
1/03/2009 07:35 (GMT + 7)
(TuanVietNam) - Sáng thứ sáu, ngày 20/2/2009, được điện thoại từ xa gọi về báo tin Giáo sư Phó Bá Long vừa qua đời ở Mỹ, tôi không khỏi bàng hoàng. Dù rằng, tuổi anh đã cao và tôi đã cảm thấy, từ hôm Tết Kỷ Sửu, sức khoẻ của anh không thật bình thường.
Hôm đó, khi theo dõi bản tin truyền hình buổi gặp mặt của Chủ tịch Nước với bà con Việt kiều về quê đón Năm mới, tôi cố tìm trên màn ảnh nhỏ xem anh Long có đến dự không, nhưng không thấy bóng dáng anh đâu.
Thầy cô Phó Bá Long
Phải chăng Tết này anh không về nước? Tôi băn khoăn. Vì nhiều năm rồi anh hầu như đều đặn về Hà Nội đón Năm Mới, ở chính ngôi nhà thân yêu của mẹ anh, số 4 ngõ Tôn Thất Thiệp, khi bà cụ còn sống và cả khi bà đã qua đời. Mỗi dịp như vậy, anh chị, gia đình chúng tôi và một vài người bạn thân khác thường có với nhau một bữa cơm cuối năm ấm áp, thân tình.
Thế rồi, chỉ mấy hôm sau, cũng trên màn ảnh nhỏ, tôi lại nhìn thấy anh, mái tóc trắng, đôi kính trắng quen thuộc, không phải ở Việt Nam mà ở thủ đô Washington, trong buổi gặp mặt đón giao thừa Kỷ Sửu của Đại Sứ Quán Việt Nam ở Hoa Kỳ. Tôi thở phào, cảm thấy nhẹ lòng.
Nhưng, giờ đây, tất cả đã là sự thật, gia đình anh đã chính thức thông báo: Giáo sư Phó Bá Long đã trút hơi thở cuối cùng vào 11g30 tối ngày 17/02/2009 tại bệnh viện Fairfax Hospital, Virginia, Hoa Kỳ, hưởng thọ 87 tuổi.
Cách xa anh nửa vòng trái đất, tôi không thể làm được gì, chỉ ngồi nhẫm lại cuộc đời sôi nổi và nhiều biến động mà anh đã trải qua…
Du học ở tuổi 12
Anh Phó Bá Long sinh năm 1922, trong một gia đình công chức bậc trung và được nuôi dạy chu đáo theo khuôn khổ Nho giáo. Cụ thân sinh, dù là quan Tuần phủ của Chính phủ Bảo hộ Pháp, nhưng vẫn cảm thấy không thật được họ ưu ái, ít nhất vì có người anh em họ gần là nhà yêu nước Phó Đức Chính bị quân Pháp xử trảm cùng với 11 đồng chí Việt Nam Quốc dân Đảng năm 1930, trong chính biến ở Yên Bái.
Anh là một trong số rất ít học sinh Việt Nam, nếu không nói là đầu tiên, được gửi sang du học tại Thượng Hải, Trung Hoa, khi mới 12 tuổi.
Anh theo học một Chương trình giáo dục Anh Quốc ở trường nội trú St Francis Xaviers College của một dòng tu Kitô giáo, trong gần 6 năm (1934-1940) và lấy văn bằng tốt nghiệp Cambridge School Certificate.
Đây là giai đoạn rất quan trọng đối với anh, chi phối lớn con đường đi của anh sau này. Trước hết, đó là giai đoạn anh trau giồi được vốn tiếng Anh quý báu cho mình.
Ở Thượng Hải, ngoài các môn Hình học, Đại số v.v…, anh Phó Bá Long luôn học giỏi tiếng Anh. Anh đã đọc và thuộc nhiều đoạn kịch của Shakespeare, sách của Jules Vernes v.v…
"Dù tuổi đã già, sức đã yếu nhưng anh vẫn nhiệt huyết cống hiến những năm tháng cuối đời cho sự xóa bỏ ngăn cách, định kiến hay mặc cảm giữa những người con nước Việt xa xứ với đồng bào mình ở trong nước, góp sức vào sự phát triển và đổi mới giáo dục đại học ở quê hương mình..."
Thứ ngoại ngữ đó còn được anh trau giồi qua trò chơi thú vị với chiếc máy thu thanh giản đơn tự tạo (chiếc máy galen) làm bằng một cuộn dây đồng và một chiếc tụ điện. Nhờ đó, tối tối anh nằm trên giường nghe các buổi phát thanh, luyện kỹ năng nghe tiếng Anh. Chính vốn tiếng Anh thành thạo đã tạo cho anh những cơ hội không phải ai cũng có được trong cuộc đời và là chiếc cầu đưa anh đến những chân trời mới sau này.
Cũng trong giai đoạn đó, năm 1939, anh có một quyết định quan trọng, tự mình chon lựa tín ngưỡng khác với truyền thống gia đình và tín ngưỡng đó – Kitô giáo đã chiếm trọn trái tim và khối óc, chi phối anh suốt đời.
Học xong chương trình Trung học tại Anh quốc, năm 1940 anh về nước. Ở Hà Nội, anh tiếp tục hoàn tất chương trình Tú tài Pháp ở Trường Bưởi và Trường Lycée Albert Sarraut.
Đồng hành cùng dân tộc
Cách mạng Tháng Tám nổ ra, anh đi theo quân đội, tham gia khóa học chính trị của Vệ Quốc Quân, rồi chuyển sang học các lớp Quân Dược ở Hà Nội. Trong hồi ký của mình, anh nhắc lại một kỷ niệm đặc biệt trong khoảng thời gian này.
Những năm 1945 - 1946, anh hẳn là một trong số ít người ở Hà Nội thông thạo tiếng Anh, vì vậy anh là người đầu tiên được giao đọc bản Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chủ tịch bằng tiếng Anh, nhiều lần, trên Đài Tiếng nói Việt Nam. Và điều thú vị bất ngờ nữa, cũng trong dịp đó, người em gái của anh tên là Thanh Liêm, được giao hát bài “Tiến quân ca” của nhạc sĩ Văn Cao (đã trở thành Quốc ca của Việt Nam) trên sóng của Đài tiếng nói Việt Nam.
Thầy Phó Bá Long và cô Claire Đặng Trung Nghĩa thăm lại trường ĐH Quản trị Kinh doanh Quốc gia Campuchia
Sau ngày toàn quốc kháng chiến, anh lên chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến. Trong những năm 1946 – 1950, trong tư cách là một người lính quân dược, một người thông thạo tiếng Anh hiếm hoi, anh đã được trao nhiều công việc khác nhau. Nhưng ấn tượng nhất là được cử tham gia chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn, giúp Hồng quân Trung Hoa đánh đuổi quân của Tưởng Giới Thạch, giải phóng cho họ một vùng sát biên giới nước ta. Vài năm trước đây, ở Hà Nội, anh có đưa tôi xem giấy ghi công là một trong những người đã tham gia chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn.
Anh Phó Bá Long trở về Hà Nội năm 1950. Theo anh, chủ yếu là do trong anh xuất hiện “những trăn trở giữa lòng ái quốc và niềm tin vào Thiên Chúa”. Đó là thời kỳ lịch sử mà các mối quan hệ giữa dân tộc, thực dân Pháp và tôn giáo này khá nặng nề.
Việc chọn người - người chọn việc
Nhưng về lại Hà Nội, anh vẫn quyết chí theo con đường học vấn. Và vốn Anh văn thành thạo lại chắp cho anh đôi cánh.
Với khả năng ngoại ngữ này, tháng 7 năm 1954, anh trúng tuyển Chương trình học bổng Fulbright của Mỹ. Anh được xuất ngoại lần nữa. Điểm đến lần này là Trường Đại học Harvard, thành phố Boston.
Sau hai năm theo học, anh hoàn thành bậc Cao học Kinh doanh tại Harvard Business School. Cùng với Tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh và một số người khác, anh thuộc lứa người Việt đầu tiên được đào tạo ở trường đại học danh tiếng ấy.
Ngay sau khi tốt nghiệp, năm 1956, anh Phó Bá Long chọn con đường trở về nước. Anh về Sài Gòn và bắt đầu lập nghiệp trong lĩnh vực kinh tế, với những công việc khác nhau như Quản trị viên Ngân hàng Quốc gia, Tổng Giám đốc Nhà máy gạch Bắc Kỳ, Công ty Thủy tinh và Giám Đốc bản xứ cho hãng dầu Esso tại Sài Gòn.
Anh cũng thử sức mình trong lĩnh vực chính trị, thậm chí được mời giữ ghế Bộ trưởng Lao Động. Nhưng hình như ở môi trường này anh luôn cô độc, anh khó ăn nhập với dòng thời cuộc và kết quả là anh phải sớm từ giã.
Chuyên tâm vào giáo dục
Năm 1970, GS Phó Bá Long chuyển qua lĩnh vực giáo dục và chọn thành phố cao nguyên, Đà Lạt làm điểm dừng. Ban đầu làm giảng viên, rồi được bổ nhiệm Khoa trưởng trường chánh trị kinh doanh, thuộc Viện Đại học Đà Lạt; bấy giờ thuộc Giáo hội Công giáo Việt Nam quản lý, sau đó còn kiêm nhiệm Khoa trưởng trường Cao học Chính trị kinh doanh.
Hoạt động của GS Phó Bá Long trong giai đoạn 1970-1975 đã ghi lại dấu ấn sâu đậm trong quá trình hình thành và phát triển Đại học Đà Lạt, để lại nhiều kỷ niệm và sự kính trọng trong cộng đồng giáo chức và sinh viên đến tận bây giờ.
Sự nghiệp giáo dục có lẽ thích hợp với anh hơn cả, nó đã gắn bó với anh cho đến cuối đời. Năm 1975, trở lại Hoa Kỳ, anh lại đảm nhận nhiều công việc giảng dạy khác nhau như dạy Anh văn tại trường trung học, giảng dạy môn học Marketing (Tiếp Thị) tại Trường Đại học Hoa Kỳ (American University) v.v…
Và từ năm 1983-1989 anh là Giám đốc Chương trình Đào tạo Kinh doanh cho người Việt Nam và các nước đang phát triển, dưới sự bảo trợ của Đại học Georgetown ở bang Virginia. Chương trình này tạo điều kiện cho anh đi tới nhiều trường đại học ở Việt Nam, Lào và Campuchia và bản thân anh đã từng trực tiếp đến những nơi đó giảng bài.
Anh về lại Việt Nam, về lại Hà Nội vào năm 1987. Hơn 30 năm mới trở về quê hương Hà Nội, thế cũng hơi muộn, nhưng đổi lại, từ đó, anh có mặt ở trong nước, ở Hà Nội hầu như thường xuyên, hàng năm.
Về nước, anh cũng không quên trở về thăm trường cũ của, ĐH Đà Lạt. Tôi gặp anh lần đầu tiên ở đó. Anh, trong tư cách một cựu Khoa trưởng chính trị kinh Doanh xưa và tôi, Hiệu trưởng Đại học Đà lạt bấy giờ, chúng tôi sát cánh nhau tổ chức một cuộc “Hội thảo về Quản trị Kinh doanh” ngay ở Trường Đại học Đà Lạt giữa năm 1989.
Đó là một cuộc hội thảo lớn với sự tham gia của mấy trăm nhà kinh doanh, nhà nghiên cứu, nhà giáo dục, có cả các cựu sinh viên Đại học Đà lạt, những học trò thân yêu của anh v.v…, về một đề tài hãy còn mới mẻ và nhạy cảm thời đó, ở một thời điểm cũng nhạy cảm khi đất nước vừa mới bắt đầu mở cửa và đổi mới.
Đó là một kỷ niệm không bao giờ quên giữa anh và tôi. Hai mươi năm đã trôi qua, dù tôi rời xa Đà Lạt từ lâu rồi, nhưng chúng tôi vẫn gặp nhau, ở trong nước và cả ở bên Mỹ, gần Washington D.C., trong ngôi nhà vườn yên tĩnh của anh. Thỉnh thoảng chúng tôi nhắc lại chuyện cũ và vui về việc làm có phần táo bạo khi tổ chức một cuộc hội thảo ‘hoành tráng” năm ấy.
Táo bạo đối với anh vì đã dám đi giữa một làn ranh hiểm nguy vô hình, giữa một bên là những dị nghị trong nước và bên kia là các định kiến và cả chống đối của không ít người Việt bên Mỹ. Còn táo bạo đối với tôi, vì dám vội mở rộng cánh cửa cải cách nhà trường, sớm tiếp nhận luồng gió mới…
Sau cuộc hội thảo nói trên, tôi đã giành thì đưa anh thăm và làm việc với các trường đại học khác như Đại học Kinh tế TP. HCM, Đại học Cần Thơ, Đại học Tổng hợp Hà Nội…
Ở những nơi đó, anh đã trở lại với những bài giảng nằm lòng của mình thuở xưa, sinh động với một phương pháp trình bày mới mẻ, phương pháp điển cứ (case study). Với những hoạt động đó, anh thực sự góp phần khích lệ việc hình thành những hướng đào tạo mới về Quản trị Kinh doanh ở một số trường đại học. Sau này, anh còn tiếp tục hoạt động này ở các trường đại học Vientiane (Lào), Pnompenh (Campuchia)…
Tận tâm tận tình, những năm tháng cuối đời
Không còn một người thầy cả đời tận tụy với sự nghiệp giáo dục, một nhà giáo đáng kính của Viện Đại học Đà Lạt một thời...
Rõ ràng, dù tuổi đã già, sức đã yếu nhưng anh vẫn nhiệt huyết cống hiến những năm tháng cuối đời cho sự xóa bỏ ngăn cách, định kiến hay mặc cảm giữa những người con nước Việt xa xứ với đồng bào mình ở trong nước, góp sức vào sự phát triển và đổi mới giáo dục đại học ở quê hương mình.
Anh cũng không quên chu toàn phận sự đạo làm con với người mẹ thân yêu, mỗi lần anh trở về. Đến thăm anh, có người đã chứng kiến cảnh người con; một ông già tóc bạc trắng, ngồi hàng giờ, ném quả bóng nhỏ cho mẹ mình bắt để luyện cho trí óc bà đỡ trì trệ. Nhiều người còn nhìn thấy, sáng sáng ông già ấy đẩy xe đưa bà cụ già hơn dạo lững thững trên con đường từ nhà đến Quảng trường Ba Đình.
Trong mấy năm gần đây, bà cụ thân sinh không còn nữa, tuổi anh đã vượt qua ngưỡng 80, sức khỏe cũng không cho phép anh tiếp tục cống hiến cho sự nghiệp giáo dục mà anh đã theo đuổi ngót 50 năm trường, anh vẫn về nước đều đặn, hàng năm. Vẫn gặp gỡ thăm viếng người thân, bạn hữu, học trò cũ ở nhiều nơi trên đất nước Việt Nam.
Với sự chăm sóc và tháp tùng bên cạnh của người vợ nghĩa tình, chị Đặng Trung Nghĩa, anh Phó Bá Long đã đi thăm nhiều nơi trên tổ quốc Việt Nam như Sapa, Điện Biên Phủ, Hồ Ba Bể, Tân Trào, La Vang, Phú Quốc…và cả những nơi anh từng sống trước đây như Thượng Hải (hồi còn trẻ), Quảng Châu, Ninh Minh (thời kháng chiến chống Pháp).
Giờ đây GS Phó Bá Long, anh Phó Bá Long không còn nữa. Không còn một người thầy cả đời tận tụy với sự nghiệp giáo dục, một nhà giáo đáng kính của Viện Đại học Đà Lạt một thời, một nhà trí thức Việt kiều nhiệt tâm hàn gắn vết thương ngăn cách giữa những người con đất Việt tha hương với quê hương mình, một con người luôn lạc quan và quả cảm dù cuộc đời nhiều sóng gió và không ít lúc cô đơn trong những bước thăng trầm và đầy biến động của đất nước.
Tưởng nhớ Giáo sư Phó Bá Long, tôi xin được ghi lại những dòng trên đây như một nén nhang kính viếng hương hồn Anh, một lời phân ưu chia sẻ chân thành đến chị Phó Bá Long và gia quyến cùng tất các những đồng nghiệp, cựu sinh viên và bạn bè thân hữu của anh ở khắp mọi nơi.
*
Trần Thanh Minh
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Cám ơn bạn đã đọc bài viết. bạn có nhận xét gì về bài viết và quan điểm của bạn hãy để lại vài lời chia sẻ cùng mọi người. Xin lưu ý bạn, các nhận xét không có tính góp ý xây dựng sẽ bị xoá ngay. Các nội dung gõ bằng tiếng Việt, có dấu rõ ràng sẽ không làm người khác hiểu lầm. Xin trân trọng cảm ơn bạn đã ghé thăm blog.Chúa ban phước cho bạn!