Sách Sáng Thế Ký có chép: Ađam ăn ở với
Êva là vợ mình (4:1). Trong sự tế nhị của ngôn ngữ
Việt, động từ ăn ở ở đây phải được hiểu là tính
giao, hay giao hợp giữa hai người khác phái đã có
sự đồng ý và thoả thuận với nhau.
Thật ra thì Kinh Cựu Ước, qua nguyên tác
tiếng Hêbơrơ, the Hebrew Bible, chỉ chép một cách
đơn giản rằng: Và Ađam biết vợ mình là Êva. Bản
King James Version (KJV) cũng ghi là: and Adam
knew Eva his wife. Chữ knew là dịch thẳng từ
động từ “Yadah” của tiếng Hêbơrơ. Bản King
James Version được dịch do một số nhà thông kinh
và học giả nổi tiếng nhất của thời bấy giờ và được
chiêu tập dưới sự chủ trì và giám thị của chính
đương kim hoàng đế nước Anh lúc đó là James I
(1567-1625). Sau một thời gian miệt mài hợp dịch,
ban KJV được công bố năm 1610, cách đây đã gần
400 năm. Từ đó đến nay Thánh Kinh đã được dịch
đi dịch lại rất nhiều phen với những cái nhìn khác
nhau và để cập nhật hoá với ngôn ngữ hiện đại.
Với lời kinh cổ kính, lịch lãm mà trang trọng, bản
Thánh Kinh KJV vẫn được xem là bản dịch tiêu
chuẩn, khuôn thước, và sát nghĩa nhất so với
nguyên bản tiếng Hêbơrơ, là thứ tiếng cổ của dân
tộc Do Thái.
Đi song song với chữ Hán, tiếng Hêbơrơ là
một thứ văn tự xưa nhất với tổ chức động từ đa
dạng và đa năng, được chia theo số, theo ngôi và
theo chi, thể, loại mà để cho dễ nhớ thì ta gọi là
động từ Do Thái tam bản, thất chi, ngũ thể, thập
nhược động. Vì vậy mà việc nắm bắt động từ tiếng
Hêbơrơ là việc mấu chốt trong việc hiểu rõ kinh
Cựu Ước. Ở đây, ta thử xem đến chữ biết, qua
động từ Yadah của tiếng Hêbơrơ được nhắc đến
nhiều bận trong kinh Cựu Ước:
Biết được nhờ sự quan sát: Nôê biết rằng
nước đã giảm bớt trên mặt đất (Sáng Thế Ký 8:11).
Đức Chúa Trời sau khi đã tạo dựng nên trời đất,
muôn vật và loài người, loài người sinh sôi nẩy nở
mỗi lúc một nhiều. Từ lúc Ađam và Êva nghe lời
dụ dỗ của con rắn ăn trái cây biết điều thiện và ác
mà Ngài đã ngăn cấm, Đức Chúa Trời bắt đầu phát
hiện sa sức ác độc của con người mỗi lúc một lớn,
Ngài ân hận về việc Ngài đã tạo ra con người và
quyết định tiêu diệt nhân loại. Chỉ có ông Nôê là
được ơn dưới mắt Đức Chúa Trời. Ông là người
công chính và đi theo đường lối Ngài và Đức Chúa
Trời đã cứu ông, gia đình ông (tất cả 8 người); đã
chỉ cho ông cách đóng tàu để tránh cuộc thủy nạn
mà chính Ngài đã phán khiến.
Biết được qua sự nghe ngóng: Khi Đức
Chúa Trời nghe những tiếng kêu oan từ hai thành
Sôđôm và Gômôrơ thì phán: “Ta muốn ngự xuống,
để xem xét chúng nó ăn ở có thật như tiếng đã kêu
thấu đến ta chăng; nếu chẳng thật, thì ta sẽ biết”
(Sáng Thế Ký 18:21).
Biết được qua kinh nghiệm: Trở lại câu
STK 4:1 trên, chữ biết mang một ý nghĩa chẳng
những qua kinh nghiệm quan sát, qua kinh nghiệm
nghe ngóng, mà còn qua một kinh nghiệm của sự
giao tiếp mật thiết nữa. Sở dĩ ta có thể cả quyết sự
tương giao mật thiết đó là do câu kinh kế tiếp:
người thọ thai sanh Ca-in. Chữ biết bao hàm một ý
nghĩa thâm thuý, vừa rộng rãi vừa tế nhị. Trong lối
nói chuyện của người Việt mình như “từ ngày tôi
biết em” … cũng đều là theo tinh thần của chữ biết
Yadah kia. Tưởng ta cũng cần thêm vào đây rằng
trước khi biết bà Êva thì cả ông lẫn bà đã biết rằng
mình loã lồ (STK 3:7). Cái biết đó đến sau việc ăn
trái cây biết điều thiện và điều ác mà Đức Chúa
Trời đã ngăn cấm họ (STK 3:3). Vì vậy mà cái biết
kia đã trải qua một quá trình dài của sự cám dỗ, thử
thách và phạm tội rồi.
Bên cạnh những cái biết thông thường
trong thế tục nhân quần, chữ biết còn nói lên một
kiến thức và một kinh nghiệm trong việc tương giao
với Thượng Đế nữa. Trong sách Luận Ngữ, sách
gối đầu giường của mọi kẻ sĩ theo tinh thần Nho
học, thiên Vi Chính, đoạn IV chép Khổng Tử có lần
bảo rằng: “Ngô ngũ thập nhi tri thiên mệnh” (吾 五
十 而 知 天 命) nghĩa là đến năm 50 tuổi thì Phu tử
biết được mệnh trời. Theo Thánh Kinh, cái biết về
Thượng đế, về trời, là do chính Đức Chúa Trời
công bố trực tiếp cho con người. Ông Môi-se là
người đầu tiên được Đức Chúa Trời cho biết danh
xưng của mình lần đầu tiên: “Ta là Đức Giê-hô-va.
Ta đã hiện ra cùng Apraham, cùng Ysác, và cùng
Giacốp, tỏ mình là Đức Chúa Trời toàn năng; song
về danh ta là Giêhôva, thì ta chưa hề tỏ cho họ biết”
(Xuất Edipto ký 6:2-3). Và Ngài cũng phán Môise
hãy công bố danh xưng của mình cho toàn thể dân
Ysơraên và Ngài sẽ lấy đi cái ách nặng nề mà người
Êdiptô đã áp đặt lên vai họ. Danh Ngài từ đó được
truyền biết đến những kẻ tin nhận Ngài.
Mục đích của việc biết đến danh Ngài để
làm gì?
Để kính sợ Ngài: để cho muôn dân của thế gian
nhận biết danh Chúa, kính sợ Chúa, y như dân
Ysơraên của Ngài. (1Các Vua 8:34)
Để dạy cho hậu tự mình biết vâng phục và hầu
việc Ngài: “Còn ngươi là Salamôn, con trai ta,
hãy nhận biết Đức Chúa Trời của cha, hết lòng
vui ý mà phục sự Ngài” (1Sửký 28:9)
Để tin cậy Ngài: “Các ngươi là kẻ làm chứng
ta, và là đầy tớ ta đã chọn, hầu cho các ngươi
được biết và tin ta, và hiểu rằng ta là Chúa!”
(Êsai 43:10)
Trong chúng ta, ai là kẻ đã từng biết Chúa?
Huỳnh Hữu Đạo
(Đào Lê Thất, Atlanta, GA)
Theo Nếp sống mới, Số 141-142
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Cám ơn bạn đã đọc bài viết. bạn có nhận xét gì về bài viết và quan điểm của bạn hãy để lại vài lời chia sẻ cùng mọi người. Xin lưu ý bạn, các nhận xét không có tính góp ý xây dựng sẽ bị xoá ngay. Các nội dung gõ bằng tiếng Việt, có dấu rõ ràng sẽ không làm người khác hiểu lầm. Xin trân trọng cảm ơn bạn đã ghé thăm blog.Chúa ban phước cho bạn!