Thứ Năm, 23 tháng 4, 2009

Nadine Gordimer

(VietNamNet) - Nhà văn phục vụ nhân loại chỉ khi anh hay chị ta sử dụng ngôn ngữ dù để chống lại ngay lời thề trung thành của chính mình, khi nhà văn tôn trọng sự thật như chính bản chất của nó, để nắm lấy trong mớ phức hợp từng sợi nhỏ bện nên chuỗi sự thật, để một lúc nào đó có thể kết nối chúng lại với nhau, chỗ này hay chỗ khác, trong nghệ thuật. - Nadine Gordimer

Nadine Gordimer (20/11/1923)

Giải Nobel Văn học 1991

* Nhà văn Nam Phi gốc Do Thái

* Nơi sinh: Thị trấn Springs (Nam Phi)

Nadine Gordimer là nhà văn Nam Phi đầu tiên được trao giải Nobel. Bà là tác giả của rất nhiều tiểu thuyết và truyện ngắn nhưng - theo lời của chính bà - hợp lại thành một cuốn sách duy nhất viết về lí tưởng đấu tranh vì nhân phẩm và bảo vệ những giá trị văn hóa trong những điều kiện tàn bạo của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc.

Nadine Gordimer sinh ra trong một gia đình thợ kim hoàn gốc Do Thái di cư, ở một thị trấn của những người thợ mỏ gần Johannesburg, Nam Phi; bố người Litva, mẹ là người Anh. Sau khi học xong trường dòng, bà vào học trường Đại học Witwatersrand ở Johannesburg. N. Gordimer đã đi du lịch khắp Châu Phi, Châu Âu và Bắc Mỹ, nhưng vẫn sống chủ yếu ở Johannesburg. Năm 1954, bà kết hôn với một thương gia tên là Reinhold Cassirer. Mỗi người có một con gái riêng từ cuộc hôn nhân trước và họ có với nhau một đứa con trai chung.

Nadine Gordimer bắt đầu viết lúc lên chín và truyện ngắn đầu tiên được đăng trên một tạp chí của Nam Phi khi bà mười lăm tuổi. Tập truyện đầu tiên Mặt đối mặt xuất bản năm 1949. Một năm sau đó tập truyện Lời dịu dàng của rắn ra mắt và bà bắt đầu nổi tiếng. Tiểu thuyết đầu tiên Những ngày gian dối (1953) kể về cô gái Helen đã trải qua những biến cố chính trị, xã hội phức tạp ở Nam Phi giống nhơ chính tác giả. Các tiểu thuyết Cơ hội tình yêu (1963), Thế giới tư bản đã mất (1966) trong một thời gian dài bị cấm xuất bản ở Nam Phi. Năm 1974 tác phẩm Người bảo thủ được trao giải Booker. Bà nổi tiếng thế giới với tiểu thuyết Những người tháng bảy (1981) kể về gia đình một kiến trúc sư bỏ thành phố Johannesburg chạy về làng quê. Trong tiểu thuyết này, bà phân tích mối quan hệ của những người nông dân với một gia đình người da trắng, chỉ ra sự thiếu hiểu biết lẫn nhau giữa những tầng lớp xã hội khác nhau.

Những năm 1940-1950, khi ở Nam Phi thi hành chính sách phân biệt chủng tộc, đề cao chủ nghĩa Apartheid, cấm hôn nhân giữa người da trắng và da đen, N. Gordimer đã dùng ngòi bút của mình để phản kháng. Là một người da trắng sống tại Nam Phi, một nhà hoạt động xã hội xuất chúng, các tác phẩm của bà có ảnh hưởng rất lớn trong dư luận xã hội ở Nam Phi, đặc biệt là tập tiểu luận Cuộc đời trong hi vọng và trong lịch sử: Những ghi chép về thế kỉ chúng ta được xuất bản năm 1999. N. Gordimer còn đề xuất một dự án từ thiện: tổ chức một tuyển tập của các tác giả truyện ngắn xuất sắc nhất thế giới (trong đó có 5 nhà văn đoạt giải Nobel), xuất bản và bán lấy tiền ủng hộ các nạn nhân bị nhiễm HIV trên khắp thế giới.

N. Gordimer luôn mong muốn được sống cuộc sống bình thường, thoát khỏi sự chú ý của công chúng; nhưng sự nổi tiếng của bà cùng nhiều giải thưởng, các bằng Tiến sĩ Danh dự ở nước ngoài (bà đã từ chối một bằng Tiến sĩ Danh dự ở Nam Phi), việc bà giữ nhiều vị trí (bà là phó chủ tịch Hội Văn bút Quốc tế) và việc bà liên tục viết, phát biểu tự do trong một đất nước cảnh sát, - nơi mà sự kiểm duyệt, sự khủng bố các tác phẩm và người dân vẫn còn tồn tại - đã khiến bà trở thành "nhà văn Nam Phi kì cựu nhất". N. Gordimer đã nhiều lần được đề nghị tặng giải Nobel và năm 1991 bà trở thành nhà văn Nam Phi đầu tiên giành được vinh dự này. Sách của N. Gordimer được dịch ra gần 30 thứ tiếng trên thế giới, trong đó có tiếng Việt.

* Tác phẩm:

- Mặt đối mặt (Face to face, 1949), tập truyện.

- Lời dịu dàng của rắn (The soft voice of the serpent, 1952), tập truyện.

- Những ngày gian dối (The lying days, 1953), tiểu thuyết.

- Sáu thước đất (Six feet of the country, 1956), tập truyện.

- Thế giới những kẻ lạ mặt (A world of strangers, 1958), tiểu thuyết.

- Dấu chân ngày thứ sáu (Friday’s footprint, 1960), tập truyện.

- Cơ hội tình yêu (Occasion for loving, 1963), tiểu thuyết.

- Không phải để công bố (Not for publication, 1965), tập truyện.

- Thế giới tư bản đã mất (The late bourgeois world, 1966), tiểu thuyết.

- Khách danh dự (A guest of honour, 1970), tiểu thuyết.

- Những người bạn của Livingstone (Livingstone’s companions, 1971), tập truyện.

- Người bảo thủ (The conservationist, 1974), tiểu thuyết.

- Những viên đá chọn lựa (Selected stones, 1975), tập truyện.

- Ngày thứ hai nào đó (Some monday for sure, 1976), tập truyện.

- Con gái của Burger (Burger’s daughter, 1979), tiểu thuyết.

- Vòng tay người lính (A soldier’s embrace, 1980), tập truyện.

- Những người tháng bảy (July’s people, 1981), tiểu thuyết.

- Điều gì ở ngoài nơi đó (Something out there, 1984), tập truyện.

- Môn thể thao tự nhiên (A sport of nature, 1987), tiểu thuyết.

- Chuyện con trai tôi (My son’s story, 1990), tiểu thuyết.

- Cú nhảy và các truyện khác (Jump and other stories, 1991), tập truyện.

- Tội phạm lương tâm (Crimes of conscience, 1991), tập truyện.

- Tại sao anh không viết (Why haven’t you written, 1992), tập truyện.

- Không ai cùng tôi (None to accompany me, 1994), tiểu thuyết.

- Ngôi nhà có tiếng súng (The house gun, 1998), tiểu thuyết.

- Cuộc đời trong hi vọng và trong lịch sử: Những ghi chép về thế kỉ chúng ta (Living in hope and history: Notes from our century, 1999), tiểu luận.

- Lượm nhặt (The pick up, 2001), tiểu thuyết.

- Chiến lợi phẩm và các truyện khác (Loot and other stories, 2003), tập truyện.

* Tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt:

- Thần tượng (nguyên tác: My son’s story, tiểu thuyết), Văn Hòa dịch, NXB Văn hóa - Thông tin, 2002.

- Những cuộc đời bị phù phép, Dương Tường dịch, in trong Truyện ngắn chọn lọc - tác giả đoạt giải Nobel, NXB Hội Nhà Văn, 1998; Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Hội Nhà Văn, 2004.

- Một khoảng trời khác, Phạm Viêm Phương dịch, in trong Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Hội Nhà Văn, 2004.

- Cái tìm được, Lê Huy Bắc dịch, in trong Truyện ngắn đặc sắc các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Văn Học, 2004.

- Hôi của (nguyên tác: Loot, truyện ngắn), Trần Tiễn Cao Đăng dịch từ nguyên bản tiếng Anh, đăng trên http://evan.com.vn năm 2004.

© Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây
Diễn từ Nobel
Viết và tồn tại
Khởi thủy là Lời.

Lời đến cùng Chúa, là Lời của Chúa, là Tạo Hóa. Nhưng qua hàng thế kỉ văn hóa nhân loại, lời đã bao hàm những nghĩa khác, trần tục cũng như tôn giáo. Có quyền nói trở thành đồng nghĩa với quyền lực tối cao, với uy tín, với tài thuyết phục đáng sợ, đôi khi nguy hiểm, có cơ hội nói trên truyền hình vào giờ cao điểm, có tài ăn nói cũng như khả năng nói trôi chảy, lưu loát nhiều thứ tiếng. Lời nói bay qua khoảng không, dội lại từ các vệ tinh, những vệ tinh giờ đây gần hơn bao giờ hết với thiên đàng, nơi trước kia người ta tin là khởi nguồn của nó. Nhưng thay đổi quan trọng nhất của nó đã xảy đến với tôi và những người như tôi từ xa xưa, khi nó lần đầu tiên được khắc trên tấm đá hay vạch trên giấy papyrus, khi nó vật chất hóa từ âm thanh trở thành có hình hài, từ được nghe tới được đọc thành một chuỗi kí hiệu, rồi thành chữ viết, và vượt thời gian từ những tấm da thuộc cho tới Gutenberg. Bởi đây chính là câu chuyện về khởi nguồn của nhà văn. Đó là câu chuyện đã viết nên sự ra đời của nhà văn.

Kì lạ thay, đó là một quá trình kép, sản sinh ra cả nhà văn lẫn chính mục đích của nhà văn như một đột biến dưới tác động của văn hóa nhân loại. Nó vừa mang tính bản thể như là nguồn gốc và quá trình phát triển của cá nhân, vừa là sự thích ứng, trong bản chất của cá nhân đó, đặc biệt là sự khám phá ra cội nguồn bản thể, nguồn gốc và phát triển của cá nhân. Mỗi nhà văn chúng ta đều tham gia vào nhiệm vụ đó. Giống như những tù nhân bị nhốt cùng một con báo đốm trong truyện “Chữ Chúa Trời” của Borges , những kẻ ra sức đọc những dấu hiệu khắc lên da con vật, dưới làn ánh sáng mỗi ngày chỉ xuất hiện một lần, để tìm ý nghĩa của sự tồn tại, chúng ta dành cả đời mình để mong giải thích, thông qua từ ngữ, những cách đọc mà chúng ta có được từ xã hội, cái thế giới trong đó có chúng ta. Chính trong hàm nghĩa ấy, chính trong sự tham gia vô cùng phức tạp và không thể nào mô tả ấy mà viết văn luôn luôn và cùng một lúc vừa là sự khám phá bản thân vừa là sự khám phá thế giới; khám phá sự tồn tại của cá nhân hay của cộng đồng.

Tồn tại nơi đây.

Con người, loài động vật duy nhất tự tìm hiểu bản thân, được phú cho hay chịu lời nguyền phải mang cái năng lực cao vời khổ ải này, luôn luôn muốn biết tại sao. Và đó không chỉ là câu hỏi mang tính bản thể luận tại sao chúng ta lại ở đây, câu hỏi mà các tôn giáo và triết học đã cố gắng tìm câu trả lời quả quyết cho những dân tộc khác nhau, vào những thời đại khác nhau, và khoa học cố thử làm sáng tỏ những lời giải thích về việc loài người có sẽ tuyệt chủng, giống như loài khủng long, trong những thiên niên kỷ tới, mà vẫn không đạt được những hiểu biết tổng thể cần thiết. Kể từ khi loài người bắt đầu tìm hiểu chính mình, họ đã kiếm tìm lời giải đáp cho những hiện tượng chung như sinh sản, cái chết, vòng tuần hoàn các mùa, đất đai, biển cả, gió và các vì sao, mặt trời và mặt trăng, thiên tai và mùa màng phong phú. Bằng thần thoại, những nhà kể chuyện dân gian, bậc tiền bối của các nhà văn, bắt đầu cảm nhận và dựng nên những huyền thoại đó. Họ sử dụng những nhân tố trong đời sống thường ngày - những thực tế có thể quan sát được - và trí tưởng tượng - cái sức mạnh khám phá vào những điều bí ẩn - để dựng nên câu chuyện.

Roland Barthes đặt câu hỏi: “Đặc điểm của huyền thoại là gì?”. Câu trả lời là: “Để chuyển ý nghĩa thành hình thức”. Như thế, huyền thoại là những câu chuyện đóng vai trò trung gian giữa những điều đã biết và những điều chưa biết. Claude Lévy-Strauss đã giải huyền thoại hóa (de-mythologize) các huyền thoại một cách dí dỏm bằng cách coi nó là một thể loại trung gian giữa chuyện cổ tích và truyện trinh thám. ở đây, chúng ta không biết ai đã sáng tạo ra nó. Nhưng vẫn có thể nghĩ ra một cái gì đó, nếu không phải là câu trả lời thì ít ra cũng làm chúng ta hài lòng. Huyền thoại là bí ẩn cộng thêm những hoang đường - các vị thần, các loài chim thú được nhân tính hóa, các linh vật và yêu quái - nó vượt ra khỏi trí tưởng tượng, là lời giải đáp cho những điều bí ẩn. Loài người cùng với những loài vật thân thuộc của họ là chất liệu cho câu chuyện, song, như Nikos Kazantzakis từng viết: “Nghệ thuật không phải là sự thể hiện cơ thể con người mà là sự thể hiện những thế lực đã tạo ra cơ thể con người”.

Về các hiện tượng tự nhiên, hiện đã có nhiều lời giải đáp được chứng minh; song lại có những câu hỏi mới nảy sinh từ chính những câu trả lời đó. Vì lí do này, huyền thoại chưa bao giờ bị quên lãng hoàn toàn, mặc dù chúng ta thường cho rằng nó là một thể loại cũ kỹ. Nếu như ở một vài xã hội nó đã bị thu hẹp trong phạm vi những câu chuyện kể cho trẻ nhỏ trước giờ đi ngủ, thì tại những vùng trên thế giới được bảo vệ bởi những cánh rừng và hoang mạc chống lại sự thâm nhập của nền siêu văn hoá quốc tế, nó vẫn tiếp tục sống, vẫn tiếp tục thể hiện nghệ thuật như là trung gian giữa cá nhân và tồn tại. Và nó đã làm một cuộc quay trở lại dữ dội từ không gian, vị thần Inca đầu thai thành Người dơi (Batman) và những loài tương tự, kẻ chưa bao giờ rơi vào đại dương thất bại trong cuộc đối đầu với lực trọng trường của cuộc sống. Tuy nhiên, những huyền thoại mới này không cố làm sáng tỏ và cung cấp những câu trả lời mà chỉ nhằm tiêu khiển, để đưa ra một lối thoát tưởng tượng cho những ai không còn muốn đối mặt với ngay cả những câu trả lời thậm chí liều lĩnh đối với nỗi kinh hoàng về sự tồn tại của họ. (Âu cũng là điều tốt nếu ta biết rằng loài người giờ đây sở hữu những công cụ để phá hủy toàn bộ hành tinh của họ, cái nỗi sợ rằng bằng cách này, bản thân họ đã trở thành những vị Chúa trời, gánh vác trách nhiệm đáng sợ về sự tiếp tục tồn tại của chính họ, những vị Chúa trời đã tạo ra những truyện tranh và những bộ phim thần thoại thoát ly thực tế). Những sức mạnh của sự tồn tại vẫn còn đó. Đó là những gì mà nhà văn, khác với những tác giả huyền thoại dân gian đương đại, ngày nay vẫn tiếp tục viết, như những gì huyền thoại dưới dạng thức cổ xưa của nó từng làm.

Các nhà văn đã dấn thân vào cái nghiệp này như thế nào, họ đang tiếp tục những thử nghiệm văn chương ra sao, việc đó, có lẽ hơn bao giờ hết, là đề tài nghiên cứu của các nhà nghiên cứu văn học. Nhà văn, trong tương quan với bản chất của thực tại có thể lĩnh hội và những gì ở bên ngoài nó - cái thực tại không thể lĩnh hội - là cơ sở cho tất cả những nghiên cứu này, dù cho tất cả những khái niệm liên quan được gọi là gì đi nữa, và dù các nhà văn được phân loại vào đâu trong những cuốn biên niên văn học sử. Thực tại được kiến tạo từ nhiều thành tố và thực thể, hữu hình và vô hình, được biểu đạt hay không thể biểu đạt. Vậy mà, kể từ những gì được coi là biện pháp tâm lý cổ lỗ cho đến chủ nghĩa hiện đại rồi chủ nghĩa hậu hiện đại, cấu trúc luận và hậu cấu trúc luận, tất cả các nghiên cứu văn học đều nhắm vào một mục đích cuối cùng: trói buộc vào sự bất biến (và bất biến là gì nếu không phải cái nguyên lý ẩn sau một điều bí ẩn?); là, thông qua phương pháp luận, làm cho hiểu biết của nhà văn về các thế lực của tồn tại trở nên có tính quyết định. Nhưng cuộc sống tự nó đã là may rủi; sự tồn tại không ngừng bị lôi kéo, bị nhào nặn theo cách này hay cách khác bởi hoàn cảnh và những cấp độ khác nhau của ý thức. Không có một trạng thái tồn tại thuần túy, và theo đó, không có cái văn bản thuần túy, cái văn bản “thực” trong khi chỉ bao gồm những điều may rủi. Điều này chắc chắn không thể đạt được bởi bất kỳ một phương pháp luận phê phán nào, dù nỗ lực làm việc đó có thú vị đến đâu. Phá hủy (hay “giải kiến tạo”, deconstruct) một văn bản theo cách nào đó lại là điều ngược lại, bởi, phá hủy ở đây là kiến tạo lại một cấu trúc mới từ những mảnh vỡ, như Roland Barthes đã làm một cách ngoạn mục, và thừa nhận trong bài phân tích ngôn ngữ và ý nghĩa tác phẩm Sarrasine của Balzac. Vậy là rốt cuộc, các nhà nghiên cứu văn học, chính họ, hóa ra cũng trở thành một kiểu nhà kể chuyện.

Có lẽ không có cách nào khác để hiểu con người ngoài con đường thông qua nghệ thuật? Bản thân các nhà văn không phân tích những gì họ làm; phân tích như thế chẳng khác nào nhìn xuống dưới trong khi đi trên dây căng giữa hai ngọn núi. Nói vậy không phải là để huyền thoại hóa quá trình viết văn, mà là để hình dung sự tập trung tinh thần căng thẳng mà nhà văn phải có hầu vượt qua vực thẳm của sự may rủi và biến chúng thành vực thẳm của chính ngôn từ, giống như nhà thám hiểm cắm lên mặt đất một ngọn cờ. Ở Yeats, cả “động lực cô đơn của niềm vui” trong chuyến bay đơn độc của người phi công, lẫn “vẻ đẹp khủng khiếp” sinh ra từ cuộc nổi dậy của quần chúng, đều được đồng tình lẫn bị phản đối; sự “liên kết duy nhất” khiêm tốn của E.M. Forster; cái “yên lặng, tài tình và thoát ly” đầy mưu mẹo của Joyce , và gần đây hơn là cái mê cung của Gabriel García Márquez trong đó cái thế lực ngự trị tất cả, hiện thân ở Simón Bolívar, bị biến thành nô lệ của cái thế lực duy nhất mà con người không thể chiến thắng: cái chết - Đó là một vài ví dụ về những cách thức vô cùng đa dạng mà nhà văn sử dụng để tiếp cận trạng thái của hiện tồn thông qua ngôn từ. Mọi nhà văn dù tài ở mức nào, đều hy vọng làm một ngọn đuốc nhỏ - chứ hiếm khi, dù là một thiên tài, muốn là ngọn đuốc bất thần - soi rọi vào cái mê cung tàn khốc nhưng tuyệt đẹp của trải nghiệm nhân sinh, của tồn tại nhân thế.

Anthony Burgess từng định nghĩa vắn tắt rằng văn học là “khám phá thế giới bằng phương tiện thẩm mỹ”. Tôi muốn nói rằng đó mới chỉ là nơi văn học bắt đầu, cho một cuộc khám phá còn xa hơn nhiều và chỉ những công cụ thẩm mỹ mới có khả năng biểu lộ mà thôi.

Nhà văn trở thành nhà văn như thế nào, sau khi được trao công cụ ngôn từ? Tôi không biết liệu sự khởi đầu của tôi có gì thú vị hay không. Nhưng không còn nghi ngờ rằng chúng có rất nhiều điểm chung với sự bắt đầu của nhiều người khác, trước đây vẫn rất hay được miêu tả như là kết quả của cái hội đồng hàng năm được đặt trước mặt nhà văn. Đối với bản thân tôi, tôi đã nói rằng trong tất cả những gì chân thực mà tôi viết hay nói ra không có gì chân thực cho bằng những sáng tác của tôi. Cuộc sống, quan điểm, ấy không phải là tác phẩm, bởi chính trong sự căng thẳng giữa việc đứng ngoài cuộc và việc tham gia mà cả hai đều bị tưởng tượng làm cho biến dạng. Tôi xin phép được nói đôi chút về bản thân mình. Tôi nghĩ tôi là thứ nhà văn có thể gọi là tự nhiên. Tôi không hề có ý định trở thành nhà văn. Khi mới viết, tôi không hề hy vọng sống được nhờ văn chương. Tôi viết như một đứa trẻ vui thích nắm bắt cuộc sống qua các giác quan - hình ảnh, hương vị và cảm giác về sự vật; rồi sau đó là bằng những cảm xúc đã làm tôi bối rối hay tức giận, được hình thành, tìm thấy nguồn sáng, niềm vui và niềm khuây khỏa trong ngôn từ tôi viết. Có một chuyện ngụ ngôn nho nhỏ kiểu Kafka như sau: Tôi có ba con chó: Hold-him (Mang Nó), Seize-him (Tóm Lấy Nó), và Không Bao Giờ Nữa (Nevermore). Hold-him và Seize-him là hai con chó nhỏ nòi Shipperkes bình thường, chẳng ai thèm để chú ý nếu chúng chỉ có một mình. Nhưng còn có con Nevermore nữa. Nevermore là chó lớn Đan Mạch (Great Dane) và có cái hình dáng mà hàng thế kỷ gây giống kỳ công nhất cũng không tạo ra nổi. Nevermore là một con chó gypsy. ở thị trấn nhỏ bé vùng mỏ vàng của Nam Phi nơi tôi lớn lên, tôi là một thứ Nevermore lai (mặc dầu khó mà mô tả tôi là Great Dane...), không hề có những tính cách được thừa nhận của người dân thị trấn. Tôi là một Gypsy, chắp vá những từ ngữ gom nhặt được, trau giồi những nỗ lực bản thân mình trong việc viết bằng cách học từ những gì mình đọc được. Bởi lẽ, thư viện địa phương là trường học của tôi. Thầy giáo của tôi là Proust, Chekhov và Dostoyevsky, đó là chỉ kể tên vài người mà tôi mang nợ trong nghiệp văn của mình. Vâng, trong suốt giai đoạn đó của cuộc đời mình, tôi đã kiểm chứng giả thuyết rằng mọi cuốn sách đều được hình thành từ những quyển sách khác... Nhưng tôi không dừng lại ở đó lâu, cũng không tin rằng bất cứ nhà văn có năng lực nào có thể dừng ở đó.

Cùng với tuổi thiếu nữ, sự hấp dẫn của kẻ khác lần đầu tiên xuất hiện cùng với ham muốn ái tình. Đối với đa phần trẻ em, từ đó trí tưởng tượng, thể hiện trong các trò chơi, đã mất đi để tập trung vào những mơ mộng ban ngày về tình yêu và ham muốn, nhưng đối với những người sắp trở thành nghệ sĩ thuộc loại này hay loại khác, cuộc khủng hoảng tâm lý đầu tiên kể từ khi sinh ra đó còn là một điều gì khác nữa: trí tưởng tượng mở rộng và đạt tới tầm cao mới nhờ dòng cảm xúc mới và xáo trộn. Họ nhận thức thêm nhiều điều mới mẻ. Nhà văn bắt đầu có khả năng bước vào thế giới của những mảnh đời khác. Bắt đầu quá trình vừa đứng ngoài lề vừa tham dự.

Hoàn toàn vô thức, tôi đã hướng vào đề tài “sự tồn tại”, rằng, như trong những truyện đầu tiên của tôi, liệu có hay không những suy tưởng của một đứa trẻ về cái chết và sự tàn sát, cái sự tàn sát cần thiết để, bằng một cú đánh trí mạng, kết liễu cuộc đời một con chim bồ câu bị mèo vồ, hay liệu có hay không nỗi thất vọng hoang mang và sự nhận thức đầu đời về chủ nghĩa phân biệt chủng tộc xuất hiện trên đường tôi tới trường, con đường đưa tôi ngang qua những chủ hiệu tạp hóa, bản thân họ là dân nhập cư Đông Âu, giữ địa vị xã hội thấp nhất trong các giai tầng xã hội thuộc địa nói tiếng Anh da trắng ở thị trấn mỏ, gần như là tầng lớp mà xã hội thuộc địa coi là dưới đáy, nhưng chính họ lại khinh rẻ những thợ đào vàng da đen vốn là khách hàng của họ như một giống thấp hơn con người. Phải nhiều năm sau tôi mới nhận ra rằng nếu tôi là một đứa trẻ trong lớp người đó, người da đen, tôi hẳn đã chẳng có thể trở thành nhà văn, bởi vì thư viện mà tôi được vào không mở cửa cho trẻ da đen. Bởi lẽ, học vấn nhà trường của tôi giỏi lắm cũng chỉ ở mức đại cương.

Giới thiệu bản thân mình với người khác là bắt đầu giai đoạn phát triển kế tiếp của nhà văn. Phải xuất bản cho những ai sẽ đọc tác phẩm mình đã viết. Đó là suy nghĩ ngây thơ và chân thật của tôi về việc xuất bản, và với tôi nó đã không hề thay đổi cho tới tận hôm nay, dù tôi biết rõ rằng hầu hết người ta không tin rằng nhà văn không hề định sẵn trong đầu một đối tượng bạn đọc cụ thể, và tôi còn ý thức được một điều khác: những cám dỗ vô thức và có ý thức, những cám dỗ khiến nhà văn phải thầm để ý tới chuyện ai sẽ mếch lòng, ai sẽ tán thành những gì được viết ra trang giấy - một thứ cám dỗ, giống như cái nhìn lầm đường lạc lối của Eurydice, sẽ dẫn nhà văn quay trở lại Bóng tối của những tài năng bị hủy hoại.

Cách khác không phải là nguyền rủa “tháp ngà”, cũng lại là một kẻ tàn phá tính sáng tạo. Borges có lần nói rằng ông viết cho bạn bè và để tiêu khiển. Tôi nghĩ đây là một câu trả lời khiếm nhã do bực tức để đáp lại một câu hỏi ngu xuẩn - thường là một lời buộc tội: “Anh viết là vì ai?”, hệt như lời nhắc nhở của Sartre rằng có những lúc nhà văn nên ngừng viết và chỉ hành động theo một cách khác, được ông đưa ra trong tâm trạng thất vọng về mối xung đột không thể giải quyết giữa nỗi đau buồn trước những bất công trên thế giới và nhận thức rằng công việc ông có thể làm tốt nhất là viết văn. Cả Borges và Sartre, từ những đối cực hoàn toàn trái ngược nhau trong việc phủ nhận văn học như một cứu cánh xã hội, chắc chắn hoàn toàn nhận thức rằng nó có vai trò xã hội tiềm ẩn và không thể thay thế trong việc khám phá trạng thái của hiện tồn. Từ đó nảy sinh mọi vai trò khác, như cá nhân giữa bè bạn, công chúng trong những cuộc biểu tình chống đối... Borges không viết cho bạn bè, bởi ông đã xuất bản và chúng ta đã đón nhận nhiều tác phẩm của ông. Sartre không ngừng viết, mặc dầu ông từng đứng trên chiến lũy vào năm 1968.

Tuy nhiên, câu hỏi "viết cho ai" vẫn dày vò nhà văn, gắn với mỗi tác phẩm được xuất bản. Về cơ bản, nó là hình thức khoa trương của tính khuynh hướng dù là phụ họa hay phủ nhận. Trong vấn đề này, Camus là người xử lý tốt nhất. Ông nói rằng ông thích những cá nhân dấn thân hơn là văn học dấn thân. “Người ta hoặc phục vụ toàn nhân loại hoặc hoàn toàn không phục vụ ai cả. Nhưng nếu con người cần bánh mì và công lý, và nếu những gì cần làm phải được làm để phục vụ nhu cầu đó, anh ta cũng cần một cái đẹp thuần khiết vốn là bánh mì cho trái tim mình”. Vì vậy Camus kêu gọi: “lòng can đảm lẫn tài năng trong tác phẩm”. Và Márquez theo đó định nghĩa lại tiểu thuyết lãng mạn như sau: Cách tốt nhất để nhà văn phục vụ cách mạng là viết càng hay càng tốt.

Tôi tin rằng hai tuyên bố trên có thể là cương lĩnh đối với tất cả những người viết chúng ta. Chúng không giải quyết những xung đột đã đến, và sẽ còn tiếp tục đến, với những nhà văn thời nay. Nhưng chúng phát biểu rõ ràng một khả năng chính đáng để làm như vậy, chúng buộc nhà văn đối đầu trực diện với hiện hữu của chính mình, lý do để tồn tại, với tư cách nhà văn, và lý do để tồn tại, với tư cách một con người có trách nhiệm và hành động, như bất kỳ người nào khác, trong một hoàn cảnh xã hội cụ thể.

Tồn tại ở đây: trong một thời gian và một hoàn cảnh cụ thể. Đó là vị trí hiện hữu với những ẩn dụ cụ thể đối với văn học. Czeslaw Milosz có lần thốt lên: “Thơ là gì nếu không phục vụ quốc gia hay dân tộc?” và Brecht đã viết về một thời mà “nói về cây cối gần như là một cái tội”. Nhiều người trong chúng ta đã có những ý nghĩ tuyệt vọng khi sống và viết trong những thời đại như thế, tại những nơi như thế, và giải pháp của Sartre chẳng có nghĩa lý gì trong một thế giới mà các nhà văn đã và vẫn đang bị kiểm duyệt và bị cấm viết, nơi mà, chẳng những không từ bỏ ngôn từ, người ta đã và đang phải liều mạng sống để giữ lấy và ký thác ngôn từ, trên những mảnh giấy, gửi ra ngoài tù ngục. Trạng thái hiện tồn mà cội nguồn bản thể của nó được chính chúng ta khám phá đã đầy rẫy những kinh nghiệm như vậy. Cách tiếp cận của chúng ta, nói theo lời Nikos Kazantzakis, là phải đưa ra một quyết định “kết hợp hài hoà với nhịp điệu đáng sợ của thời đại chúng ta".

Nhiều người trong chúng ta đã thấy những quyển sách nằm hàng năm trời không được rờ tới tại chính đất nước mình, sách bị cấm, nhưng chúng ta vẫn tiếp tục viết. Nhiều nhà văn bị cầm tù. Hãy chỉ tính riêng Châu Phi: Soyinka, Ngugi wa Thiong’o, Jack Mapanje, tại đất nước họ, và tại đất nước tôi, Nam Phi, đó là Jeremy Cronin, Mongane Wally Serote, Breyten Breytenbach, Dennis Brutus, Jaki Seroke: tất cả đều vào tù để trả giá cho lòng dũng cảm trong đời thực, và tiếp tục nói về cây, như các nhà thơ. Nhiều người trong số những nhà văn lớn, từ Thomas Mann tới Chinua Achebe, do các cuộc xung đột và đàn áp ở nhiều nước, đã phải chịu đày đọa, tha hương, trong đó có những người vĩnh viễn không thể khôi phục nghiệp văn, một số thậm chí còn không sống sót. Tôi nghĩ về những người Nam Phi, Can Themba, Alex la Guma, Nat Nakasa, Todd Matsikiza. Và một số nhà văn trong hơn nửa thế kỷ qua, từ Joseph Roth cho tới Milan Kundera, đã phải xuất bản tác phẩm của mình lần đầu không phải bằng tiếng mẹ đẻ.

Sau đó vào năm 1988, nhịp điệu hãi hùng của thời đại gấp gáp chưa từng thấy. Nhà văn được mời đến để đệ trình tác phẩm của họ. Trong suốt khoảng thời hiện đại rất dài, kể từ thời Khai sáng, nhà văn luôn bị sỉ nhục, bị cấm đoán, thậm chí bị lưu đày chỉ vì lý do chính trị. Flaubert ra hầu toà vì tội bất kính qua Bà Bovary, Strindberg bị buộc tội báng bổ trong Marrying, còn Người tình của Chatterley phu nhân của Lawrence bị cấm. Có rất nhiều ví dụ minh họa cho cái gọi là sự xâm phạm những lối sống đạo đức giả của xã hội tư sản, cũng như mưu đồ lật đổ chế độ độc tài chính trị. Nhưng ở một thời đại mà không thể có chuyện những quốc gia như Pháp, Thụy Điển và Anh đi buộc tội quyền tự do ngôn luận, lại đã nổi lên một thế lực thi thố quyền uy khủng khiếp của mình dựa trên một cái gì rộng lớn hơn nhiều so với tập tục xã hội, mạnh hơn nhiều so với thế lực của bất kì chế độ chính trị nào. Một tôn giáo lớn trên thế giới đã tuyên án tử hình một nhà văn.

Đến nay, đã hơn ba năm trôi qua, dù ông có đi đâu, dù ông ẩn nấp nơi nào, trên đầu Salma Rushdie luôn lơ lửng lời tuyên án tử hình của đạo Hồi. Không có nơi tị nạn chính trị nào dành cho ông. Mỗi buổi sáng, khi nhà văn này ngồi vào bàn viết, ông không biết liệu mình có thể sống qua ngày hôm đó hay không; ông không biết liệu mình có thể viết xong trang đó hay không. Salman Rushdie là một nhà văn lỗi lạc, và cuốn sách mà vì nó ông đang bị truy đuổi, Những vần thơ quỷ (The Satanic Verses), là một khai phá đầy sáng tạo về những trải nghiệm sâu xa nhất của con người trong thời đại chúng ta, sự chuyển hóa nhân cách giữa hai nền văn hoá pha trộn trong một thế giới hậu thuộc địa. Tất cả được tái thẩm định thông qua sự khúc xạ của trí tưởng tượng; ý nghĩa của tình yêu và lòng hiếu thảo đối với cha mẹ, những nghi lễ xã hội, ý nghĩa của niềm tin tôn giáo đối với cá nhân bị mất đi tính chủ quan bởi cái hoàn cảnh đối lập với những hệ thống tín ngưỡng, tôn giáo và thế tục khác nhau, trong một hoàn cảnh sống khác. Tiểu thuyết của ông là một huyền thoại thực sự. Nhưng mặc dù ông đã đem đến cho nhận thức của châu Âu hậu thuộc địa những gì mà Gunter Grass đã làm đối với nhận thức châu Âu hậu phát xít với Cái trống thiếc và Những năm chó má, và có lẽ đã cố gắng tiến tới những gì mà Beckett đã làm đối với nỗi thống khổ hiện sinh trong Chờ Godot, mức độ thành công của ông không phải là vấn đề. Thậm chí nếu ông là một nhà văn xoàng, tình huống của ông vẫn là mối quan ngại ghê gớm của mỗi nhà văn đồng nghiệp bởi, ngoài cảnh ngộ của cá nhân ông, nó còn báo hiệu những mối đe dọa, hiểm nguy nào nữa đối với những kẻ làm nghề sáng tạo ngôn từ? Nó phải là mối quan ngại của mỗi cá nhân, và trên hết, là mối quan ngại của các chính phủ và tổ chức nhân quyền trên khắp thế giới. Vào một thời mà các chế độ độc tài đã bị đánh bại khắp nơi, các chính phủ dân chủ và Liên Hiệp Quốc cần phải và chỉ có thể coi sự bức chế mới đầy chết chóc này của chủ nghĩa khủng bố quốc tế dưới danh nghĩa một tôn giáo vĩ đại và đáng tôn kính này như một sự xúc phạm đối với nhân loại.

Tôi xin chấm dứt chuyện mối đe dọa ghê rợn khác thường này để quay trở lại với những vấn đề chung cho các nhà văn của thế kỉ XX đang đến hồi kết thúc này. Tại những thể chế áp bức ở bất cứ nơi đâu, khối Xô Viết, Mĩ latinh, Châu Phi hay Trung Quốc - hầu hết những nhà văn bị cầm tù để ngăn chận hoạt động của họ với tư cách là những công dân đấu tranh cho tự do chống lại sự áp bức trên phạm vi toàn xã hội mà họ là thành viên. Một số khác bị những thể chế hà khắc kết án vì đã phục vụ xã hội bằng cách đem hết khả năng của mình để viết; vì những cuộc phiêu lưu mỹ học của chúng ta bị coi là có tính lật đổ khi những bí mật tội lỗi của thời đại chúng ta bị mổ xẻ kỹ lưỡng, với lòng chính trực mang tính phản kháng của người nghệ sĩ đối với tình trạng cuộc sống xung quanh nhà văn; khi đó chủ đề và nhân vật của người viết tất yếu được hình thành từ những áp lực và sự bóp méo của xã hội đó, chẳng khác gì cuộc đời của người đánh cá được định đoạt bởi sức mạnh của biển cả.

Có một nghịch lí. Để gìn giữ lòng chính trực, nhà văn đôi khi phải liều mình trước cả nguy cơ bị chính quyền buộc tội phản quốc lẫn bị các lực lượng giải phóng cho là thiếu tận tâm. Là một con người, không một nhà văn nào có thể khom lưng trước lời lường gạt ‘cân bằng’ kiểu Mani giáo . Tội ác luôn bám theo chân anh, một khi được đặt lên bàn cân. Nhưng, nếu diễn giải lại một cách thô thiển câu nói của Márquez, cả với tư cách nhà văn lẫn người đấu tranh cho công lý, nhà văn phải giành lấy quyền khám phá tận chân tơ kẽ tóc cả kẻ thù lẫn đồng chí, bởi vì chỉ có cố gắng phơi bày sự thực mới mang lại ý nghĩa cho quá trình tồn tại, chỉ có cố gắng tìm hiểu chân lý mới dẫn ta tới công lý sớm hơn con quái vật sắp sửa ra đời của Yeats. Trong văn học, từ cuộc sống,

chúng ta lật giở gương mặt nhau
chúng ta đọc nhau qua từng ánh mắt
... Đã phải mất hàng bao cuộc đời người mới có thể làm điều đó.

Đó là lời của Mongane Serote, một nhà thơ và chiến sĩ đấu tranh cho công lý và hoà bình ở đất nước chúng tôi, Nam Phi.

Nhà văn phục vụ nhân loại chỉ khi anh hay chị ta sử dụng ngôn ngữ dù để chống lại ngay lời thề trung thành của chính mình, khi nhà văn tôn trọng sự thật như chính bản chất của nó, để nắm lấy trong mớ phức hợp từng sợi nhỏ bện nên chuỗi sự thật, để một lúc nào đó có thể kết nối chúng lại với nhau, chỗ này hay chỗ khác, trong nghệ thuật: tin tưởng rằng trạng thái hiện tồn kia luôn mang lại ở nơi nào đó những khúc đoạn của sự thật, lời cuối cùng trong mọi lời nói, không bao giờ thay đổi bởi những nỗ lực chập chững của chúng ta nhằm nói thành lời và viết ra, không bao giờ thay đổi bởi những sự lừa dối, ngụy biện, hay sự vấy bẩn ngôn ngữ vì những mục đích bất chính của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, kì thị giới tính, thành kiến, áp bức, tôn vinh sự hủy diệt, những lời nguyền rủa và bài hát ngợi ca.

*
Tân Đôn và Ngô Tự Lập dịch từ bản tiếng Anh, Trần Tiễn Cao Đăng hiệu đính

© Culture Globe

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Cám ơn bạn đã đọc bài viết. bạn có nhận xét gì về bài viết và quan điểm của bạn hãy để lại vài lời chia sẻ cùng mọi người. Xin lưu ý bạn, các nhận xét không có tính góp ý xây dựng sẽ bị xoá ngay. Các nội dung gõ bằng tiếng Việt, có dấu rõ ràng sẽ không làm người khác hiểu lầm. Xin trân trọng cảm ơn bạn đã ghé thăm blog.Chúa ban phước cho bạn!