Mahatma Gandhi là một trong những
nhà lãnh đạo được kính trọng nhất trong lịch sử
hiện đại. Ông là cha đẻ của chủ trương tranh
đấu bất bạo động và là người đã giải phóng Ấn
Độ khỏi ách thống trị của Đế Quốc Anh, đem lại
sự độc lập cho quốc gia này vào ngày 15 tháng
8 năm 1947.
Tuy xuất thân từ một gia đình theo Ấn
Độ Giáo (Hinduism), ông Gandhi rất ngưỡng mộ
Chúa Giê-su và vô cùng cảm kích về Bài Giảng
Trên Núi của Ngài được ghi lạị trong sách Phúc
Âm Mathiơ (chương 5,6,7). Chính tám phước
lành trong bài giảng này (Mathiơ 5:1-12) đã gợi
hứng cho chủ trương tranh đấu bất bạo động của
ông. Thêm vào đó, ông Gandhi cũng đã xác tín
rằng Cơ Đốc Giáo là giải pháp cho mối ung nhọt
phân chia giai cấp đang đục khoét xã hội Ấn Độ
trong nhiều thế kỷ qua. Trong số các tôn giáo,
ngoài Ấn Độ Giáo ra, không có một tôn giáo nào
đã làm cho ông cảm kích và chịu ảnh hưởng
bằng Cơ Đốc Giáo. Tuy nhiên, ông Gandhi đã
cự tuyệt việc từ bỏ tôn giáo truyền thống của
mình là Ấn Độ Giáo để làm tín đồ Cơ Đốc. Tiến
Sĩ Eli Stanley Jones, một Giáo Sĩ của Hội Thánh
Giám Lý (Methodist) hầu việc Chúa tại Ấn Độ
vào những thập niên đầu của thế kỷ 20, có lần đã
hỏi ông Gandhi rằng: “Ông Gandhi ơi! Mặc dù
ông thường trích dẫn những lời giảng dạy của
Chúa Cứu Thế, nhưng vì sao ông lại cự tuyệt
việc trở thành Tín Đồ của Ngài?” Ông Gandhi
trả lời như sau: “Ồ không! Tôi không hề cự
tuyệt Chúa Cứu Thế của quí vị, Tôi rất yêu mến
Chúa Cứu Thế. Có điều là nhiều tín đồ trong
vòng quí vị không giống Chúa Cứu Thế một
chút nào”.
Có lẽ sự cự tuyệt theo Cơ Đốc Giáo của
ông Mahatman Gandhi bắt nguồn từ một sự việc
xảy ra khi ông còn trẻ và đang hành nghề luật sư
tại South Africa (Nam Phi). Trong thời gian này,
niềm tin Cơ Đốc đã thu hút ông khiến ông say
mê nghiên cứu Kinh Thánh và những lời dạy dỗ
của Chúa Giê-su. Ông thực lòng muốn tìm hiểu
để trở thành một Cơ Đốc nhân nên quyết định
đến tham dự buổi thờ phượng Chúa tại một nhà
thờ lớn trong vùng. Khi mới bưóc chân lên vài
bậc thềm của nhà thờ, một người đàn ông da
trắng, là Trưởng Lão của Hội Thánh vội chận
ông trước ngưởng cửa và hỏi với một giọng hằn
học: “Ê! Tên da màu kia! Mày đi đâu mà xông
vào đây?” Ông Gandhi đáp lại “Tôi muốn vào
nhà thờ dự buổi nhóm thờ phượng Chúa.” Vị
Trưởng Lão của Hội Thánh càu nhàu: “Trong
Hội Thánh này không có chỗ nào cho người da
màu cả; ra khỏi đây lập tức hay là ta cho người
quăng mày xuống thềm”. Kể từ đó, Mahatman
Gandhi đã từ bỏ ý định trở thành Cơ Đốc nhân
và không bao giờ bước chân đến một nhà thờ
nào nữa. Sau này, ông đã tuyên bố một cách
chua chát rằng: “Nếu Cơ Đốc nhân thực sự sống
đúng theo lời dạy dỗ của Chúa Cứu Thế như
đưọc tìm thấy trong Kinh Thánh, thì ngày hôm
nay tất cả dân Ấn Độ đã là những Cơ Đốc nhân”
(If Christians would really live according to the
teaching of Christ, as found in the Bible, all of
India would be Christians today).
Câu chuyện của ông Mahatman Gandhi
cho chúng ta một bài học quí giá về thái độ của
tín đồ Cơ Đốc đối với tha nhân. Dù vô tình hay
cố ý, ai trong chúng ta cũng có thể là một
chướng ngại vật cản trở nhiều người muốn tìm
đến với Hội Thánh. Trong mỗi cách sống, mỗi
lời nói và mỗi cử chỉ của chúng ta, nếu đi ngược
lại tinh thần của Tin Lành, đều có thể là một
cách xua đuổi người khác ra khỏi nhà thờ.
Không ai là một hòn đảo đơn độc. Chân
lý này chẳng những đúng cho mối tương quan
người với người mà còn giá trị hơn nữa trong
tương quan của niềm tin. Không có một hành
động nào của một Cơ Đốc Nhân mà không ảnh
hưởng đến người khác. Trong mầu nhiệm của
sự hiệp một, chúng ta biết rằng mọi chi thể của
Chúa Cứu Thế Giê-su đều liên kết khăng khít
với nhau đến mức sức mạnh của người này là
nơi nương tựa cho người khác, và sự yếu đuối
của người này có thể làm tổn thương đến người
khác.
Không ai là một hòn đảo đơn độc. Chân
lý này cũng đúng cho tương quan của các con
cái Chúa đối với người ngoài Hội Thánh. Mỗi
chúng ta đều phải là người trung gian của Chúa
Giê-su, nhờ đó người ngoài tìm đến với Hội
Thánh. Để trở thành những người trung gian
xứng đáng của Chúa, chúng ta hãy áp dụng
những lời khuyên dạy sau đây của Sứ Đồ Phaolô:
“Nhưng bây giờ anh em nên trừ bỏ hết mọi sự đó, tức là sự thạnh nộ, buồn giận và hung ác.
Đừng nói hành ai, chớ có một lời tục tỉu nào ra
từ miệng anh em. Chớ nói dối nhau, vì đã lột bỏ
người cũ cùng công việc nó, mà mặc lấy người
mới là người đang đổi ra mới theo hình tượng
Đấng dựng nên người ấy, đặng đạt đến sự hiểu
biết đầy trọn” (Côlôse 3: 8-10)
Và:
“Hãy có lòng thương xót. Hãy mặc lấy sự nhơn
từ, khiêm nhượng, mềm mại, nhịn nhục, nếu một
người trong anh em có sự gì phàn nàn với kẻ
khác, thì hãy nhường nhịn nhau và tha thứ nhau:
như Chúa đã tha thứ anh em thể nào thí anh em
cũng tha thứ thể ấy. Nhưng trên hết mọi sự đó,
phải mặc lấy lòng yêu thương, vì là dây liên lạc
của sự trọn lành” (Côlôse 3:12b-14).
Ông Oliver Goldsmith, một nhà văn và
cũng là một y sĩ người Ái Nhĩ Lan, đã có lần
phát biểu rằng: ”Bạn có thể truyền đạt một bài
giảng luận thật hay qua chính đời sống của bạn
hơn là qua môi miệng của bạn”. Thật vậy,
những tờ truyền đạo đơn có thể giới thiệu Tin
Lành Cứu Rỗi của Chúa đến nhiều người, và
những bài giảng luận đầy ơn của quí vị Mục Sư
có thể cảm động một số người để họ mở lòng ra
tin nhận Ngài. Nhưng nếp sống và cách cư xử
đúng theo tinh thần Tin Lành của mỗi Cơ Đốc
Nhân mới là những yếu tố quan trọng để thu hút
nhiều người đến với Chúa và lưu giữ họ ở lại với
gia đình Hội Thánh lâu dài.
Đỗ Tấn Minh
Tallahassee, Florida
Theo nepsongmoi, số Xuân 2007
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Cám ơn bạn đã đọc bài viết. bạn có nhận xét gì về bài viết và quan điểm của bạn hãy để lại vài lời chia sẻ cùng mọi người. Xin lưu ý bạn, các nhận xét không có tính góp ý xây dựng sẽ bị xoá ngay. Các nội dung gõ bằng tiếng Việt, có dấu rõ ràng sẽ không làm người khác hiểu lầm. Xin trân trọng cảm ơn bạn đã ghé thăm blog.Chúa ban phước cho bạn!