Ông Địa là hình ảnh rất quen thuộc
với người miền Nam. Thường người ta dùng
đất sét nắn nên một ông mập mạp, bụng bự, da
mặt hồng hào, miệng cười toe toét, đầu chít
khăn rằn, mình mặc áo bà ba, tay mặt cầm
quạt, tay trái nắm cung lại để người ta có thể
cắm vào đó một điếu thuốc dễ dàng. Ông Địa
có lẽ xuất hiện vào thời Nam tiến của dân Việt
Nam từ mấy trăm năm trước.
Những người di
dân đi vào các vùng đất trong Nam để khai
khẩn, gặp nhiều khó khăn, trở ngại trong đời
sống, nên họ cần có một hình ảnh để nương
tựa. Cuộc sống của họ hằng ngày dính liền
với đất nên họ tạo ra ông Địa (vì địa là đất).
Ông Địa phải là người vui vẻ, miệng luôn cười
thoải mái để mang lại cho họ sự an ủi, may
mắn; cũng nhắc nhở tánh hỉ xả, xính xái, chín
bỏ làm mười… Khi nhà có chuyện là họ tâm
sự cùng ông Địa. Khi có điều thị phi oan ức
thì họ kêu: “Oan ôi! Ông Địa!” Trước kia,
họ để ông Địa ngồi dưới đất vì họ chẳng có
bàn ghế gì, về sau khi khá giả, sắm được bộ
bàn ghế họ mới cho ông Địa lên ngồi trên
trang. Người ta thường cho ông Địa ăn chuối,
ăn chè, hút thuốc rê hoặc hút thuốc tây. Ngày
Tết đến chính ông Địa đứng ra mời gọi, hướng
dẫn con lân vào múa nhà gia chủ để cả năm tài
lộc được hanh thông. Nguồn gốc ông Địa có
lẽ lấy ý nghĩa từ Thổ Công, Thổ Địa kết hợp
với hình ảnh Phật Di Lặc 弥勒 của Ấn Độ và
của ông Thần Tài Trung Hoa mà sửa đổi, tạo
thành cho thích hợp với tâm tình của những
người đi khẩn hoang dạo đó.
Nhiều người hay lầm Phật Di Lặc với
ông Thần Tài. Tuy hai tượng cùng cười hết
ga, nhưng có những điểm khác nhau. Phật Di
Lặc nguyên là con một vị Bà-la-môn, sau quy
y cửa Phật, nhập diệt vào cung trời Đâu Suất
兜率天, được xem là Hậu Sinh Phật hay Vị
Lai Phật, thường được gọi là Di Lặc Bồ Tát.
Phật Di Lặc thường ngồi, mặc áo phơi ngực,
hở bụng, có 6 đứa con nít leo trèo, quậy phá
trên mình. Sáu đứa giặc này là lục tặc tấn
công vào lục căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và
ý. Bồ Tát đã đắc đạo nên không còn sợ lục tặc
đưa lục trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp
vào phá nữa. Có khi người ta chỉ làm 5 đứa
trẻ là ngụ rằng ý-căn không để lộ ra vì đó là ý
tưởng; hoặc 5 đứa trẻ tượng trưng cho ngũ dục
là 5 thứ ham muốn: Thanh dục, sắc dục, vị
dục, hương dục và nhục dục. Bồ Tát Di Lặc
tượng trưng tinh thần từ bi, hỉ xả, tinh thần
nhập thế độ đời “thỏng tay vào chợ” không
còn bị nhiễm bụi trần.
Ông Thần Tài nguyên là Bố Đại La
Hán 布代羅漢, còn gọi là Nhân Yết Đà tôn
giả ở Ấn Độ, cũng là một trong thập bát La
Hán. Ông là người bắt rắn. Để giúp cho
người khỏi bị rắn cắn, ông mang túi vải to trên
lưng vào rừng bắt rắn độc, nhổ bỏ răng độc rồi
thả rắn đi. Người Trung Hoa thì cho là Bố Đại
tái sanh tại nước Lương, tên là Phó Đại Sĩ,
tánh vui vẻ, ăn mặc xốc xếch, mang cái tủi vải
thật to, ai cho gì cũng dồn vào túi rồi đem
phân phát cho trẻ em. Thần Tài người ta làm
ra là tượng đứng có mang túi to, hai tay đưa
thẳng lên trời cười thoải mái, tượng trưng cho
sự may mắn, thành công, hưởng thụ. Những
người buôn bán tin rằng xoa bụng bự của ông
Thần Tài là sẽ hốt bạc.
Người dân miền Nam phải có óc khôi
hài và óc sáng tạo mới tạo được hình tượng
ông Địa từ mấy thế kỷ qua. Ngày nay, ông
Địa bị đem ra làm trò đùa trong các chuyện
vui. Như chuyện người lái buôn kia, khấn vái
ông Địa cho làm ăn khá thì anh sẽ cúng cho
ông con vật 2 chân. Ông Địa nghĩ rằng anh sẽ
cho ông con gà nên phò hộ anh làm ăn khá.
Anh ta làm ăn được, rồi quên mất lời hứa.
Chừng trong nhà có chuyện, anh xin lỗi ông
Địa và hứa rằng nếu mọi chuyện êm xuôi, anh
sẽ cho ông con vật bốn chân. Ông Địa nghĩ là
sẽ được cúng cho con heo. Sau khi được
chuyện, anh ta cũng quên mất (hay giả bộ
quên?). Lại có dịp làm ăn lớn, anh một lần
nữa thành khẩn xin lỗi và long trọng hứa kỳ
này xong việc sẽ cho ông không phải con vật 4
chân mà là 8 chân. Ông Địa bực mình lắm,
nhưng nghe lời hứa hấp dẫn: 8 chân chắc là 2
heo hoặc 1 heo và 2 gà. Ông lại phò hộ cho
anh ta. Chừng xong việc, anh giữ lời hứa
mang đến trả lễ cho ông Địa một con cua (vì
cua có 8 chân)!! Một chuyện khác kể lại lời
phân bì của ông Táo đối với ông Địa. Ông
Táo phàn nàn: “Tôi phải ở trong bếp nóng
bức, mặt mũi lúc nào cũng lọ lem, còn anh ở
phòng khách mát mẻ, sạch sẽ, tay thì cầm
quạt, tay thì cầm điếu thuốc, nên vẻ phong lưu,
lúc nào cũng cười toe toét. Mỗi năm họ chỉ
cho tôi ăn một lần vào ngày 23 tháng chạp,
còn anh thì họ cúng nhang đèn bánh trái quanh
năm.” Ông Địa phân bua: “Coi vậy mà không
phải vậy anh ơi! Con người ta ngày nay lọc
lừa gian trá lắm đó anh! Những gì anh coi rực
rỡ huy hoàng xung quanh tôi chỉ toàn là đồ
giả. Nhang là nhang điện có sáng mà không
thơm. Nãi chuối anh thấy để trước mặt tôi,
nếu anh thích thì tôi cho liền, chuối nylon đó
anh, tưởng bở cắn vô là rụng răng!”
Hình ảnh Ông Địa vẫn còn gần gũi,
thân mật đối với một số người. Ở những sạp
hàng buôn bán tại các chợ miền Nam, chúng ta
còn bắt gặp những ông Địa nhỏ được chưng,
được thờ cúng tại một góc sạp. Những người
buôn bán này tin rằng ông Địa linh thiêng phò
hộ cho họ buôn may bán đắt. Họ không biết
rằng muốn làm ăn phát đạt, họ cần phải học
những nguyên tắc căn bản của ngành thương
mãi, như là vui vẻ, niềm nở, thành thật và coi
trọng khách hàng. Đằng này nhiều người một
mặt khấn vái ông Địa phò hộ trong sự buôn
bán, một mặt chửi sa sả khách hàng. Ai đi chợ
sáng sớm chắc biết kinh nghiệm này: điều đại
kỵ của những con buôn này là ai “mở hàng”
mà không mua. Họ cho là mang xui xẻo lại
cho họ. Họ rủa thầm hay chửi ra tiếng. Họ
đốt …phong long!
Không biết tới chừng nào dân mình
mới thoát khỏi những tệ đoan này và học được
cái hay của người khác?
Con người có nhu cầu trong đời sống
tâm linh là sự thờ phượng. Từ đông tây kim
cổ, con người hay tìm cái gì để thờ. Họ thờ
thần núi, thần sông, thần đất… thờ luôn các
con thú, đồ vật, thờ ngay cả vị “Thần Không
Biết” như Phao-lô thấy ở thành phố Nhã Điển.
Phao-lô đứng giữa hội đồng A-rê-ô-ba và nói:
"Thưa quý vị là nguời A-then, tôi nhận thấy
bất luận việc gì quý vị cũng rất sùng kính. 23
Khi đi qua quan sát các nơi thờ tự của quý vị,
tôi có thấy một bàn thờ khắc chữ ‘Thờ Thần
Không Biết’” (Công Vụ 17:22-23). Trong
Êsai 44:15 ghi lại chuyện người ta lấy gỗ làm
củi đốt, rồi lấy một phần gỗ ấy chạm thành
tượng một vị thần, rồi quỳ xuống lạy. Rồi
người cầu nguyện với thần ấy rằng: "Xin hãy
cứu tôi vì ngài là thần của tôi."
Trong Habakkuk 2:18 có lời cảnh
giác chúng ta về các hình tượng: “Ích gì cho
một hình tượng do người thợ gọt đẽo, Một
tượng đúc bằng kim loại? Toàn là thầy dạy
chuyện dối gạt! Ích gì khi người thợ tin cậy
vật mình làm ra, Những thần tượng câm?
Thi-Thiên 115:4-8 (BDM) nói rõ sự vô dụng
của các pho tượng: “Các tượng thần của chúng
nó là bạc và vàng; Là sản phẩm do tay người
làm ra. Các tượng ấy có miệng nhưng không
nói được, Có mắt nhưng không thấy; Có tai
nhưng không nghe được, Có mũi nhưng
không ngửi; Có tay nhưng không cảm thấy gì,
Có chân nhưng không đi; Và cuống họng
không có tiếng thở.”
Kinh Thánh ghi một trong 10 điều răn
là: “Các ngươi không được làm cho mình
tượng theo hình dạng của bất cứ vật gì ở trên
trời cao, ở trên mặt đất hay ở dưới nước. Các
ngươi không được sấp mình thờ phượng các
tượng ấy; vì Ta là CHÚA, Đức Chúa Trời các
ngươi, Đức Chúa Trời kỵ tà” (Xuất 20:4-5).
Cơ-Đốc nhân chỉ thờ phượng Đức
Chúa Trời chính là Thượng Đế, là Tạo Hóa mà
thôi, và không phải qua hình tượng mà dùng
tâm thần, lẽ thật trong sự thờ phượng vì Đức
Chúa Trời là thần*. Đó là ý mà sứ đồ Giăng
ghi lại lời Chúa Giê-su phán cùng người đàn
bà Samari.
NSM 183-184
*John 4:24 “God is a Spirit: and they that worship
him must worship in spirit and truth.”
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Cám ơn bạn đã đọc bài viết. bạn có nhận xét gì về bài viết và quan điểm của bạn hãy để lại vài lời chia sẻ cùng mọi người. Xin lưu ý bạn, các nhận xét không có tính góp ý xây dựng sẽ bị xoá ngay. Các nội dung gõ bằng tiếng Việt, có dấu rõ ràng sẽ không làm người khác hiểu lầm. Xin trân trọng cảm ơn bạn đã ghé thăm blog.Chúa ban phước cho bạn!