Thứ Năm, 16 tháng 4, 2009

Lễ tế nam giao

Trong tâm trí người Việt, Trời là quyền năng tối thượng, là uy lực tối cao, thống lĩnh và cai quản mọi lực lượng siêu nhân. Trời là vị quan tòa cực kỳ công bằng và nghiêm minh, trừng trị mọi kẻ xấu, khen thưởng mọi người tốt.
Chứng tỏ vị trí và quyền năng của Trời đối với đời sống con người. Nhưng trong ngôi nhà người Việt, có bàn thờ tổ tiên, thờ Thổ địa, thờ Táo quân, thờ Thần Tài, thờ vong hồn... không có bàn thờ Trời.
Thế nhưng, tế lễ quan trọng nhất, trọng thể nhất của Việt Nam trước 1945 lại chính là Lễ tế Trời do chính Hoàng đế làm Chủ tế. Đó là Lễ tế Nam Giao...
(Click Tiêu đề để đọc tiếp)

Nam Giao không phải là tên chính thức, là danh xưng của cuộc tế lễ này. Nam là phương nam, phía nam, hướng nam. Giao là cận giao, ở ngoài kinh thành mà kề cận kinh thành. Sách Lễ ký ghi: ngày đông chí, tế Trời ở giao là ở phía ngoài thành, gọi là Giao thiên hoặc Tế giao. Như vậy, tế lễ Nam Giao là tế trời ở một nơi gần Kinh thành về phía nam. Gọi tế vì có thui thiêu 3 con vật bò, lợn và dê, gọi là tam sinh, để hiến dâng lễ vật cho Trời đất thánh thần. Nơi tế Nam Giao cách Huế trên dưới 4 km có xây đắp đàn cao, nên gọi là đàn Nam Giao. Đầu thế kỷ 19, Lễ tế Nam Giao được cử hành vào mùa xuân, mỗi năm một lần tế. Từ đầu thế kỷ 20, vẫn tế vào mùa xuân, nhưng 3 năm một lần.
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, thành viên của Ban Tư vấn Lễ hội Nam Giao (Festival Hue): Lễ tế Giao mỗi thời, mỗi năm có thể khác nhau về quy mô, tình tiết, nhưng mục đích vẫn là cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa. Thường Lễ tế Giao có ba giai đoạn: rước đoàn ngự đạo lên Nam Giao, lễ tế, rước đoàn ngự đạo hồi cung.
Đàn Nam Giao nằm giữa một vùng rừng thông. Vòng ngoài của đàn là tường thành gạch vôi vững chãi hình chữ nhật, dài 390 m, rộng 265 m. Chính giữa mỗi mặt bức từng thành đều có cổng tam quan với 4 trụ cao và 3 cửa lớn. Những cổng này cũng như mọi cổng và mọi cửa chính khác của 4 tầng đàn đều hướng đúng về 4 hướng đông tây nam bắc, mà hướng nam là hướng chính. Trước mỗi cổng tam quan, đều có bình phong bằng vôi gạch đắp hình long ly quy phụng, cân ba. Bên ngoài vành tường đai này, ở dọc phía tường phía bắc, có những dãy nhà gạch dành cho các quan chức tham gia cúng tế và một số cho khách mời. Gần đấy, ở góc thành đông-bắc là hai ngôi nhà Thần khố cất giữ các tự khí, các vật định dùng vào việc cúng tế, và Thần Trù, nơi thui thiêu tam sinh và làm các món cỗ cúng. Cũng ở phía ngoài vòng thành đai, nhưng ở góc thành tây-nam là ngôi nhà Trai Cung dành riêng cho Vua chay tịnh-không ăn thịt cá và kiêng cữ nhục dục - trong ba ngày trước khi cử hành Lễ tế.
Ở giữa khuôn viên chữ nhật ấy là 3 tầng đàn cao 4 m 60. Tầng sát mặt đất, hình vuông, cao 0 m 80, mỗi bề 165 m, tường quanh xây gạch, có 4 tam quan, nhìn đúng 4 hướng. Bốn chung quanh chạy lan can sơn mầu vàng của đất. Tầng đàn này có tên là Phương đàn (đàn vuông), hoặc Địa đàn (đàn của đất).
Từ Phương đàn, trèo lên bậc cấp 12 nấc, 4 bậc cấp dẫn lên 4 cửa lớn là tới đàn hình tròn, đường kính 42 m, căng phủ vòm vóc mầu xanh lơ là mầu của Trời. Tầng đàn này là Viên đàn (Đàn tròn) hoặc Thiên đàn (Đàn của Trời). Đắp toàn bộ ba tầng đàn này, theo chỉ dụ của Vua, tất cả các viên tri huyện (tức huyện trưởng) từ huyện cực bắc ở Lạng Sơn, Cao Bằng cho đến cực nam ở Cà Mau đã tổ chức gánh đất của huyện mình để đắp đàn. Đất đắp đàn là đất của cả nước, là tượng trưng cho thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
Chúng ta cũng nên nhớ rằng, theo quan niệm xa xưa. Đất tượng trưng bằng hình vuông và Trời tượng trưng là hình tròn. Do đó mà trong lễ tế của dân làng hay lễ tế tổ tiên. Cha ông ta từ thời lập quốc mới có tục lệ làm bánh dày (hình tròn) tượng trưng cho Trời hay Người Cha và bánh chưng (hình vuông) tượng trưng cho Đất hay Người Mẹ.
Trong bốn bức tường kể trên, mỗi bức tường đều có bốn cửa theo bốn hướng (mà ta gọi là Tứ Phương): Đông, Tây, Nam, Bắc. Riêng cửa phương Nam có ba cổng ra vào được xây bằng gạch. Cửa chính giữa dành cho các bậc Thần Linh, cửa bên hữu (bên phải) dành cho Hoàng Đế, còn cửa bên tả (bên trái) thì các quan tế điện mới được bước vào. Mỗi cửa đều có chiếc bình phong - cốt để ngăn chặn các Tà Thần.
Bàn thờ Đất ngay giữa khu này, được dựng một chiếc lều bằng vóc vàng mà ta thường gọi là "Nhà Vàng" - tại đây có đặt một hương án xếp đầy lễ vật. Hai bên có tám hương án để thờ các vị thần linh là:
- Dương Quang Tinh Tú Thần (Thần mặt trời và các vì sao)
- Phong Vũ Vân Lôi Thần (Thần gió, mưa, mây, sấm )
- Binh Tướng Nguyệt Đức Thần (Tức Thần mặt trăng, và quân đội trên trời)
- Sơn Hải Hà Hồ Thần (Thần núi, biển, sông, hồ)
- Bình Nguyên Phì Địa Thần (Thần của các Đồng Bằng và màu mỡ)
- Dạ Quang Thần (Thần ban đêm)
- Du Thần (là các Thần có ảnh hưởng đối với trái đất và tất cả con người)
Tại bàn thờ Trời, đặt tại mô đất tròn chính giữa trong khu đất trung tâm của đàn Tế Nam Giaọ Nơi đây có hương án thờ Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, xung quanh có nhiều hương án để thờ các vị Tiên Đế đương triều.
Tế Nam Giao là một buổi tế đối với các triều đại quân chủ là một cuộc tế lễ để tạ ơn trời đất, để tỏ sự tôn sùng đối với Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế cai quản chư thần, đồng thời cũng mang một hình thái cầu xin xá tội của bậc Hoàng Đế đối với Thiên Nhan, xin Đức Ngọc Hoàng đại xá cho những lỗi lầm đã trót mắc phải. Vì những lẽ đó cuộc tế lễ phải được tổ chức vô cùng trọng thể mà phải do chính vị Hoàng Đế đứng chủ tế.
Trước ngày tế ba tháng, Vua sẽ ra chỉ dụ và do Toà Khâm Thiên Giám đã chọn được ngày trước. Lời "cáo tri" được một viên quan Đại Thần tuyên đọc, với nội dung của bản "cáo tri" này không phải cho thần dân trong nước mà mục đích là để báo cáo cho các bậc Thần Linh:

Bản "cáo tri" này đại để như sau :

"Đại Nam Quốc, tuế thứ........
Tiểu thần Nguyễn........, phụng ngự chiếu của Đức Việt Nam Hoàng Đế, kế thế các tiên triều liệt thánh, cẩn tấu Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, đến ngày tháng........Toàn dân nước Việt Nam sẽ dâng lễ tế Nam Giao, tiểu thần kính cẩn cáo tri trước Thiên Nhan và chư thần. Cẩn tấu."
Hai tuần lễ trước ngày tế, thì "cáo tri" với các đấng Tiên Đế để cung thỉnh các ngài về dự lễ. Ba ngày trước hôm tế, một sắc chỉ của Hoàng Đế được ban bố để nhắc nhở các người dự tế phải ăn chay giới và dọn mình thật thanh khiết.
Việc chay giới này rất quan trọng. Để nhắc nhở nhà vua, trước đó bốn ngày, người ta mang đến cho nhà vua một tượng người bằng đồng còn gọi là "đồng nhân", rước tượng này đến cung điện của vua, để ngày đêm vua nhìn thấy vị thần tượng trưng cho trong sạch và chay tịnh. Hầu cho nhà vua cũng giữ mình y như vậy.
So với mọi tế lễ khác, tế lễ Nam Giao là trọng đại, trọng thể nhất. Vì vậy, ngay từ đám rước từ Kinh Thành đến Đàn Nam Giao cũng là đám rước linh đình huy hoàng nhất, bao gồm trên hai nghìn người, chia làm 3 đạo: tiền quân, trung quân và hậu quân.
Chỉ huy tiền quân - hoặc tiền đạo - là một Thống Chưởng - cấp tướng - đi đầu là 2 thớt voi khoác phẩm phục vải lụa nhiều mầu sắc, có nhiều võ quan, thị vệ, cấm quân, quân sĩ cầm các loại cờ xí như các cờ Ngũ Hành, cờ Long Tinh, cờ Nhị thập bát tú... Và nhiều nhạc cụ như trống đại, chiêng, dàn nhạc bát âm... và có binh phu khiêng long án, hương án, cầm lọng, cầm tán. Tiền đạo còn có lộ xa do voi kéo, có long đình xa do 4 ngựa kéo, hai bên có hai hàng kỵ binh và bộ kinh. Lại có những toán cầm cờ Bắc Đẩu, cờ các tinh tú, cờ thêu hình các con thú, có nhạc công đi kèm.
Ngự liễn Vua ngồi, có 4 lọng che và 20 cấm quân, đi giữa trung đạo, phía trước phía sau đều có kiệu, xa mã, ngựa thắng yên, có các long đình dựng nghi trượng và vật dụng của Vua, có lính cầm cờ xí. Theo sau ngự liễn là các hoàng thân, quốc thích, đại thần.
Hậu đạo gồm các quan chức cấp thấp hơn, cũng do Thống Chưởng chỉ huy, nhiều quân sĩ cầm cờ xí, khiêng tượng người bằng đồng gọi là Đồng Nhân. Đi cuối đám rước là 2 thớt voi choàng vải lụa nhiều mầu. Dọc đường xa giá, hương chức và dân chúng bày hương án, thắp nhang, thắp nến, đốt trầm... nghênh đón tung hô Vua.
Xa giá tới Đàn Nam Giao, Vua vào Trai Cung, đặt tượng Đồng Nhân lên bệ, chiêm ngưỡng để giữ mình chay tịnh trong sạch trước khi thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng Đại giáo chủ Chánh chủ tế. Trên các tầng đàn, đã bày biện theo đúng nghi lễ thể thức mọi bàn thờ, hương án, long án, cờ xí, nghi trượng. Các vị bồi tế, phụ tế, lễ sinh, chức sắc, quan chức đều có chỗ quy định. ở hai bên các bậc cấp, đều túc trực các đội nhạc công và vũ công. Mỗi nghi tiết quan trọng đều có bài hát và điệu múa tương ứng.
Đám rước đến đàn tế vào khoảng giờ ngọ (12 giờ trưa). Vua được đưa đến phía Tây Nam của đàn tế, vào một cung gọi là Trai Cung - Vua sẽ nghỉ ở đó một đêm để suy tưởng trước hôm hành lễ.
Hôm Tế Nam Giao; vào giờ Sửu (khoảng 02 giờ sáng), Đại Kỳ được kéo lên. Vua lên kiệu vào cửa Tây, ở đó vua sẽ xuống kiệu đi bộ leo lên đàn về phía phải và do cửa Nam tiến vào. Vua dừng lại một nơi gọi là "Mục Dục" để làm lễ rửa tay.
Góc Đông Nam của đàn tế, lập một nhà bếp của chư thần gọi là Thần Trù, đây là nơi làm lễ Tam Sinh: thiêu một con nghé và phần việc phải nhóm lửa luôn tay cho lửa cháy thật to.
Kể từ lúc rửa tay xong, nhà vua phải đi đúng nhịp, sao cho hoà đồng với các viên bồi tế - và đúng nghi thức tiến, thoái theo tiếng xướng của viên lễ sinh. Vẫn bằng cửa Nam, nhà vua tiến vào bàn thờ Đất. Khi vua bước vào, các phần việc phải đốt to ngọn lửa thiêu con nghé, lông và huyết phải chôn xuống đất để cúng dâng cho Đất. Vua đốt hương, các bồi tế khấn vái và tụng bài Thái Hoà để ca tụng sự thái bình an lạc.
Khi vái tạ các thần xong, vua bước lên bàn thờ Trời - Vua dâng ngọc ngà, vóc lụa - sau đó vua rót rượu cúng để lên bàn thờ cùng các lễ vật khác. Trong lúc đó, phần việc mang chiếc mâm đựng thịt tam sinh (gồm thịt nghé, thịt heo và thịt dê) cũng được đặt lên bàn thờ.
Đây là lúc quan trọng nhất của buổi tế. Các lễ sinh xướng phủ phục, vua và các viên bồi tế đều phải quỳ xuống. Một vị quan Đại Thần đến trước Hương Án lấy bài văn tế và quỳ xuống rồi tiến quỳ (tức là quỳ và di chyuển theo thế đó) trước mặt vua. Bài văn tế này do cơ quan trong nội các viết - và để dành một phần trống ở trên để dành riêng cho vua vì chỉ có một mình nhà vua biết sẽ viết gì trong lời khấn này.
Sau khi viên quan đọc văn tế xong, nhà vua phải rót rượu hai lần để cúng - mỗi lần nhà vua phải bưng ly rượu đó bằng hai tay, nâng cao ngang trán và vái ba vái. Sau đó các viên quan bồi tế được chia nhau uống rượu này và ăn phần tế ngay lúc đó, gọi là được ban lộc Trời - còn phần nhà vua thì đặt phần tế vào khay để mang về cung dành cho nhà vua.
Những phẩm vật không chia phần sẽ cùng bài văn tế được đốt trong một cái chuông đồng không để sót một vật gì. Theo quan niệm cha ông ta, thì khói lửa sẽ mang hương vị của các lễ vật dâng cúng các vị thần linh.
Khi lễ vật đốt xong, viên quan bôì tế xướng: Lễ Tất ! Vua về Trai Cung - và ở ngoài sân của Trai Cung các Hoàng Thân Quốc Thích và các quan trong triều đến phủ phục và chúc nhà vua đã hoàn tất cuộc tế tốt đẹp. Chín phát súng thần công nổ vang, báo hiệu sự hồi cung của vua.
Cũng nên nhắc thêm một chuyện lưu truyền về kỹ thuật. Trong lòng hầm dưới Đàn Nam Giao, có bố trí một hệ thống nhiều phiến đá cao thấp, to nhỏ, dày mỏng... khác nhau, với hệ thống ống thông hơi lên các tầng dàn và ra vòng thành vành đai ngoài, khiến cho tiếng nói trên đàn đều vọng vang rõ ràng ra bốn phía gần như là phóng thanh micro bây giờ vậy. Có một kỹ sư âm học viết bài nghiên cứu miêu tả nhưng không giải đáp được.
theo http://vannghevietnam.vn

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Cám ơn bạn đã đọc bài viết. bạn có nhận xét gì về bài viết và quan điểm của bạn hãy để lại vài lời chia sẻ cùng mọi người. Xin lưu ý bạn, các nhận xét không có tính góp ý xây dựng sẽ bị xoá ngay. Các nội dung gõ bằng tiếng Việt, có dấu rõ ràng sẽ không làm người khác hiểu lầm. Xin trân trọng cảm ơn bạn đã ghé thăm blog.Chúa ban phước cho bạn!