ ca vang bài hát mừng lễ Giáng sinh.
Tại ngọn đồi Parliament ở Ottawa, một cây Giáng sinh rực rỡ ánh đèn màu được đặt cạnh ngọn đuốc thế kỷ của Canada cùng với âm vị ngọt ngào của giai điệu Giáng sinh tuyệt vời từ tháp Hoà Bình Carillon vang đến. Tại trung tâm Rockefeller ở NewYork, một cây Giáng sinh khổng lồ luôn lấp lánh bên cửa ra vào trước sân trượt băng. Tại thủ phủ Wasington, chính tổng thống đã thắp sáng cây vân sam trên bãi cỏ trước cửa nhà Trắng, 50 quả bóng bay lớn nhiều màu sắc được trang hoàng trên cây tượng trưng cho 50 bang. Một cây thông Nauy cao lớn đã tôn thêm vẻ duyên dáng cho quảng trường Trafalgar ở London. Ðối với dân trong các thành phố thì lễ trang hoàng cây thông Nô-en báo hiệu một mùa Giáng sinh đã đến.
Từ năm 1947, những người ở Oslo hàng năm thường tặng một cây vân sam Na-uy cho những công dân của London, đôi với mọi người ở những thành phố này cũng như những thành phố khác thì lễ thắp đèn cho cây đánh giấu sự bắt đầu của một lễ Giáng sinh.
(Theo Kenny"s blog)
Việt Báo (Theo_VTC)
Đọc thêm!
Truyền thuyết về thánh Boniface, một thầy tu người Anh, người đã sáng lập ra nhà thờ đạo Cơ Ðốc ở Pháp và Ðức kể rằng, một hôm trên đường hành hương, ngài tình cờ bắt gặp một nhóm những kẻ ngoại đạo sùng bái đang tập trung quanh một cây sồi lớn, dùng một đứa trẻ tế thần. Ðể dừng buổi tế thần và cứu đứa trẻ, Boniface đã hạ gục cây sồi chỉ bằng một quả đấm!
Tại nơi đó đã mọc lên một cây thông nhỏ. Vị thánh nói với những kẻ ngoại đạo rằng cây thông nhỏ là cây của sự sống và nó tượng trưng cho cuộc sống vĩnh hằng của Chúa cứu thế.
Tương truyền, một lần thánh Martin Luther, người sáng lập đạo Tin Lành dạo bước qua những cánh rừng vào một đêm Noel khoảng năm 1500. Trời quang và lạnh. Hàng triệu vì sao sáng lấp lánh qua kẽ lá.
Ngài thực sự ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của một loài cây nhỏ, trên cành cây tuyết trắng phủ đầy, lung linh dưới ánh trăng. Cảnh vật hôm đó đã làm Luther thực sự rung động. Vì thế, khi trở về ngài đã đặt một cây thông nhỏ trong nhà và kể lại câu chuyện này với lũ trẻ. Ðể tái tạo ánh sáng lấp lánh của muôn ngàn ánh sao ngài đã treo nến lên cành cây thông và thắp sáng những ngọn nến ấy với lòng tôn kính ngày Chúa giáng sinh.
Một truyền thuyết khác lại kể rằng, vào một đêm Noel đã rất lâu rồi có một người tiều phu nghèo khổ đang trên đường trở về nhà thì gặp một đứa trẻ bị lạc và lả đi vì đói. Mặc dù nghèo khó nhưng người tiều phu đã dành lại cho đứa trẻ chút thức ăn ít ỏi của mình và che chở cho nó yên giấc qua đêm.
Vào buổi sáng khi thức dậy, ông nhìn thấy một cái cây đẹp lộng lẫy ngoài cửa. Hoá ra đứa trẻ đói khát tối hôm trước chính là Chúa cải trang. Chúa đã tạo ra cây để thưởng cho lòng nhân đức của người tiều phu tốt bụng.
Nguồn gốc thực của cây Giáng sinh có thể gắn liền với những vở kịch thiên đường. Vào thời Trung Cổ, những vở kịch về đạo đức được biểu diễn khắp Châu Âu, thông qua các vở kịch ấy người ta có thể truyền bá các bài kinh thánh. Những vở kịch nói về nguồn gốc của loài người và sự dại dột của Adam và Eve ở vườn Eden, thường được diễn vào ngày 24 tháng 12 hàng năm. Cây táo là một đạo cụ trong vở kịch, nhưng vì các vở kịch được diễn vào mùa đông, các loài cây đều chưa kết trái nên các diễn viên phải treo những quả táo giả lên cành cây.
Phong tục cây Giáng sinh trở nên phổ biến ở Ðức vào thế kỷ 16. Người theo đạo Cơ đốc mang cây xanh vào trong nhà và trang hoàng cho chúng trong dịp lễ Giáng sinh. ở những vùng vắng bóng cây xanh, mọi người tạo ra các đồ vật hình chóp từ gỗ và trang trí cho nó các cành cây xanh và nến. Chẳng bao lâu sau, phong tục cây Giáng sinh đã trở nên phổ biến ở các nước Châu Âu.
Theo một truyền thuyết của nước Mỹ, một cuộc vui tổ chức xung quanh cây Giáng sinh vào một đêm Noel lạnh lẽo ở Trenton, New Jersey trong thời gian nội chiến đã làm thay đổi cục diện cuộc chiến. Những người lính phe Liên Bang quá nhớ nhà, nhớ những ngọn nến được thắp sáng treo trên các cành thông Giáng sinh, đã bỏ nơi canh gác để ăn uống vui vẻ. Washington đã tấn công và đánh bại họ trong đêm đó.
Vào giữa thế kỷ 19, Hoàng tử Albert chồng tương lai của nữ hoàng Victoria ra đời. Chính ông đã phổ biến rộng rãi phong tục cây Giáng sinh vào nước Anh. Năm 1841, đôi vợ chồng Hoàng gia này đã trang hoàng cây Giáng sinh đầu tiên của nước Anh tại lâu đài Windson bằng nến cùng với rất nhiều loại kẹo, hoa quả và bánh gừng.
Khi cây Giáng sinh trở thành thời thượng ở Anh thì những gia đình giàu có đã dùng tất cả những đồ vật quý giá để trang trí cho nó. Vào những năm 1850, theo sự mô tả của đại văn hào Charles Dickens thì cây Giáng sinh ở Anh được trang hoàng bằng búp bê, những vật dụng nhỏ bé, các thiết bị âm nhạc, đồ trang sức, súng và gươm đồ chơi, hoa quả và bánh kẹo. Sau khi đã tồn tại ở Anh thì phong tục cây Noel cũng trở nên phổ biến trên khắp các vùng thuộc địa của đế chế Anh, tới cả những vùng đất mới như Canada.
Cây Giáng sinh lần đầu tiên được dân chúng ở Mỹ biết đến là vào những năm 1830. Khi hầu hết người dân Mỹ đều coi cây Giáng sinh là một điều kỳ cục thì những người Ðức nhập cư ở Pennsylvania thường mang cây Giáng sinh vào các buổi biểu diễn nhằm tăng tiền quyên góp cho nhà thờ. Năm 1851 một mục sư người Ðức đặt một cây Giáng sinh trước nhà thờ của ông làm cho những người dân xứ đạo ở đó đã bị xúc phạm và buộc ông phải hạ nó xuống. Họ cảm thấy đó là một phong tục ngoại đạo.
Tuy nhiên vào những năm 1890 nhiều đồ trang trí bắt đầu được nhập từ Ðức vào và từ đó tục lệ về cây Giáng sinh trở nên phổ biến tại Canada và Mỹ. Có một sự khác biệt lớn giữa cây Giáng sinh của Châu Âu và Bắc Mỹ, cây của Châu Âu nhỏ, hiếm khi cao hơn một mét rưỡi, chỉ khoảng 4 hoặc 5 feet trong khi cây của Bắc Mỹ cao tới trần nhà.Năm 1900, cứ 5 gia đình ở Bắc Mỹ thì có một gia đình có cây Giáng sinh, và 20 năm sau phong tục này trở nên khá phổ biến.
Vào những năm đầu thế kỷ 20, người dân Bắc Mỹ thường trang trí cây thông bằng đồ trang trí do chính tay họ làm ra. Ðồ trang trí truyền thống của người Ca-na-đa và người Mỹ gốc Ðức gồm có quả hạnh nhân, quả hạch, bánh hạnh nhân với nhiều hình dạng thú vị khác nhau. Những hạt bắp chiên nhiều màu sắc, được trang trí cùng những quả phúc bồn tử và các chuỗi hạt.
Cũng vào thời gian này bắt đầu xuất hiện những dây đèn trang trí trên cây Giáng sinh, nhờ nó cây thông rực rỡ hơn nhiều lần. ánh sáng trang trí bằng đèn điện kéo dài hơn và an toàn hơn rất nhiều so với ánh sáng toả ra từ những ngọn nến.
Mỗi năm khi ngày Giáng sinh tới, một cây Giáng sinh lộng lẫy được đặt tại quảng trường trung tâm Bentall thành phố Vancouver, phía nam British Columbia. Và dân chúng tập trung xung quanh cây Giáng sinh đầu tiên vừa được dựng lên và chưa được trang hoàng lộng lẫy kia, rồi ở cuối thành phố cây thông sáng bỗng bừng lên với muôn vàn ánh đèn đầy màu sắc, cùng lúc đó đội hợp xướng nhà thờ ca vang bài hát mừng lễ Giáng sinh.
Tại ngọn đồi Parliament ở Ottawa, một cây Giáng sinh rực rỡ ánh đèn màu được đặt cạnh ngọn đuốc thế kỷ của Canada cùng với âm vị ngọt ngào của giai điệu Giáng sinh tuyệt vời từ tháp Hoà Bình Carillon vang đến. Tại trung tâm Rockefeller ở NewYork, một cây Giáng sinh khổng lồ luôn lấp lánh bên cửa ra vào trước sân trượt băng. Tại thủ phủ Wasington, chính tổng thống đã thắp sáng cây vân sam trên bãi cỏ trước cửa nhà Trắng, 50 quả bóng bay lớn nhiều màu sắc được trang hoàng trên cây tượng trưng cho 50 bang. Một cây thông Nauy cao lớn đã tôn thêm vẻ duyên dáng cho quảng trường Trafalgar ở London. Ðối với dân trong các thành phố thì lễ trang hoàng cây thông Nô-en báo hiệu một mùa Giáng sinh đã đến.
Từ năm 1947, những người ở Oslo hàng năm thường tặng một cây vân sam Na-uy cho những công dân của London, đôi với mọi người ở những thành phố này cũng như những thành phố khác thì lễ thắp đèn cho cây đánh giấu sự bắt đầu của một lễ Giáng sinh.
(Theo Kenny"s blog)
Việt Báo (Theo_VTC)
Đọc thêm!
Thứ Hai, 20 tháng 4, 2009
Nguồn gốc Lễ Phục sinh
Nhiều bạn đọc viết thư hỏi:Xem truyền hình quốc tế thấy hiện nay nhiều nước đang diễn ra lễ Phục sinh,cũng như trong nước tại các xứ đạo tiến hành long trọng lễ Phục sinh...Vậy lễ này có ý nghĩa như thế nào?
Thánh lễ Phục Sinh – lễ kỷ niệm sự phục sinh của Chúa Giêsu Kitô con Chúa Trời .Đây là một dịp lễ quan trọng không kém sự kiện Chúa Giêsu giáng sinh thường diễn ra vào tháng 3 hoặc tháng 4 mỗi năm để tưởng niệm sự kiện Phục Sinh của Chúa Giêsu từ cõi chết sau khi bị đóng đinh trên thập tự giá được người Kitô tin là xảy ra vào khoảng thời gian này trong năm 30 -40 CN. (Phục Sinh cũng được dùng để chỉ một mùa trong năm phụng vụ kéo dài 50 ngày từ lễ Phục Sinh.
Trên khắp thế giới, vào những ngày này, các Thánh lễ, các nghi thức tưởng niệm đã ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều hoạt động của người Công giáo, nhất là trong Tuần Thánh (Holy Week), đặc biệt là Tam Nhật Phục sinh – Ba ngày của cuộc Thương khó tử nạn và Phục sinh của Chúa Giêsu Kitô.
Trong những ngày đó, theo Giáo luật, các tín hữu Công giáo giảm các cuộc vui chơi, giải trí, các hình thức phô trương, lễ cưới... Đặc biệt, mỗi năm người tín hữu Công giáo có hai ngày giữ chay đều nằm trong mùa Thương khó này.
Tại Vatican Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI đã cử hành các nghi thức tưởng niệm những sự kiện cuối cùng trong cuộc đời Chúa Giêsu với hàng vạn người tham dự. Thứ sáu Tuần Thánh, Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI đã đi đàng Thánh Giá – tưởng niệm cuộc khổ nạn chịu chết của Đức Giêsu - tại hí trường Côlôsêô thuộc Roma, nơi mà cách đây hai ngàn năm trước những người Công giáo đầu tiên đã bị Hoàng đế Nero hành hình.
Tại nhiều nước trên thế giới, đã có những Thánh lễ, những nghi thức hoành tráng. Tại Philippines, một đất nước có số giáo dân đứng đầu Đông Nam Á, nhiều người đã xung phong đóng vai Chúa Giêsu và chịu đóng đinh để treo trên Thánh Giá trong các buổi kịch tưởng niệm biến cố Chúa Giê su chịu chết.
Tại Việt Nam, từ khi đạo Công giáo vào đây, những hoạt động tín ngưỡng trong mùa này đã được “Việt hóa” bằng nhiều cách cho phù hợp với truyền thống của dân tộc Việt Nam.
Tại các giáo xứ, nhiều nơi đã diễn tả lại những hoạt cảnh cuộc chịu nạn của Chúa Giêsu trong các Nhà thờ, các khuôn viên tôn giáo.
Những ngày lễ Phục Sinh đã trở thành những ngày lễ hội vui mừng sau 40 ngày trong mùa Thương khó. Năm nay, tất cả các Giáo xứ, Giáo phận ở Việt Nam đã cử hành các Thánh Lễ, các nghi thức tưởng niệm cùng nhịp với Giáo hội Công giáo Hoàn vũ.
Những ngày lễ Phục Sinh, cũng là những ngày người Công giáo nhiều nơi nhớ đến và chia sẻ với những người bất hạnh trong xã hội bằng nhiều hình thức như thăm viếng, tặng quà, động viên nhiều trại phong, những người mồ côi, bệnh tật…
Tại nhà thờ Chính Tòa Hà Nội, sáng chủ nhật 23/3/2008,đã cử hành Thánh lễ Phục sinh trọng thể.
Tại sao lại là "Quả trứng Phục Sinh"? "Easter Egg".
Phục Sinh (Easter) gắn liền với hình tượng chú thỏ Phục Sinh (biểu tượng của khả năng sinh sản) và những quả trứng Phục Sinh nhiều màu sắc (tượng trưng cho những sinh linh mới được ra đời). Theo truyền thống, các quả trứng Phục Sinh, thường được tô bằng màu sáng với ý nghĩa là màu của các tia nắng mùa xuân, được dùng trong những trò chơi trong lễ Phục Sinh hoặc được tặng cùng với các món quà cho trẻ em.
Vào ngày này, người ta thường chơi trò "Tìm trứng Phục Sinh". Buổi sáng ngày lễ, tất cả trẻ em cùng tham gia cuộc tìm kiếm những quả trứng mà chú thỏ Phục Sinh đã giấu ở đâu đó, khi chúng còn đang ngủ. Phần thưởng cho người may mắn tìm thấy quả trứng Phục Sinh có thể là những chiếc kẹo hoặc những món quà thú vị. (Ảnh: Reuters)
Có xuất xứ từ một ngày hội truyền thống, "Easter Egg" đã trở thành một khái niệm riêng trong lĩnh vực tin học, nhằm chỉ những bí mật giấu trong các phần mềm máy tính. Với một phần mềm tất cả những điều bạn chưa biết đều có thể được coi là bí mật.
Thu Thủy
Đọc thêm!
Thứ Năm, 16 tháng 4, 2009
Lễ Vượt Qua
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lễ Vượt Qua hay lễ Quá Hải là lễ quan trọng nhất của người Do Thái, kéo dài một tuần. Chiều ngày 14 tháng Ni-xan (khoảng tháng ba, tháng tư dương lịch), người ta sát tế chiên (cừu) tại đền thờ, rồi tư tế lấy máu chiên mà đổ dưới chân bàn thờ. Khi đêm xuống, người ta sẽ ăn tiệc chiên vượt qua theo gia đình hay theo nhóm mà không quên lấy chút máu chiên bôi lên cửa nhà. Lễ Vượt Qua được cử hành như một cuộc tưởng niệm nhằm giúp mỗi người sống lại kinh nghiệm của cha ông họ được giải phóng khỏi ách nô lệ Ai Cập xưa kia. Trong bữa tiệc, người ta ăn thịt chiên với bánh không men và rau đắng, ngoài ra, họ cũng uống với nhau bốn chén rượu đã được vị chủ tọa bữa tiệc chúc lành để kỉ niệm bốn lời hứa của Thiên Chúa với dân Do Thái:
* "Ta sẽ đem các ngươi ra từ ách của Ai Cập"
* "Ta sẽ giải thoát các ngươi khỏi cảnh làm tôi mọi chúng"
* "Ta sẽ giương cánh tay mà chuộc lấy các ngươi"
* "Ta sẽ lấy các ngươi làm dân Ta, và Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi"
Họ sẽ nhắc nhở lại biến cố Xuất Hành và đọc một bài Thánh Vịnh khi tiệc tàn. Đọc thêm!
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lễ Vượt Qua hay lễ Quá Hải là lễ quan trọng nhất của người Do Thái, kéo dài một tuần. Chiều ngày 14 tháng Ni-xan (khoảng tháng ba, tháng tư dương lịch), người ta sát tế chiên (cừu) tại đền thờ, rồi tư tế lấy máu chiên mà đổ dưới chân bàn thờ. Khi đêm xuống, người ta sẽ ăn tiệc chiên vượt qua theo gia đình hay theo nhóm mà không quên lấy chút máu chiên bôi lên cửa nhà. Lễ Vượt Qua được cử hành như một cuộc tưởng niệm nhằm giúp mỗi người sống lại kinh nghiệm của cha ông họ được giải phóng khỏi ách nô lệ Ai Cập xưa kia. Trong bữa tiệc, người ta ăn thịt chiên với bánh không men và rau đắng, ngoài ra, họ cũng uống với nhau bốn chén rượu đã được vị chủ tọa bữa tiệc chúc lành để kỉ niệm bốn lời hứa của Thiên Chúa với dân Do Thái:
* "Ta sẽ đem các ngươi ra từ ách của Ai Cập"
* "Ta sẽ giải thoát các ngươi khỏi cảnh làm tôi mọi chúng"
* "Ta sẽ giương cánh tay mà chuộc lấy các ngươi"
* "Ta sẽ lấy các ngươi làm dân Ta, và Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi"
Họ sẽ nhắc nhở lại biến cố Xuất Hành và đọc một bài Thánh Vịnh khi tiệc tàn. Đọc thêm!
Cách tính ngày Chúa NhẬt PhỤc Sinh Trong Giáo HỘi Phương Đông & Giáo HỘi Phương Tây
Maranatha tổng hợp
Lưu ý: Để cho gọn, bài viết giả tạm sử dụng (và chỉ có giá trị trong bài này thôi) cụm từ ‘Giáo Hội Phương Đông’ để chỉ định các Giáo Hội Chính Thống; và ‘Giáo Hội Phương Tây’ để chỉ định các Giáo Hội Công Giáo và Tin Lành.
I. Xác định Ngày Phục Sinh.
“Phục Sinh là ngày Chúa Nhật sau ngày 14 âm lịch, và đấy là ngày 21 tháng 3 hoặc ngày hôm sau.” Đấy là qui tắc mà Công Đồng Nicê đề ra năm 325, để xác định ngày mừng lễ Phục Sinh trong Giáo Hội Phương Đông cũng như Phương Tây. Như thế ta hiểu vì sao Chúa Nhật Phục Sinh không bao giờ có một ngày nhất định theo dương lịch. Và đối với Giáo Hội Tây Phương, ngày Chúa Nhật Phục Sinh sớm nhất là ngày 23 tháng 3 (nếu trăng tròn ngày 22, và chúa nhật ngày 23); và ngày trễ nhất là ngày 25 tháng 4 (nếu trăng tròn 28 ngày sau ngày 21 tháng3, và 6 ngày sau ngày trăng tròn mới đến chủ nhật). Ta cũng nghe nói một cách ngắn gọn hơn: “Phục Sinh là ngày Chúa Nhật đầu tiên sau ngày trăng tròn mùa xuân.”
Theo hai câu trên, thì phải xem ngày bắt đầu mùa xuân là ngày 21 tháng 3. Thế nhưng đối với các nhà thiên văn, mùa xuân bắt đầu vào ngày Xuân Phân, nghĩa là lúc mà ngày và đêm có độ dài bằng nhau. Vào thời Cộng Đồng Nicê, thì Xuân Phân rơi đúng vào ngày 21 tháng 3, nhưng dần dần (như ta sẽ thấy ở phần sau) hai ngày này không còn trùng nhau nữa.
Mặt khác, trên lý thuyết, phải xem là trăng tròn ở ngày thứ 14 kể từ ngày Xuân Phân.
Bởi lẽ ngày Phục Sinh được xét trên cùng một qui tắc, thế thì vì sao lễ Phục Sinh trong Giáo Hội Chính Thống lại ít khi trùng với lễ Phục Sinh trong Giáo Hội Công Giáo và Tin Lành? ..(Click Tiêu đề để đọc tiếp)
Có hai lý do:
1. Phương đông và phương tây sử dụng hai lịch khác nhau: Phương tây đã thay đổi lịch để đúng hơn với vòng xoay của mặt trời.
2. Không cách tính nào căn cứ vào ngày trăng tròn thực tế, mà theo một cách tính toán khác.
II. Ngày 21 tháng 3 không trùng nhau trên hai lịch.
Ngày Phục Sinh của Giáo Hội Đông Phương căn cứ theo lịch Juliô, còn Phương Tây thì sử dụng lịch Grêgôriô. Lịch Juliô do Juliô Xêsa lập ra năm 708 La Mã, nghĩa là năm 45 trước Công Nguyên. Đây là nguồn gốc của niên lịch quốc tế mà hiện nay mọi nơi đều sử dụng, được gọi là lịch Grêgôriô, vì do Đức Giáo Hoàng Grêgôriô XIII ấn định cho các xã hội công giáo La Mã vào năm 1582.
Sự khác biệt chủ yếu giữa hai lịch là cách xác định năm nhuần: Theo lịch Juliô, mọi năm chia chẳn cho 4 đều là năm nhuần; còn theo lịch Grêgôriô, chỉ những năm tận cùng bằng 00 (hai số không) mà chia chẳn cho 400 thì mới là năm nhuần. (Như vậy, năm 2000 là nhuần, các năm 1700, 1800, 1900 không phải là nhuần).
Lý do có sự cải cách này là vì năm Dương Lịch – từ Xuân Phân này đến Xuân Phân kia – kéo dài độ chừng 365,2422 ngày. Thế nhưng một năm trong lịch Juliô dài 365,25 ngày, còn đối với lịch Grêgôriô là 365,2425 ngày.
Khoảng cách 0,0078 ngày (0,2500 – 0,2422) là một thời gian rất nhỏ, nhưng sau 400 năm thì cũng đã trở thành 0,0078 x 400 nghĩa là 3,12 ngày. Như vậy, lịch Juliô, sau 400 năm, lại chậm thêm hơn 3 ngày so với mặt trời. Do đó, theo lịch Julien thì Xuân Phân đến sớm hơn thực tế.
Năm 1582, khi Giáo Hội La Mã quyết định sử dụng lịch Grêgôriô thì người ta quyết định bắt lại 10 ngày đã trễ so với mặt trời, và như vậy, năm 1582, sau ngày 4 tháng 10 là đến ngay ngày 15 tháng 10. Thế là có một sai biệt 10 ngày giữa lịch Juliô và Grêgôriô. Rồi đến các năm 1700, 1800, 1900, thì lại thêm 1 ngày cách biệt. Như thế, hiện nay, lịch Juliô trễ hơn 13 ngày so với lịch Grêgôriô.
Ví dụ: Năm 1919, Nước Nga sử dụng lịch Grêgôriô thay cho lịch Juliô, nên họ phải nhảy từ thứ tư 31 tháng 1 sang ngày thứ năm 14 tháng 12. Do đó ‘Cách Mạng Tháng Mười’ (24 /10/1917 lịch Juliô) lại được mừng hàng năm vào tháng Muời Một (6/11 lịch Grêgôriô).
Tuy nhiên, các Giáo Hội Phương Đông vẫn dùng lịch Juliô để tính một số các ngày lễ, trong đó có Lễ Phục Sinh. Sự thay đổi lịch này còn nảy sinh một sự sai biệt khác liên quan đến Giáng Sinh. Năm 1800, ngày 25 tháng 12 trong lịch Julien tương đương với ngày 6 tháng 1 trong lịch Grêgôriô. Vì thế, Giáo Hội Phương Tây Mừng Lễ Giáng Sinh ngày 25 tháng 12, nhưng mừng ngày 6/1 là lễ Hiển Linh. Trong khi đó Giáo Hội Chính Thống vẫn mừng Lễ Giáng Sinh vào 6/1 hàng năm. (Hiện nay, mặc dù ngày 6/1 vẫn là lễ Hiển Linh trong GH công giáo, nhưng ngày lễ Giáng Sinh trong Giáo Hội Chính thống làngày 7/1).
Tuy nhiên sự khác biệt về các ngày trong hai lịch không phải là yếu tố duy nhất khiến cho ngày Lễ Phục Sinh không trùng với nhau ở hai Giáo Hội. Yếu tố thứ hai là cách tính ngày trăng tròn.
III. Mỗi lịch có một cách tính ngày trăng tròn khác nhau.
Lễ Phục Sinh còn tùy thuộc vào ngày trăng tròn mùa xuân, vì thế mà người ta muốn biết trước thật lâu ngày nào là ngày trăng tròn. Bởi lẽ không thể chờ đợi xem mặt trăng rồi mới xác định ngày, nên hai lịch có cách tính khác nhau.
Hai ngày trăng rằm cách nhau khoảng 29,53 ngày. Từ năm 433 trước Công Nguyên, Méton thành Athènes đã khám phá rằng 235 tuần trăng thì tương đương với 19 năm dương lịch. Thật vậy, một năm trung bình có 365,24 ngày và như thế 235 x 29,53 = 6939, 55 ngày, nghĩa là rất gần với 19 x 365,24 = 6939,56 ngày.
Vào khoảng năm 532, đan sĩ Denys le Petit sử dụng chu kỳ Méton để tính ngày rằm mỗi tháng trong vòng 19 năm rồi bắt đầu trở lại. Và vì thế mà có các tháng 29 và 30 ngày xen kẽ nhau. Thời gian đầu thì cách tính này khá chính xác, nhưng trên thực tế thì sau 19 năm dương lịch có sai biệt là 1giờ 29 phút so với 235 tuần trăng. Tuy sai biệt này là ít, nhưng sau 3 thế kỷ thì sai biệt giữa ngày rằm lý thuyết (theo lịch Juliô) và ngày rằm thực tế là 1 ngày. Và cách tính này đã kéo dài gần 1500 năm, vì thế cách tính ngày rằm theo lịch Juliô lại thêm một sai biệt 4 đến 5 ngày sao với lịch Grêgôriô (gần đúng với chu kỳ mặt trời hơn). Đó là lý do vì sao có sự khác biệt giữa hai cách tính ngày Lễ Phục Sinh của các Giáo Hội Phương Đông và Phương Tây.
Đọc thêm!
Lưu ý: Để cho gọn, bài viết giả tạm sử dụng (và chỉ có giá trị trong bài này thôi) cụm từ ‘Giáo Hội Phương Đông’ để chỉ định các Giáo Hội Chính Thống; và ‘Giáo Hội Phương Tây’ để chỉ định các Giáo Hội Công Giáo và Tin Lành.
I. Xác định Ngày Phục Sinh.
“Phục Sinh là ngày Chúa Nhật sau ngày 14 âm lịch, và đấy là ngày 21 tháng 3 hoặc ngày hôm sau.” Đấy là qui tắc mà Công Đồng Nicê đề ra năm 325, để xác định ngày mừng lễ Phục Sinh trong Giáo Hội Phương Đông cũng như Phương Tây. Như thế ta hiểu vì sao Chúa Nhật Phục Sinh không bao giờ có một ngày nhất định theo dương lịch. Và đối với Giáo Hội Tây Phương, ngày Chúa Nhật Phục Sinh sớm nhất là ngày 23 tháng 3 (nếu trăng tròn ngày 22, và chúa nhật ngày 23); và ngày trễ nhất là ngày 25 tháng 4 (nếu trăng tròn 28 ngày sau ngày 21 tháng3, và 6 ngày sau ngày trăng tròn mới đến chủ nhật). Ta cũng nghe nói một cách ngắn gọn hơn: “Phục Sinh là ngày Chúa Nhật đầu tiên sau ngày trăng tròn mùa xuân.”
Theo hai câu trên, thì phải xem ngày bắt đầu mùa xuân là ngày 21 tháng 3. Thế nhưng đối với các nhà thiên văn, mùa xuân bắt đầu vào ngày Xuân Phân, nghĩa là lúc mà ngày và đêm có độ dài bằng nhau. Vào thời Cộng Đồng Nicê, thì Xuân Phân rơi đúng vào ngày 21 tháng 3, nhưng dần dần (như ta sẽ thấy ở phần sau) hai ngày này không còn trùng nhau nữa.
Mặt khác, trên lý thuyết, phải xem là trăng tròn ở ngày thứ 14 kể từ ngày Xuân Phân.
Bởi lẽ ngày Phục Sinh được xét trên cùng một qui tắc, thế thì vì sao lễ Phục Sinh trong Giáo Hội Chính Thống lại ít khi trùng với lễ Phục Sinh trong Giáo Hội Công Giáo và Tin Lành? ..(Click Tiêu đề để đọc tiếp)
Có hai lý do:
1. Phương đông và phương tây sử dụng hai lịch khác nhau: Phương tây đã thay đổi lịch để đúng hơn với vòng xoay của mặt trời.
2. Không cách tính nào căn cứ vào ngày trăng tròn thực tế, mà theo một cách tính toán khác.
II. Ngày 21 tháng 3 không trùng nhau trên hai lịch.
Ngày Phục Sinh của Giáo Hội Đông Phương căn cứ theo lịch Juliô, còn Phương Tây thì sử dụng lịch Grêgôriô. Lịch Juliô do Juliô Xêsa lập ra năm 708 La Mã, nghĩa là năm 45 trước Công Nguyên. Đây là nguồn gốc của niên lịch quốc tế mà hiện nay mọi nơi đều sử dụng, được gọi là lịch Grêgôriô, vì do Đức Giáo Hoàng Grêgôriô XIII ấn định cho các xã hội công giáo La Mã vào năm 1582.
Sự khác biệt chủ yếu giữa hai lịch là cách xác định năm nhuần: Theo lịch Juliô, mọi năm chia chẳn cho 4 đều là năm nhuần; còn theo lịch Grêgôriô, chỉ những năm tận cùng bằng 00 (hai số không) mà chia chẳn cho 400 thì mới là năm nhuần. (Như vậy, năm 2000 là nhuần, các năm 1700, 1800, 1900 không phải là nhuần).
Lý do có sự cải cách này là vì năm Dương Lịch – từ Xuân Phân này đến Xuân Phân kia – kéo dài độ chừng 365,2422 ngày. Thế nhưng một năm trong lịch Juliô dài 365,25 ngày, còn đối với lịch Grêgôriô là 365,2425 ngày.
Khoảng cách 0,0078 ngày (0,2500 – 0,2422) là một thời gian rất nhỏ, nhưng sau 400 năm thì cũng đã trở thành 0,0078 x 400 nghĩa là 3,12 ngày. Như vậy, lịch Juliô, sau 400 năm, lại chậm thêm hơn 3 ngày so với mặt trời. Do đó, theo lịch Julien thì Xuân Phân đến sớm hơn thực tế.
Năm 1582, khi Giáo Hội La Mã quyết định sử dụng lịch Grêgôriô thì người ta quyết định bắt lại 10 ngày đã trễ so với mặt trời, và như vậy, năm 1582, sau ngày 4 tháng 10 là đến ngay ngày 15 tháng 10. Thế là có một sai biệt 10 ngày giữa lịch Juliô và Grêgôriô. Rồi đến các năm 1700, 1800, 1900, thì lại thêm 1 ngày cách biệt. Như thế, hiện nay, lịch Juliô trễ hơn 13 ngày so với lịch Grêgôriô.
Ví dụ: Năm 1919, Nước Nga sử dụng lịch Grêgôriô thay cho lịch Juliô, nên họ phải nhảy từ thứ tư 31 tháng 1 sang ngày thứ năm 14 tháng 12. Do đó ‘Cách Mạng Tháng Mười’ (24 /10/1917 lịch Juliô) lại được mừng hàng năm vào tháng Muời Một (6/11 lịch Grêgôriô).
Tuy nhiên, các Giáo Hội Phương Đông vẫn dùng lịch Juliô để tính một số các ngày lễ, trong đó có Lễ Phục Sinh. Sự thay đổi lịch này còn nảy sinh một sự sai biệt khác liên quan đến Giáng Sinh. Năm 1800, ngày 25 tháng 12 trong lịch Julien tương đương với ngày 6 tháng 1 trong lịch Grêgôriô. Vì thế, Giáo Hội Phương Tây Mừng Lễ Giáng Sinh ngày 25 tháng 12, nhưng mừng ngày 6/1 là lễ Hiển Linh. Trong khi đó Giáo Hội Chính Thống vẫn mừng Lễ Giáng Sinh vào 6/1 hàng năm. (Hiện nay, mặc dù ngày 6/1 vẫn là lễ Hiển Linh trong GH công giáo, nhưng ngày lễ Giáng Sinh trong Giáo Hội Chính thống làngày 7/1).
Tuy nhiên sự khác biệt về các ngày trong hai lịch không phải là yếu tố duy nhất khiến cho ngày Lễ Phục Sinh không trùng với nhau ở hai Giáo Hội. Yếu tố thứ hai là cách tính ngày trăng tròn.
III. Mỗi lịch có một cách tính ngày trăng tròn khác nhau.
Lễ Phục Sinh còn tùy thuộc vào ngày trăng tròn mùa xuân, vì thế mà người ta muốn biết trước thật lâu ngày nào là ngày trăng tròn. Bởi lẽ không thể chờ đợi xem mặt trăng rồi mới xác định ngày, nên hai lịch có cách tính khác nhau.
Hai ngày trăng rằm cách nhau khoảng 29,53 ngày. Từ năm 433 trước Công Nguyên, Méton thành Athènes đã khám phá rằng 235 tuần trăng thì tương đương với 19 năm dương lịch. Thật vậy, một năm trung bình có 365,24 ngày và như thế 235 x 29,53 = 6939, 55 ngày, nghĩa là rất gần với 19 x 365,24 = 6939,56 ngày.
Vào khoảng năm 532, đan sĩ Denys le Petit sử dụng chu kỳ Méton để tính ngày rằm mỗi tháng trong vòng 19 năm rồi bắt đầu trở lại. Và vì thế mà có các tháng 29 và 30 ngày xen kẽ nhau. Thời gian đầu thì cách tính này khá chính xác, nhưng trên thực tế thì sau 19 năm dương lịch có sai biệt là 1giờ 29 phút so với 235 tuần trăng. Tuy sai biệt này là ít, nhưng sau 3 thế kỷ thì sai biệt giữa ngày rằm lý thuyết (theo lịch Juliô) và ngày rằm thực tế là 1 ngày. Và cách tính này đã kéo dài gần 1500 năm, vì thế cách tính ngày rằm theo lịch Juliô lại thêm một sai biệt 4 đến 5 ngày sao với lịch Grêgôriô (gần đúng với chu kỳ mặt trời hơn). Đó là lý do vì sao có sự khác biệt giữa hai cách tính ngày Lễ Phục Sinh của các Giáo Hội Phương Đông và Phương Tây.
Đọc thêm!
Công thức tính ngày Lễ Phục Sinh
Công thức này trong cuốn sách "Formulas and Functions with Micorsoft Excel 2007", nhưng người ta chỉ đưa ra cho xem mà không giải thích chi hết.
Trước tiên tôi xin nói về cách tính ngày Lễ Phục Sinh, đây là một ngày Chủ Nhật nhưng không cố định là một ngày nào, mà theo quy tắc sau:
Lễ Phục Sinh là ngày Chủ Nhật đầu tiên sau ngày Rằm đầu tiên sau ngày Xuân Phân
(Easter falls on the first Sunday after the first ecclesiastical full moon after the spring equinox)
Và đây là công thức tính của nó:
= FLOOR(DAY(MINUTE(A1 / 38) / 2 + 56) & "/5/" & A1, 7) - 34
Trong đó, A1 là năm hiện hành. Ví dụ (tôi đã kiểm tra theo Lịch Công Giáo và thấy nó rất chính xác):
A1 = 2006, kết quả là ngày 16/4/2006
A1 = 2007, kết quả là ngày 08/4/2007
A1 = 2008, kết quả là ngày 23/3/2008
Người ta còn nói thêm: Công thức này chỉ đúng trong khoảng thời gian từ năm 1900 đến năm 2078, và định dạng của ngày tháng là dd/mm/yyyy.
Vậy, nhờ các bạn giải thích dùm các con số tôi in đậm trong công thức như sau đây:
= FLOOR(DAY(MINUTE(A1 / 38) / 2 + 56) & “/5/” & A1, 7) - 34
Những con số 38, 2, 56, (tháng) 5, làm tròn (hàm FLOOR) đến 7, và 34 ? Do đâu mà có những con số này? Tại sao không là con số khác?
theo http://www.giaiphapexcel.com Đọc thêm!
Trước tiên tôi xin nói về cách tính ngày Lễ Phục Sinh, đây là một ngày Chủ Nhật nhưng không cố định là một ngày nào, mà theo quy tắc sau:
Lễ Phục Sinh là ngày Chủ Nhật đầu tiên sau ngày Rằm đầu tiên sau ngày Xuân Phân
(Easter falls on the first Sunday after the first ecclesiastical full moon after the spring equinox)
Và đây là công thức tính của nó:
= FLOOR(DAY(MINUTE(A1 / 38) / 2 + 56) & "/5/" & A1, 7) - 34
Trong đó, A1 là năm hiện hành. Ví dụ (tôi đã kiểm tra theo Lịch Công Giáo và thấy nó rất chính xác):
A1 = 2006, kết quả là ngày 16/4/2006
A1 = 2007, kết quả là ngày 08/4/2007
A1 = 2008, kết quả là ngày 23/3/2008
Người ta còn nói thêm: Công thức này chỉ đúng trong khoảng thời gian từ năm 1900 đến năm 2078, và định dạng của ngày tháng là dd/mm/yyyy.
Vậy, nhờ các bạn giải thích dùm các con số tôi in đậm trong công thức như sau đây:
= FLOOR(DAY(MINUTE(A1 / 38) / 2 + 56) & “/5/” & A1, 7) - 34
Những con số 38, 2, 56, (tháng) 5, làm tròn (hàm FLOOR) đến 7, và 34 ? Do đâu mà có những con số này? Tại sao không là con số khác?
theo http://www.giaiphapexcel.com Đọc thêm!
Chủ Nhật, 12 tháng 4, 2009
Thứ tư Lễ Tro
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trong lịch Kitô giáo Tây phương, Thứ tư Lễ Tro là ngày khởi đầu cho Mùa Chay. Mùa này kéo dài đúng bốn mươi ngày trước Lễ Phục sinh. Thường thì Thứ tư Lễ Tro không cố định theo từng năm vì phụ thuộc vào ngày Lễ Phục sinh, nó có thể xảy ra trong khoảng ngày 4 tháng 2 đến 10 tháng 3 Tây lịch. Trong suốt ngày Thứ tư này, một số phái Kitô giáo buộc tín đồ phải ăn chay, như Công giáo Rôma.
Khi tham dự Thánh lễ Tro, tín đồ được xức tro trên đầu với ý niệm "con người xuất thân từ tro bụi và cũng sẽ trở về tro bụi" dựa trên nền tảng bản văn Kinh Thánh sau:
"...Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn, cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, ngươi đã được lấy ra. Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất." (Sách Sáng thế 3:15)
Loại tro này được lấy từ việc đốt lá mà được dùng trong Chúa nhật Lễ Lá năm trước. Một số nơi tro còn được trộn với dầu dùng trong việc rửa tội. Đọc thêm!
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trong lịch Kitô giáo Tây phương, Thứ tư Lễ Tro là ngày khởi đầu cho Mùa Chay. Mùa này kéo dài đúng bốn mươi ngày trước Lễ Phục sinh. Thường thì Thứ tư Lễ Tro không cố định theo từng năm vì phụ thuộc vào ngày Lễ Phục sinh, nó có thể xảy ra trong khoảng ngày 4 tháng 2 đến 10 tháng 3 Tây lịch. Trong suốt ngày Thứ tư này, một số phái Kitô giáo buộc tín đồ phải ăn chay, như Công giáo Rôma.
Khi tham dự Thánh lễ Tro, tín đồ được xức tro trên đầu với ý niệm "con người xuất thân từ tro bụi và cũng sẽ trở về tro bụi" dựa trên nền tảng bản văn Kinh Thánh sau:
"...Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn, cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, ngươi đã được lấy ra. Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất." (Sách Sáng thế 3:15)
Loại tro này được lấy từ việc đốt lá mà được dùng trong Chúa nhật Lễ Lá năm trước. Một số nơi tro còn được trộn với dầu dùng trong việc rửa tội. Đọc thêm!
Lễ Ngũ Tuần
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Lễ Ngũ Tuần, hay lễ Hiện xuống, lễ Giáng xuống, lễ Hạ trần, là một ngày lễ của Kitô giáo, và là ngày thứ năm mươi kể từ sau ngày lễ Phục sinh. Tên gọi ngày lễ này trong tiếng Hy Lạp nghĩa là ngày thứ năm mươi, và đây cũng là lý do cho tên gọi tiếng Việt - Ngũ Tuần (tuần ở đây được hiểu là khoảng thời gian mười ngày).
Ngày lễ này còn được gọi là ngày Hội mùa, vì nó đánh dấu một mùa thu hoạch sắp tới. Tại nhà thờ, ngày lễ này họ dâng lên bàn thờ Chúa những ổ bánh mì từ những hạt lúa mì đầu tiên.
Đối với người Do Thái, ngày lễ này là ngày lễ rất lớn, vì nó đánh dấu mốc thời gian Thiên Chúa giải phóng họ khỏi ách nô lệ Ai Cập.
Theo luật thì những người Công giáo không được làm việc ăn công, lương vào ngày này.
Nhưng, quan trọng hơn, người ta kỉ niệm ngày lễ này với ý nghĩa rằng đây là dịp các thần linh xuống trần, sau Phục sinh, ngày này là ngày giáng trần đầu tiên mang đến những tín hiệu tốt lành và niềm tin vào sự sống. Tên gọi ngày lễ này trong một số nước châu Âu còn có nghĩa là phép thần trị bệnh - vào dịp lễ người ta mong ước và chúc cho nhau mọi bệnh tật sẽ qua khỏi. Đọc thêm!
Lễ Ngũ Tuần, hay lễ Hiện xuống, lễ Giáng xuống, lễ Hạ trần, là một ngày lễ của Kitô giáo, và là ngày thứ năm mươi kể từ sau ngày lễ Phục sinh. Tên gọi ngày lễ này trong tiếng Hy Lạp nghĩa là ngày thứ năm mươi, và đây cũng là lý do cho tên gọi tiếng Việt - Ngũ Tuần (tuần ở đây được hiểu là khoảng thời gian mười ngày).
Ngày lễ này còn được gọi là ngày Hội mùa, vì nó đánh dấu một mùa thu hoạch sắp tới. Tại nhà thờ, ngày lễ này họ dâng lên bàn thờ Chúa những ổ bánh mì từ những hạt lúa mì đầu tiên.
Đối với người Do Thái, ngày lễ này là ngày lễ rất lớn, vì nó đánh dấu mốc thời gian Thiên Chúa giải phóng họ khỏi ách nô lệ Ai Cập.
Theo luật thì những người Công giáo không được làm việc ăn công, lương vào ngày này.
Nhưng, quan trọng hơn, người ta kỉ niệm ngày lễ này với ý nghĩa rằng đây là dịp các thần linh xuống trần, sau Phục sinh, ngày này là ngày giáng trần đầu tiên mang đến những tín hiệu tốt lành và niềm tin vào sự sống. Tên gọi ngày lễ này trong một số nước châu Âu còn có nghĩa là phép thần trị bệnh - vào dịp lễ người ta mong ước và chúc cho nhau mọi bệnh tật sẽ qua khỏi. Đọc thêm!
Cây Giáng sinh
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Lịch sử
Truyền thuyết về thánh Boniface, một thầy tu người Anh, người đã sáng lập ra nhà thờ đạo Cơ Đốc ở Pháp và Đức kể rằng, một hôm trên đường hành hương ngài tình cờ bắt gặp một nhóm những kẻ ngoại đạo sùng bái đang tập trung quanh một cây sồi lớn, dùng một đứa trẻ để tế thần. Để dừng buổi tế thần và cứu đứa trẻ, Boniface đã hạ gục cây sồi chỉ bằng một quả đấm!. Tại nơi đó đã mọc lên một cây thông nhỏ. Vị thánh nói với những kẻ ngoại đạo rằng cây thông nhỏ là cây của sự sống và nó tượng trưng cho cuộc sống vĩnh hằng của Chúa cứu thế.
(Click Tiêu đề để đọc tiếp)
Tương truyền, một lần thánh Martin Luther, người sáng lập đạo Tin Lành dạo bước qua những cánh rừng vào một đêm Noel khoảng năm 1500. Trời quang và lạnh. Hàng triệu vì sao sáng lấp lánh qua kẽ lá. Ngài thực sự ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của một loài cây nhỏ, trên cành cây tuyết trắng phủ đầy, lung linh dưới ánh trăng. Cảnh vật hôm đó đã làm Luther thực sự rung động. Vì thế, khi trở về ngài đã đặt một cây thông nhỏ trong nhà và kể lại câu chuyện này với lũ trẻ. Để tái tạo ánh sáng lấp lánh của muôn ngàn ánh sao ngài đã treo nến lên cành cây thông và thắp sáng những ngọn nến ấy với lòng tôn kính ngày Chúa giáng sinh.
Một truyền thuyết khác lại kể rằng, vào một đêm Noel đã rất lâu rồi có một người tiều phu nghèo khổ đang trên đường trở về nhà thì gặp một đứa trẻ bị lạc và lả đi vì đói. Mặc dù nghèo khó nhưng người tiều phu đã dành lại cho đứa trẻ chút thức ăn ít ỏi của mình và che chở cho nó yên giấc qua đêm. Vào buổi sáng khi thức dậy, ông nhìn thấy một cái cây đẹp lộng lẫy ngoài cửa. Hoá ra đứa trẻ đói khát tối hôm trước chính là Chúa cải trang. Chúa đã tạo ra cây để thưởng cho lòng nhân đức của người tiều phu tốt bụng.
Nguồn gốc thực của cây Giáng sinh có thể gắn liền với những vở kịch thiên đường. Vào thời Trung Cổ, những vở kịch về đạo đứcđược biểu diễn khắp Châu Âu, thông qua các vở kịch ấy người ta có thể truyền bá các bài kinh thánh. Những vở kịch nói về nguồn gốc của loài người và sự dại dột của Adam và Eve ở vườn Eden, thường được diễn vào ngày 24 tháng 12 hàng năm. Cây táo là một đạo cụ trong vở kịch, nhưng vì các vở kịch được diễn vào mùa đông, các loài cây đều chưa kết trái nên các diễn viên phải treo những quả táo giả lên cành cây.
Phong tục cây Giáng sinh trở nên phổ biến ở Đức vào thế kỷ 16. Người theo đạo Cơ đốc mang cây xanh vào trong nhà và trang hoàng cho chúng trong dịp lễ Giáng sinh. ở những vùng vắng bóng cây xanh, mọi người tạo ra các đồ vật hình chóp từ gỗ và trang trí cho nó các cành cây xanh và nến. Chẳng bao lâu sau, phong tục cây Giáng sinh đã trở nên phổ biến ở các nước Châu Âu.
Theo một truyền thuyết của nước Mỹ, một cuộc vui tổ chức xung quanh cây Giáng sinh vào một đêm Noel lạnh lẽo ở Trenton, New Jersey trong thời gian nội chiến đã làm thay đổi cục diện cuộc chiến. Những người lính phe Liên Bang quá nhớ nhà, nhớ những ngọn nến được thắp sáng treo trên các cành thông Giáng sinh, đã bỏ nơi canh gác để ăn uống vui vẻ. Washington đã tấn công và đánh bại họ trong đêm đó.
Vào giữa thế kỷ 19, Hoàng tử Albert chồng tương lai của nữ hoàng Victoria ra đời. Chính ông đã phổ biến rộng rãi phong tục cây Giáng sinh vào nước Anh. Năm 1841, đôi vợ chồng Hoàng gia này đã trang hoàng cây Giáng sinh đầu tiên của nước Anh tại lâu đài Windson bằng nến cùng với rất nhiều loại kẹo, hoa quả và bánh mỳ gừng. Khi cây Giáng sinh trở thành thời thượng ở Anh thì những gia đình giàu có đã dùng tất cả những đồ vật quý giá để trang trí cho nó. Vào những năm 1850, theo sự mô tả của đại văn hào Charles Dickens thì cây Giáng sinh ở Anh được trang hoàng bằng búp bê, những vật dụng nhỏ bé, các thiết bị âm nhạc, đồ trang sức, súng và gươm đồ chơi, hoa quả và bánh kẹo. Sau khi đã tồn tại ở Anh thì phong tục cây Noel cũng trở nên phổ biến trên khắp các vùng thuộc địa của đế chế Anh, tới cả những vùng đất mới như Canada.
Cây Giáng sinh lần đầu tiên được dân chúng ở Mỹ biết đến là vào những năm 1830. Khi hầu hết người dân Mỹ đều coi cây Giáng sinh là một điều kỳ cục thì những người Đức nhập cư ở Pennsylvania thường mang cây Giáng sinh vào các buổi biểu diễn nhằm tăng tiền quyên góp cho nhà thờ. Năm 1851 một mục sư người Đức đặt một cây Giáng sinh trước nhà thờ của ông làm cho những người dân xứ đạo ở đó đã bị xúc phạm và buộc ông phải hạ nó xuống. Họ cảm thấy đó là một phong tục ngoại đạo.
Tuy nhiên vào những năm 1890 nhiều đồ trang trí bắt đầu được nhập từ Đức vào và từ đó tục lệ về cây Giáng sinh trở nên phổ biến tại Canada và Mỹ. Có một sự khác biệt lớn giữa cây Giáng sinh của Châu Âu và Bắc Mỹ, cây của Châu Âu nhỏ, hiếm khi cao hơn một mét rưỡi, chỉ khoảng 4 hoặc 5 feet trong khi cây của Bắc Mỹ cao tới trần nhà.
Năm 1900, cứ 5 gia đình ở Bắc Mỹ thì có một gia đình có cây Giáng sinh, và 20 năm sau phong tục này trở nên khá phổ biến. Vào những năm đầu thế kỷ 20, người dân Bắc Mỹ thường trang trí cây thông bằng đồ trang trí do chính tay họ làm ra. Đồ trang trí truyền thống của người Ca-na-đa và người Mỹ gốc Đức gồm có quả hạnh nhân, quả hạch, bánh hạnh nhân với nhiều hình dạng thú vị khác nhau. Những hạt bắp chiên nhiều màu sắc, được trang trí cùng những quả phúc bồn tử và các chuỗi hạt. Cũng vào thời gian này bắt đầu xuất hiện những dây đèn trang trí trên cây Giáng sinh, nhờ nó cây thông rực rỡ hơn nhiều lần. ánh sáng trang trí bằng đèn điện kéo dài hơn và an toàn hơn rất nhiều so với ánh sáng toả ra từ những ngọn nến.
Mỗi năm khi ngày Giáng sinh tới, một cây Giáng sinh lộng lẫy được đặt tại quảng trường trung tâm Bentall thành phố Vancouver, phía nam BritishColumbia. Và dân chúng tập trung xung quanh cây Giáng sinh đầu tiên vừa được dựng lên và chưa được trang hoàng lộng lẫy kia. rồi ở cuối thành phố cây thông sáng bỗng bừng lên với muôn vàn ánh đèn đầy màu sắc, cùng lúc đó đội hợp xướng nhà thờ ca vang bài hát mừng lễ Giáng sinh. Tại ngọn đồi Parliament ở Ottawa, một cây Giáng sinh rực rỡ ánh đèn màu được đặt cạnh ngọn đuốc thế kỷ của Canada cùng với âm vị ngọt ngào của giai điệu Giáng sinh tuyệt vời từ tháp Hoà Bình Carillon vang đến...
Phần còn lại
Đọc thêm!
Lịch sử
Truyền thuyết về thánh Boniface, một thầy tu người Anh, người đã sáng lập ra nhà thờ đạo Cơ Đốc ở Pháp và Đức kể rằng, một hôm trên đường hành hương ngài tình cờ bắt gặp một nhóm những kẻ ngoại đạo sùng bái đang tập trung quanh một cây sồi lớn, dùng một đứa trẻ để tế thần. Để dừng buổi tế thần và cứu đứa trẻ, Boniface đã hạ gục cây sồi chỉ bằng một quả đấm!. Tại nơi đó đã mọc lên một cây thông nhỏ. Vị thánh nói với những kẻ ngoại đạo rằng cây thông nhỏ là cây của sự sống và nó tượng trưng cho cuộc sống vĩnh hằng của Chúa cứu thế.
(Click Tiêu đề để đọc tiếp)
Tương truyền, một lần thánh Martin Luther, người sáng lập đạo Tin Lành dạo bước qua những cánh rừng vào một đêm Noel khoảng năm 1500. Trời quang và lạnh. Hàng triệu vì sao sáng lấp lánh qua kẽ lá. Ngài thực sự ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của một loài cây nhỏ, trên cành cây tuyết trắng phủ đầy, lung linh dưới ánh trăng. Cảnh vật hôm đó đã làm Luther thực sự rung động. Vì thế, khi trở về ngài đã đặt một cây thông nhỏ trong nhà và kể lại câu chuyện này với lũ trẻ. Để tái tạo ánh sáng lấp lánh của muôn ngàn ánh sao ngài đã treo nến lên cành cây thông và thắp sáng những ngọn nến ấy với lòng tôn kính ngày Chúa giáng sinh.
Một truyền thuyết khác lại kể rằng, vào một đêm Noel đã rất lâu rồi có một người tiều phu nghèo khổ đang trên đường trở về nhà thì gặp một đứa trẻ bị lạc và lả đi vì đói. Mặc dù nghèo khó nhưng người tiều phu đã dành lại cho đứa trẻ chút thức ăn ít ỏi của mình và che chở cho nó yên giấc qua đêm. Vào buổi sáng khi thức dậy, ông nhìn thấy một cái cây đẹp lộng lẫy ngoài cửa. Hoá ra đứa trẻ đói khát tối hôm trước chính là Chúa cải trang. Chúa đã tạo ra cây để thưởng cho lòng nhân đức của người tiều phu tốt bụng.
Nguồn gốc thực của cây Giáng sinh có thể gắn liền với những vở kịch thiên đường. Vào thời Trung Cổ, những vở kịch về đạo đứcđược biểu diễn khắp Châu Âu, thông qua các vở kịch ấy người ta có thể truyền bá các bài kinh thánh. Những vở kịch nói về nguồn gốc của loài người và sự dại dột của Adam và Eve ở vườn Eden, thường được diễn vào ngày 24 tháng 12 hàng năm. Cây táo là một đạo cụ trong vở kịch, nhưng vì các vở kịch được diễn vào mùa đông, các loài cây đều chưa kết trái nên các diễn viên phải treo những quả táo giả lên cành cây.
Phong tục cây Giáng sinh trở nên phổ biến ở Đức vào thế kỷ 16. Người theo đạo Cơ đốc mang cây xanh vào trong nhà và trang hoàng cho chúng trong dịp lễ Giáng sinh. ở những vùng vắng bóng cây xanh, mọi người tạo ra các đồ vật hình chóp từ gỗ và trang trí cho nó các cành cây xanh và nến. Chẳng bao lâu sau, phong tục cây Giáng sinh đã trở nên phổ biến ở các nước Châu Âu.
Theo một truyền thuyết của nước Mỹ, một cuộc vui tổ chức xung quanh cây Giáng sinh vào một đêm Noel lạnh lẽo ở Trenton, New Jersey trong thời gian nội chiến đã làm thay đổi cục diện cuộc chiến. Những người lính phe Liên Bang quá nhớ nhà, nhớ những ngọn nến được thắp sáng treo trên các cành thông Giáng sinh, đã bỏ nơi canh gác để ăn uống vui vẻ. Washington đã tấn công và đánh bại họ trong đêm đó.
Vào giữa thế kỷ 19, Hoàng tử Albert chồng tương lai của nữ hoàng Victoria ra đời. Chính ông đã phổ biến rộng rãi phong tục cây Giáng sinh vào nước Anh. Năm 1841, đôi vợ chồng Hoàng gia này đã trang hoàng cây Giáng sinh đầu tiên của nước Anh tại lâu đài Windson bằng nến cùng với rất nhiều loại kẹo, hoa quả và bánh mỳ gừng. Khi cây Giáng sinh trở thành thời thượng ở Anh thì những gia đình giàu có đã dùng tất cả những đồ vật quý giá để trang trí cho nó. Vào những năm 1850, theo sự mô tả của đại văn hào Charles Dickens thì cây Giáng sinh ở Anh được trang hoàng bằng búp bê, những vật dụng nhỏ bé, các thiết bị âm nhạc, đồ trang sức, súng và gươm đồ chơi, hoa quả và bánh kẹo. Sau khi đã tồn tại ở Anh thì phong tục cây Noel cũng trở nên phổ biến trên khắp các vùng thuộc địa của đế chế Anh, tới cả những vùng đất mới như Canada.
Cây Giáng sinh lần đầu tiên được dân chúng ở Mỹ biết đến là vào những năm 1830. Khi hầu hết người dân Mỹ đều coi cây Giáng sinh là một điều kỳ cục thì những người Đức nhập cư ở Pennsylvania thường mang cây Giáng sinh vào các buổi biểu diễn nhằm tăng tiền quyên góp cho nhà thờ. Năm 1851 một mục sư người Đức đặt một cây Giáng sinh trước nhà thờ của ông làm cho những người dân xứ đạo ở đó đã bị xúc phạm và buộc ông phải hạ nó xuống. Họ cảm thấy đó là một phong tục ngoại đạo.
Tuy nhiên vào những năm 1890 nhiều đồ trang trí bắt đầu được nhập từ Đức vào và từ đó tục lệ về cây Giáng sinh trở nên phổ biến tại Canada và Mỹ. Có một sự khác biệt lớn giữa cây Giáng sinh của Châu Âu và Bắc Mỹ, cây của Châu Âu nhỏ, hiếm khi cao hơn một mét rưỡi, chỉ khoảng 4 hoặc 5 feet trong khi cây của Bắc Mỹ cao tới trần nhà.
Năm 1900, cứ 5 gia đình ở Bắc Mỹ thì có một gia đình có cây Giáng sinh, và 20 năm sau phong tục này trở nên khá phổ biến. Vào những năm đầu thế kỷ 20, người dân Bắc Mỹ thường trang trí cây thông bằng đồ trang trí do chính tay họ làm ra. Đồ trang trí truyền thống của người Ca-na-đa và người Mỹ gốc Đức gồm có quả hạnh nhân, quả hạch, bánh hạnh nhân với nhiều hình dạng thú vị khác nhau. Những hạt bắp chiên nhiều màu sắc, được trang trí cùng những quả phúc bồn tử và các chuỗi hạt. Cũng vào thời gian này bắt đầu xuất hiện những dây đèn trang trí trên cây Giáng sinh, nhờ nó cây thông rực rỡ hơn nhiều lần. ánh sáng trang trí bằng đèn điện kéo dài hơn và an toàn hơn rất nhiều so với ánh sáng toả ra từ những ngọn nến.
Mỗi năm khi ngày Giáng sinh tới, một cây Giáng sinh lộng lẫy được đặt tại quảng trường trung tâm Bentall thành phố Vancouver, phía nam BritishColumbia. Và dân chúng tập trung xung quanh cây Giáng sinh đầu tiên vừa được dựng lên và chưa được trang hoàng lộng lẫy kia. rồi ở cuối thành phố cây thông sáng bỗng bừng lên với muôn vàn ánh đèn đầy màu sắc, cùng lúc đó đội hợp xướng nhà thờ ca vang bài hát mừng lễ Giáng sinh. Tại ngọn đồi Parliament ở Ottawa, một cây Giáng sinh rực rỡ ánh đèn màu được đặt cạnh ngọn đuốc thế kỷ của Canada cùng với âm vị ngọt ngào của giai điệu Giáng sinh tuyệt vời từ tháp Hoà Bình Carillon vang đến...
Phần còn lại
Đọc thêm!
Lễ Giáng sinh
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Lễ Giáng sinh, còn được gọi là lễ Thiên Chúa giáng sinh, Nô-el, hay Nô-en (từ tiếng Pháp Noël, là viết tắt từ gốc Emmanuel, nghĩa là "Thiên Chúa ở cùng chúng ta") là một ngày lễ kỷ niệm ngày Chúa Giê-su thành Nazareth sinh ra đời của phần lớn người Cơ Đốc giáo. Họ tin là Giê-su được sinh tại Bethlehem thuộc tỉnh Judea của Đế quốc La Mã giữa năm 6 TCN và năm 6.
Một số nước ăn mừng ngày này vào 25 tháng 12, một số nước lại vào tối ngày 24 tháng 12. Theo Công giáo Rôma, lễ chính thức là ngày 25 tháng 12 còn gọi là "lễ chính ngày", còn lễ đêm 24 tháng 12 gọi là "lễ vọng". Dù vậy, lễ đêm 24 tháng 12 thường thu hút tin đồ tham dự nhiều hơn. Những người theo Chính Thống giáo Đông phương vẫn sử dụng lịch Julius để định ngày này, cho nên họ tổ chức lễ Giáng sinh vào ngày 7 tháng 1 theo lịch Gregory...(Click Tiêu đề để đọc tiếp)
I/Biểu tượng Giáng sinh và ý nghĩa
1/Vòng lá mùa vọng
Vòng lá mùa vọng là vòng tròn kết bằng cành lá xanh thường được đặt trên bàn hay treo lên cao để mọi người trông thấy. Cây xanh thường được trang hoàng trong các bữa tiệc của dịp Đông chí - dấu hiệu của mùa đông sắp kết thúc. Trên vòng lá đặt 4 cây nến. Tục lệ này khởi xướng bởi các tín hữu Pháo Lutheran ở Đức vào thế kỷ 16 để nói lên sự giao tranh giữa ánh sáng và bóng tối.
Vòng lá có hình tròn nói lên tính cách vĩnh hằng và tình yêu thương vô tận của Thiên Chúa. Màu xanh lá nói lên hi vọng rằng Đấng Cứu Thế sẽ đến cứu con người. 4 cây nến bao gồm ba cây màu tím - màu của Mùa Vọng, cây thứ 3 là màu hồng, là màu của Chúa Nhật thứ Ba mùa Vọng, hay còn gọi là Chúa Nhật Vui mừng (Gaudete Sunday).
2/Thiệp Giáng sinh
Bắt nguồn từ năm 1843 khi ông Henry Cole, một thương gia giàu có nước Anh, đã nhờ Horsley, một họa sỹ ở London, thiết kế một tấm thiệp thật đẹp để tặng bạn bè. Vào Noel năm đó, Horsley trình làng tấm thiệp đầu tiên trên thế giới và sau đó nó đã in ra 1000 bản. Thiệp Giáng sinh nhanh chóng bùng phát và trở thành mốt thịnh hành ở Anh trong suốt 10 năm kể từ khi Chính phủ Anh thông qua đạo luật năm 1846 cho phép bất kì người dân nào gửi thư đến bất kỳ nơi nào với giá rẻ. Không lâu sau, trào lưu này du nhập sang Đức và tới 30 năm sau người Mỹ mới chấp nhận nó.
II/Những câu chuyện về Giáng sinh và ông già Nô-en
Những món quà biểu lộ tình yêu của mọi người với gia đình và bè bạn. Đối với một số người, những món quà Giáng Sinh còn có một ý nghĩa tín ngưỡng sâu sắc. Đó là lễ kỷ niệm ngày sinh của Chúa Giê-su, món quà mà Thiên chúa đã ban tặng cho con người.
Khi Chúa Giê-su cất tiếng khóc chào đời tại Bethlehem trong một cái máng cỏ, ba vị vua phương Đông đã đến để bày tỏ sự thành kính của mình. Họ mang đến ba món quà quý giá, đó là vàng, trầm hương và chất nhựa thơm. Vàng tượng trưng cho vương quốc của Giê-su, trầm hương tượng trưng cho linh hồn của Giê-su và chất nhựa thơm biểu hiện hình ảnh Giê-su bị đóng đinh trên cây thánh giá.
Ba vị vua rất giàu có nhưng những người dân nghèo hầu như chẳng có tài sản cũng mang đến bất cứ những gì họ có thể để tỏ lòng thành kính với Chúa Hài đồng. Những người chăn cừu tặng Giê-su hoa quả và những món đồ chơi nhỏ do chính họ tạo ra.
1/Ông già Noel (có thể viết là Ông già Nô-en) là nhân vật đóng vai trò như là một nhân tố gắn liền với mùa Lễ Giáng Sinh, giống như cây thông Noel. Hình ảnh tiêu biểu của ông già Noel là một ông già mặc bộ đồ màu đỏ viền trắng, thắt lưng da đen, đội chiếc nón đỏ với chòm râu dài trắng, bộ mặt hóm hỉnh, tiếng cười "hô hô hô", tồn tại trong nhiều văn hoá, đặc biệt ở các nước phương Tây. Truyền thuyết cho rằng ông già Noel sinh sống tại Bắc Cực với những người lùn. Ông dành đa số thời gian để chuẩn bị quà, đồ chơi cho trẻ em với sự giúp đỡ của những chú lùn. Vào dịp Giáng Sinh, ông nhận được rất nhiều thư từ trẻ em khắp thế giới. Và mỗi đêm Giáng Sinh, ông lại bắt đầu cuộc hành trình của mình với cỗ xe kéo bởi tám con tuần lộc để mang quà và đồ chơi cho các thiếu nhi.
2/Tên gọi
# Người Hà Lan gọi Thánh Nicholas là Sinter Klass, sau này đọc thành Santa Claus
# Trong tiếng Anh, Ông già Noel được gọi là Santa Claus (Thánh Nicolas), xuất phát từ truyền thuyết về một nhân vật có thật, sống ở thế kỷ thứ 4 tên là Nicolas
# Tiếng Pháp gọi là Le Père Noel (Cha Noel) vì liên hệ nhiều đến lễ Noel
# Trong tiếng Việt, do không hiểu rõ nguồn gốc, thấy hình ảnh cụ già râu tóc bạc phơ xuất hiện vào Noel thì gọi là "Ông già Noel", nhiều khi còn được gọi là "Ông già Tuyết
3/Xuất thân
Người ta (đặc biệt là trẻ em) cho rằng Ông già Noel sống và làm việc ở Bắc Cực, nhiều bộ phim nổi tiếng của Hollywood như The Polar Express lại càng củng cố niềm tin thơ ngây này. Các quốc gia ở Bắc Âu như: Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy, Iceland, Phần Lan đều tự nhận rằng xưởng chế tạo đồ chơi của ông già Noel nằm ở quốc gia họ.
Ngày nay, người ta chấp nhận Ông già Noel là hóa thân của Thánh Nicolas ở thành Myra, Thổ Nhĩ Kỳ. Nhiều sử gia cho rằng hình ảnh đầu tiên về Ông già Noel xuất hiện trong một bài thơ có tên: A visit from Saint Nicholas (Chuyến thăm của Thánh Nicholas) được xuất bản năm 1823. Còn hình ảnh một ông già phúc hậu, với một bộ râu trắng dài trong bộ đồ màu đỏ có viền trắng thì xuất hiện đầu tiên trên báo vào năm 1860 qua nét bút tưởng tượng của nghệ sỹ Thomas Nast.
4/Ông già Noel ở Lapland, Phần Lan
So với những quốc gia Bắc Âu được cho là xuất xứ của ông già Noel, Phần Lan có vẻ được biết đến nhiều hơn hết. Là một đất nước nổi tiếng về du lịch mùa đông và tuyết, cùng những món ăn đặc sản như cá hồi và thịt tuần lộc, ông già Noel cũng là biểu tượng văn hóa du lịch của Phần Lan. Người ta cho rằng ông già Noel cư ngụ tại Lapland, miền Bắc Phần Lan. Thành phố Rovaniemi, thủ đô của vùng Lapland, được xem là thủ phủ của ông già Noel. Làng ông già Noel nổi tiếng ở Rovaniemi, nằm ngay vành đai Bắc Cực là nơi sinh sống và làm việc quanh năm của ông. Ngôi làng có rất nhiều điểm tham quan như văn phòng ông già Noel, nơi ở của các chú lùn, bưu điện ông già Noel, lò bánh Giáng Sinh… Mọi hoạt động trong làng rất sôi động và chào đón hàng trăm ngàn khách du lịch đến thăm vào mỗi dịp Giáng Sinh. Ngoài ra, công ty media JoulupukkiTV (Joulupukki trong tiếng Phần Lan có nghĩa là "ông già Noel") ở Rovaniemi có một trang web, phát hành DVD và thiệp DVD về ông già Noel, lễ hội Giáng Sinh thế giới.
Đọc thêm!
Lễ Giáng sinh, còn được gọi là lễ Thiên Chúa giáng sinh, Nô-el, hay Nô-en (từ tiếng Pháp Noël, là viết tắt từ gốc Emmanuel, nghĩa là "Thiên Chúa ở cùng chúng ta") là một ngày lễ kỷ niệm ngày Chúa Giê-su thành Nazareth sinh ra đời của phần lớn người Cơ Đốc giáo. Họ tin là Giê-su được sinh tại Bethlehem thuộc tỉnh Judea của Đế quốc La Mã giữa năm 6 TCN và năm 6.
Một số nước ăn mừng ngày này vào 25 tháng 12, một số nước lại vào tối ngày 24 tháng 12. Theo Công giáo Rôma, lễ chính thức là ngày 25 tháng 12 còn gọi là "lễ chính ngày", còn lễ đêm 24 tháng 12 gọi là "lễ vọng". Dù vậy, lễ đêm 24 tháng 12 thường thu hút tin đồ tham dự nhiều hơn. Những người theo Chính Thống giáo Đông phương vẫn sử dụng lịch Julius để định ngày này, cho nên họ tổ chức lễ Giáng sinh vào ngày 7 tháng 1 theo lịch Gregory...(Click Tiêu đề để đọc tiếp)
I/Biểu tượng Giáng sinh và ý nghĩa
1/Vòng lá mùa vọng
Vòng lá mùa vọng là vòng tròn kết bằng cành lá xanh thường được đặt trên bàn hay treo lên cao để mọi người trông thấy. Cây xanh thường được trang hoàng trong các bữa tiệc của dịp Đông chí - dấu hiệu của mùa đông sắp kết thúc. Trên vòng lá đặt 4 cây nến. Tục lệ này khởi xướng bởi các tín hữu Pháo Lutheran ở Đức vào thế kỷ 16 để nói lên sự giao tranh giữa ánh sáng và bóng tối.
Vòng lá có hình tròn nói lên tính cách vĩnh hằng và tình yêu thương vô tận của Thiên Chúa. Màu xanh lá nói lên hi vọng rằng Đấng Cứu Thế sẽ đến cứu con người. 4 cây nến bao gồm ba cây màu tím - màu của Mùa Vọng, cây thứ 3 là màu hồng, là màu của Chúa Nhật thứ Ba mùa Vọng, hay còn gọi là Chúa Nhật Vui mừng (Gaudete Sunday).
2/Thiệp Giáng sinh
Bắt nguồn từ năm 1843 khi ông Henry Cole, một thương gia giàu có nước Anh, đã nhờ Horsley, một họa sỹ ở London, thiết kế một tấm thiệp thật đẹp để tặng bạn bè. Vào Noel năm đó, Horsley trình làng tấm thiệp đầu tiên trên thế giới và sau đó nó đã in ra 1000 bản. Thiệp Giáng sinh nhanh chóng bùng phát và trở thành mốt thịnh hành ở Anh trong suốt 10 năm kể từ khi Chính phủ Anh thông qua đạo luật năm 1846 cho phép bất kì người dân nào gửi thư đến bất kỳ nơi nào với giá rẻ. Không lâu sau, trào lưu này du nhập sang Đức và tới 30 năm sau người Mỹ mới chấp nhận nó.
II/Những câu chuyện về Giáng sinh và ông già Nô-en
Những món quà biểu lộ tình yêu của mọi người với gia đình và bè bạn. Đối với một số người, những món quà Giáng Sinh còn có một ý nghĩa tín ngưỡng sâu sắc. Đó là lễ kỷ niệm ngày sinh của Chúa Giê-su, món quà mà Thiên chúa đã ban tặng cho con người.
Khi Chúa Giê-su cất tiếng khóc chào đời tại Bethlehem trong một cái máng cỏ, ba vị vua phương Đông đã đến để bày tỏ sự thành kính của mình. Họ mang đến ba món quà quý giá, đó là vàng, trầm hương và chất nhựa thơm. Vàng tượng trưng cho vương quốc của Giê-su, trầm hương tượng trưng cho linh hồn của Giê-su và chất nhựa thơm biểu hiện hình ảnh Giê-su bị đóng đinh trên cây thánh giá.
Ba vị vua rất giàu có nhưng những người dân nghèo hầu như chẳng có tài sản cũng mang đến bất cứ những gì họ có thể để tỏ lòng thành kính với Chúa Hài đồng. Những người chăn cừu tặng Giê-su hoa quả và những món đồ chơi nhỏ do chính họ tạo ra.
1/Ông già Noel (có thể viết là Ông già Nô-en) là nhân vật đóng vai trò như là một nhân tố gắn liền với mùa Lễ Giáng Sinh, giống như cây thông Noel. Hình ảnh tiêu biểu của ông già Noel là một ông già mặc bộ đồ màu đỏ viền trắng, thắt lưng da đen, đội chiếc nón đỏ với chòm râu dài trắng, bộ mặt hóm hỉnh, tiếng cười "hô hô hô", tồn tại trong nhiều văn hoá, đặc biệt ở các nước phương Tây. Truyền thuyết cho rằng ông già Noel sinh sống tại Bắc Cực với những người lùn. Ông dành đa số thời gian để chuẩn bị quà, đồ chơi cho trẻ em với sự giúp đỡ của những chú lùn. Vào dịp Giáng Sinh, ông nhận được rất nhiều thư từ trẻ em khắp thế giới. Và mỗi đêm Giáng Sinh, ông lại bắt đầu cuộc hành trình của mình với cỗ xe kéo bởi tám con tuần lộc để mang quà và đồ chơi cho các thiếu nhi.
2/Tên gọi
# Người Hà Lan gọi Thánh Nicholas là Sinter Klass, sau này đọc thành Santa Claus
# Trong tiếng Anh, Ông già Noel được gọi là Santa Claus (Thánh Nicolas), xuất phát từ truyền thuyết về một nhân vật có thật, sống ở thế kỷ thứ 4 tên là Nicolas
# Tiếng Pháp gọi là Le Père Noel (Cha Noel) vì liên hệ nhiều đến lễ Noel
# Trong tiếng Việt, do không hiểu rõ nguồn gốc, thấy hình ảnh cụ già râu tóc bạc phơ xuất hiện vào Noel thì gọi là "Ông già Noel", nhiều khi còn được gọi là "Ông già Tuyết
3/Xuất thân
Người ta (đặc biệt là trẻ em) cho rằng Ông già Noel sống và làm việc ở Bắc Cực, nhiều bộ phim nổi tiếng của Hollywood như The Polar Express lại càng củng cố niềm tin thơ ngây này. Các quốc gia ở Bắc Âu như: Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy, Iceland, Phần Lan đều tự nhận rằng xưởng chế tạo đồ chơi của ông già Noel nằm ở quốc gia họ.
Ngày nay, người ta chấp nhận Ông già Noel là hóa thân của Thánh Nicolas ở thành Myra, Thổ Nhĩ Kỳ. Nhiều sử gia cho rằng hình ảnh đầu tiên về Ông già Noel xuất hiện trong một bài thơ có tên: A visit from Saint Nicholas (Chuyến thăm của Thánh Nicholas) được xuất bản năm 1823. Còn hình ảnh một ông già phúc hậu, với một bộ râu trắng dài trong bộ đồ màu đỏ có viền trắng thì xuất hiện đầu tiên trên báo vào năm 1860 qua nét bút tưởng tượng của nghệ sỹ Thomas Nast.
4/Ông già Noel ở Lapland, Phần Lan
So với những quốc gia Bắc Âu được cho là xuất xứ của ông già Noel, Phần Lan có vẻ được biết đến nhiều hơn hết. Là một đất nước nổi tiếng về du lịch mùa đông và tuyết, cùng những món ăn đặc sản như cá hồi và thịt tuần lộc, ông già Noel cũng là biểu tượng văn hóa du lịch của Phần Lan. Người ta cho rằng ông già Noel cư ngụ tại Lapland, miền Bắc Phần Lan. Thành phố Rovaniemi, thủ đô của vùng Lapland, được xem là thủ phủ của ông già Noel. Làng ông già Noel nổi tiếng ở Rovaniemi, nằm ngay vành đai Bắc Cực là nơi sinh sống và làm việc quanh năm của ông. Ngôi làng có rất nhiều điểm tham quan như văn phòng ông già Noel, nơi ở của các chú lùn, bưu điện ông già Noel, lò bánh Giáng Sinh… Mọi hoạt động trong làng rất sôi động và chào đón hàng trăm ngàn khách du lịch đến thăm vào mỗi dịp Giáng Sinh. Ngoài ra, công ty media JoulupukkiTV (Joulupukki trong tiếng Phần Lan có nghĩa là "ông già Noel") ở Rovaniemi có một trang web, phát hành DVD và thiệp DVD về ông già Noel, lễ hội Giáng Sinh thế giới.
Đọc thêm!
Lễ Phục Sinh
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lễ Phục Sinh thường được xem là một trong những ngày lễ quan trọng nhất trong năm của người theo Kitô giáo – Là lễ quan trọng nhất – thường diễn ra vào tháng 3 hoặc 4 mỗi năm để tưởng niệm sự kiện Phục Sinh của Chúa Giêsu từ cõi chết sau khi bị đóng đinh trên thập tự giá (xem Thứ Sáu Tuần Thánh), được người Kitô tin là xảy ra vào khoảng thời gian này trong năm 30–33 CN. (Phục Sinh cũng được dùng để chỉ một mùa trong năm phụng vụ gọi là Mùa Phục Sinh, kéo dài 50 ngày từ lễ Phục Sinh đến Lễ Hiện xuống.)...(Click Tiêu đề để đọc tiếp)
Trong Kitô giáo Tây phương, ngày lễ Phục Sinh tất cả rơi vào một Chủ nhật giữa 22 tháng 3 và 25 tháng 4. Ngày kế tiếp, Thứ hai, được công nhận là ngày nghỉ lễ chính thức của hầu hết các quốc gia có truyền thống Kitô giáo, nhưng không được quy định tại Hoa Kỳ, ngoại trừ trước kia ở một số tiểu bang, tất cả đã được bãi bỏ từ thập niên 1980.
Lễ Phục Sinh và các ngày nghỉ liên hệ tới nó là những ngày lễ di động, tức chúng không rơi vào một ngày cố định trong lịch Gregorian hay lịch Julian (là những lịch dựa theo sự vận hành của mặt trời và mùa). Thay vào đó nó dựa trên lịch mặt trăng tương tự – nhưng không giống hệt – lịch Do Thái. Ngày chính xác của lễ Phục Sinh thường vẫn còn là đề tài tranh luận.
Vào Công đồng Nicaea thứ nhất năm 325, lễ Phục Sinh được quyết định tổ chức vào cùng một chủ nhật trên toàn giáo hội, nhưng có lẽ chưa có phương pháp nào được chỉ định bởi Công đồng (không may là hiện không tìm thấy nguyên văn các quyết định của Công đồng). Thay vào đó, việc chọn ngày dường như tham khảo từ giáo hội ở Alexandria, một thành phố nổi danh về sự thông thái vào lúc đó. Thành phố này tổ chức lễ Phục Sinh vào chủ nhật đầu tiên sau ngày thứ 14 đầu tiên của tháng âm lịch xảy ra vào hoặc sau 21 tháng 3. Trong suốt thời Trung Cổ, cách tính này được diễn đạt ngắn gọn là Lễ Phục Sinh xảy ra vào chủ nhật đầu tiên sau ngày trăng tròn đầu tiên vào hoặc sau ngày xuân phân. Giáo hội Công giáo Rôma dùng cách riêng để tính ngày Phục Sinh cho đến thế kỉ 6, sau đó có lẽ họ chuyển sang phương pháp Alexandria khi đổi sang lịch Julian bởi Dionysius Exiguus (không có bằng chứng rõ ràng về việc này cho đến thế kỉ 9). Hầu hết giáo hội trên các đảo Anh dùng phương pháp Rôma cuối thế kỉ 3 cho đến khi họ áp dụng cách tính Alexandria vào Công đồng Whitby năm 664. Các giáo hội trên lục địa châu Âu ở phía tây dùng cách tính Rôma đến cuối thế kỉ 8 trong triều đại Charlemagne, và cuối cùng họ cũng chuyển sang dùng phương pháp Alexandria. Vì các giáo hội Tây phương hiện nay dùng lịch Gregorian để tính ngày, còn các giáo hội Chính thống Đông phương dùng lịch Julian, nên ngày lễ Phục Sinh của họ thường không trùng nhau.
Tại hội nghị thượng đỉnh ở Aleppo, Syria năm 1997, Hội đồng các giáo hội thế giới đề nghị cải cách phương pháp tính ngày lễ Phục Sinh dựa trên các tính toán theo quan sát thiên văn trực tiếp; điều này giúp loại bỏ khác biệt giữa các giáo hội Tây phương và Đông phương. Cải cách này được đề nghị áp dụng từ năm 2001, nhưng cuối cùng nó không được các thành viên sử dụng.
Đọc thêm!
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lễ Phục Sinh thường được xem là một trong những ngày lễ quan trọng nhất trong năm của người theo Kitô giáo – Là lễ quan trọng nhất – thường diễn ra vào tháng 3 hoặc 4 mỗi năm để tưởng niệm sự kiện Phục Sinh của Chúa Giêsu từ cõi chết sau khi bị đóng đinh trên thập tự giá (xem Thứ Sáu Tuần Thánh), được người Kitô tin là xảy ra vào khoảng thời gian này trong năm 30–33 CN. (Phục Sinh cũng được dùng để chỉ một mùa trong năm phụng vụ gọi là Mùa Phục Sinh, kéo dài 50 ngày từ lễ Phục Sinh đến Lễ Hiện xuống.)...(Click Tiêu đề để đọc tiếp)
Trong Kitô giáo Tây phương, ngày lễ Phục Sinh tất cả rơi vào một Chủ nhật giữa 22 tháng 3 và 25 tháng 4. Ngày kế tiếp, Thứ hai, được công nhận là ngày nghỉ lễ chính thức của hầu hết các quốc gia có truyền thống Kitô giáo, nhưng không được quy định tại Hoa Kỳ, ngoại trừ trước kia ở một số tiểu bang, tất cả đã được bãi bỏ từ thập niên 1980.
Lễ Phục Sinh và các ngày nghỉ liên hệ tới nó là những ngày lễ di động, tức chúng không rơi vào một ngày cố định trong lịch Gregorian hay lịch Julian (là những lịch dựa theo sự vận hành của mặt trời và mùa). Thay vào đó nó dựa trên lịch mặt trăng tương tự – nhưng không giống hệt – lịch Do Thái. Ngày chính xác của lễ Phục Sinh thường vẫn còn là đề tài tranh luận.
Vào Công đồng Nicaea thứ nhất năm 325, lễ Phục Sinh được quyết định tổ chức vào cùng một chủ nhật trên toàn giáo hội, nhưng có lẽ chưa có phương pháp nào được chỉ định bởi Công đồng (không may là hiện không tìm thấy nguyên văn các quyết định của Công đồng). Thay vào đó, việc chọn ngày dường như tham khảo từ giáo hội ở Alexandria, một thành phố nổi danh về sự thông thái vào lúc đó. Thành phố này tổ chức lễ Phục Sinh vào chủ nhật đầu tiên sau ngày thứ 14 đầu tiên của tháng âm lịch xảy ra vào hoặc sau 21 tháng 3. Trong suốt thời Trung Cổ, cách tính này được diễn đạt ngắn gọn là Lễ Phục Sinh xảy ra vào chủ nhật đầu tiên sau ngày trăng tròn đầu tiên vào hoặc sau ngày xuân phân. Giáo hội Công giáo Rôma dùng cách riêng để tính ngày Phục Sinh cho đến thế kỉ 6, sau đó có lẽ họ chuyển sang phương pháp Alexandria khi đổi sang lịch Julian bởi Dionysius Exiguus (không có bằng chứng rõ ràng về việc này cho đến thế kỉ 9). Hầu hết giáo hội trên các đảo Anh dùng phương pháp Rôma cuối thế kỉ 3 cho đến khi họ áp dụng cách tính Alexandria vào Công đồng Whitby năm 664. Các giáo hội trên lục địa châu Âu ở phía tây dùng cách tính Rôma đến cuối thế kỉ 8 trong triều đại Charlemagne, và cuối cùng họ cũng chuyển sang dùng phương pháp Alexandria. Vì các giáo hội Tây phương hiện nay dùng lịch Gregorian để tính ngày, còn các giáo hội Chính thống Đông phương dùng lịch Julian, nên ngày lễ Phục Sinh của họ thường không trùng nhau.
Tại hội nghị thượng đỉnh ở Aleppo, Syria năm 1997, Hội đồng các giáo hội thế giới đề nghị cải cách phương pháp tính ngày lễ Phục Sinh dựa trên các tính toán theo quan sát thiên văn trực tiếp; điều này giúp loại bỏ khác biệt giữa các giáo hội Tây phương và Đông phương. Cải cách này được đề nghị áp dụng từ năm 2001, nhưng cuối cùng nó không được các thành viên sử dụng.
Đọc thêm!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)